Toàn cảnh thị trường sắn tháng 6/2019
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 6/2019

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 06/2019

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Tính đến ngày 15/06/2019, tổng diện tích sắn gieo trồng trên cả nước đạt 360 nghìn ha, tăng 64,9% (tương đương khoảng 141,8 nghìn ha) so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 17,6 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2018.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 05/2019 đạt tương đương so với tháng trước nhưng cao gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2018 với khối lượng đạt trên 13.200 tấn. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam mới chỉ đạt 351 nghìn tấn từ Lào và Campuchia, giảm tới 19% so với cùng kỳ năm 2018.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 05/2019 đạt trên 38.000 tấn, tăng nhẹ so với tháng trước và cao hơn khoảng 17.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, lượng sắn củ tươi Việt Nam đạt 507 nghìn tấn, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 06/2019 chỉ đạt 133,8 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt 53 triệu USD, giảm 8,2% về lượng và giảm 8,4% về giá trị so với tháng trước và giảm 21,1% về lượng so với cùng kỳ tháng 6 năm 2018. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt 1,2 triệu tấn, thu về lượng kim ngạch đạt trên 461,7 triệu USD, giảm 20,5% về sản lượng và giảm 14,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

- Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 06/2019 chỉ đạt trên 18.600 tấn, giảm nhẹ so với tháng trước và giảm tới 40,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung từ ngày 01/01-30/06/2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 200.000 tấn, giảm 335.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh ở cả kênh xuất khẩu đường biển lẫn biên mậu. Theo đó, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu trong tháng 06/2019 chỉ đạt 109.000 tấn, giảm trên 17.000 tấn so với tháng trước và thấp hơn khoảng 21,3% (tương đương 30.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tại khu vực miền Bắc, giá sắn lát bán về các nhà máy TACN tại Hưng Yên, Hải Dương vẫn dao dộng quanh mức 4.900-5.000 đồng/kg. Giá mì lát giao tại cửa khẩu khu vực Lạng Sơn được 5.050 đồng/kg với hàng cồn và 5.400 đồng/kg với hàng cám.

- Tại Quy Nhơn, giá mì cục (loại hàng vốn dùng để xuất khẩu) hiện đang được giao dịch với giá 5.200-5.400 đồng/kg tại kho để bán đi nhà máy cám cá miền Tây.

- Tại cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh), giá mua đối với hàng mì vỏ tại cửa khẩu dao động từ từ 4.850-5.100 đồng/kg, trong đó mức giá 4.850-4.900 đồng/kg áp dụng với hàng mì mới phơi và giá cao nhất 5.100 đồng/kg với hàng kho. Giá mì vỏ bán về các nhà máy cám cá miền Tây dao động từ 5.600-5.700 đồng/kg (hàng giao tháng 6), tương đương giá bán tại kho từ 5.300-5.400 đồng/kg. Đối với hàng mì cục, hiện một số đơn vị còn hàng đang bán cắt kho với giá từ 5.500-5.600 đồng/kg.

- Tại Hoa Lư, giá mì cắt kho bán ra cũng phổ biến ở mức 5.300 đồng/kg với hàng xô cồn và giá 5.500 đồng/kg với hàng mì cám.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, sang tháng 6, giá giảm tiếp 200 đồng/kg so với tháng 5, còn phổ biến từ 2.400-2.500 đồng/kg do chất lượng mì đưa về rất kém, trữ độ bột dưới 20%.

- Tại khu vực Tây Nguyên, hầu hết các nhà máy đều đã nghỉ bảo dưỡng do hết vụ.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 05/2019 chỉ đạt 250.000 tấn, giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 05/2019 giảm mạnh so với tháng trước nhưng vẫn tăng gần 60.000 so với cùng kỳ năm 2018.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/06/2019, tổng diện tích sắn gieo trồng trên cả nước đạt 360 nghìn ha, tăng 64,9% (tương đương khoảng 141,8 nghìn ha) so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 17,6 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2018.

Tây Nguyên là khu vực có diện tích sắn trồng mới tăng mạnh nhất cả nước với mức tăng lên tới 307,7% so với tháng trước do thời tiết tại khu vực này bắt đầu bước vào mùa mưa nên người dân tranh thủ xuống giống sắn vụ mới vụ mới. Năm nay do thời tiết nắng nóng và khô hạn kéo dài nên tiến độ gieo trồng sắn tại Tây Nguyên bị trễ tới hơn 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, tức kể từ đầu tháng 5 người dân mới có thể gieo trồng, trong khi một số vùng trồng sớm trong giai đoạn cuối tháng 3 thì có tới 80-90% phải trồng lại do bị chết hom. Điều này đồng nghĩa với tiến độ thu hoạch sắn củ tươi tại Tây Nguyên năm nay cũng sẽ muộn hơn so với năm trước.

Tính đến ngày 15/06/2019, Gia Lai là địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích sắn được gieo trồng, đạt 50.000 ha, cao gấp hơn 8 lần so với tháng trước và đạt tương đương so với cùng kỳ năm 2018. Tiếp đến là tỉnh Tây Ninh với hơn 40.000 ha, tăng 22% so với tháng trước nhưng giảm 6,4% so với cùng kỳ tháng 6/2018. Tuy nhiên, theo thông tin AgroMonior tham khảo từ các thương nhân thì diện tích sắn gieo trồng vụ mới thực tế tại Tây Nguyên và Tây Ninh tăng rất mạnh, thậm chí tại một số vùng, diện tích có thể tăng gấp đôi so với năm trước. Nguyên nhân là do người dân lo ngại tình hình sản xuất đường gặp khó khăn trong năm tới khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường đường nên nông dân khu vực Tây Nguyên và Tây Ninh đang chặt bỏ mía rất nhiều và có xu hướng chuyển sang trồng sắn, làm tăng diện tích sắn vụ 2019/2020.

Theo Cục BVTV, tính đến cuối tháng 6/2019, diện tích sắn nhiễm bệnh khảm lá virus trên cả nước đã tăng lên gần 36.870 ha, tăng 5.800ha so với cùng kỳ năm trước. Bệnh khảm lá đang gây hại tại 15 tỉnh, thành trên cả nước.

Ở Tây Ninh, bệnh khảm lá tiếp tục phát sinh gây hại diện tích vụ đông xuân 2018 - 2019 và hè thu 2019 với diện tích 34.723 ha. Tuy mức độ lây nhiễm nhẹ và triệu chứng bệnh có giảm nhưng cũng có gần 70% diện tích sắn bị lây nhiễm.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến 15/06/2019 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/06/2019

103,2

256,8

360,0

15/05/2019

84,3

134,0

218,3

15/06/2018

107,3

270,3

377,6

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

22,4

91,7

64,9

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-3,8

-5,0

-4,6

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến 15/06/2019 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 05/2019 đạt tương đương so với tháng trước nhưng cao gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2018

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam trong tháng 5/2019 đạt trên 38.000 tấn, tăng nhẹ so với tháng trước và cao hơn khoảng 17.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, lượng sắn củ tươi Việt Nam đạt 507 nghìn tấn, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng mì củ nhập khẩu từ Campuchia đạt 455,4 nghìn tấn, chiếm 90% tổng sản lướng sắn củ tươi nhập khẩu về Việt Nam trong 5 tháng đầu năm, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, dù lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Lào về Việt Nam tính đến hết tháng 5/2019 chỉ đạt trên 51.000 tấn, chiếm khoảng 10% tổng lượng sắn tươi nhập khẩu của Việt Nam nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2018 thì mức tăng lên tới 387,9%, tức tăng gấp gần 5 lần, trong đó nhiều nhất là qua cửa khẩu Quốc tế Bờ Y (Kon Tum) với hơn 28.000 tấn. Tại cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) và cửa khẩu La Lay (Quảng Trị), lượng mì tươi về cũng tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Đối với sắn lát, lượng nhập khẩu về Việt Nam trong tháng 5/2019 đạt tương đương so với tháng trước nhưng cao gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2018 với khối lượng đạt trên 13.200 tấn. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam mới chỉ đạt 351 nghìn tấn từ Lào và Campuchia, giảm tới 19% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó nguồn cung nhập khẩu từ Campuchia giảm mạnh 26,2% (khoảng 100.000 tấn) nhưng lại tăng tới 39,2% với nguồn mì lát nhập khẩu từ Lào. Như đã đề cập ở trên, năm nay do giá sắn củ tươi của Việt Nam và Thái Lan luôn duy trì ở mức cao nên người dân Campuchia có xu hướng bán sắn tươi nhiều hơn. Đồng thời, do giá sắn củ tươi cao nên năm nay chủng loại sắn lát từ Campuchia đưa về Việt Nam chủ yếu là hàng mì vỏ, chất lượng kém hơn (độ ẩm cao hơn) so với những năm trước, trong khi đó hàng mì cám về rất ít và giá giao dịch tại cửa khẩu tăng cao.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Sản lượng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam giảm 4 năm liên tiếp vào năm 2019 với mức giảm lên tới 62,4% so với cùng kỳ năm trước khi chỉ đạt trên 200.000 tấn (tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019) và đây được ghi nhận con số xuất khẩu thấp nhất trong hơn 12 năm qua. Nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc giảm mạnh do giá cồn nội địa tại Trung Quốc luôn duy trì ở mức thấp, đồng thời căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có tác động mạnh mẽ đến ngành công nghiệp cả nước này: 1, Các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 2, Chi phí sản xuất tăng cao khi đồng nội tệ mất giá mạnh so với đô la Mỹ; 3, Nguồn cung sắn lát của Việt Nam đạt thấp, giá sắn lát giao dịch nội địa cao nên các doanh nghiệp trong nước cũng không mặn mà với kênh xuất khẩu, đặc biệt là đi thị trường Trung Quốc.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

156,163

37,709

-75.9

2

90,454

25,289

-72.0

3

158,534

56,832

-64.2

4

51,424

43,853

-14.7

5

47,586

18,850

-60.4

6

31,087

18,606

-40.1

7

19,070

   

8

11,917

   

9

32,879

   

10

21,446

   

11

28,910

   

12

9,818

   

Tổng

659,288

201,138

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (06*/2019: số liệu sơ bộ)

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T6*/2019: số liệu sơ bộ)

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2019 (tấn)

Nước nhập

1

2

3

4

5

6

Tổng

China

36,625

12,594

42,466

29,997

14,868

3,167

139,717

Indonesia

   

1,026

1,381

982

 

3,388

Korea (Republic)

1,084

12,667

13,340

12,448

3,038

14,601

57,178

Malaysia

 

27

 

27

   

54

Singapore

         

838

838

Tổng

37,709

25,289

56,832

43,853

18,887

18,606

201,175

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp, trong tháng 06/2019, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu chỉ đạt 109.000 tấn, giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Trong đó khoảng 100.000 tấn (chiếm 91,4%) được xuất qua Trung Quốc và chỉ có 9.300 tấn xuất sang các thị trường khác. Điều này cho thấy rằng, không chỉ riêng Trung Quốc, nhu cầu tiêu thụ từ các thị trường ngoài Trung Quốc cũng có sự suy giảm khá mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước.

Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 960.000 tấn, tăng 2,3% (tương đương khoảng 22.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

222,883

210,385

-5.6

2

81,310

105,986

30.3

3

173,036

210,360

21.6

4

145,793

198,539

36.2

5

177,686

126,628

-28.7

6

138,816

109,222

-21.3

7

93,397

   

8

78,095

   

9

117,305

   

10

160,492

   

11

188,655

   

12

169,773

   

Tổng

1,747,239

961,121

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T6*: số liệu sơ bộ)

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T6*: số liệu sơ bộ)

Sang tháng 6, nhập khẩu tinh bột sắn của Trung Quốc tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do Trung Quốc bắt đầu bước vào mùa nắng nóng cao điểm nên nhu cầu tiêu thụ thực phẩm yếu hơn. Ngoài ra, nhiều nhà máy chưa thể chạy lại do chính sách kiểm soát ô nhiễm môi trường, cộng thêm căng thẳng thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang khiến ngành công nghiệp của Trung Quốc bị ảnh hưởng nặng nề, các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính nên chỉ mua nguyên liệu đủ chạy chứ không mua dự trữ nhiều như trước đây.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2019 (tấn)

Thị trường

1

2

3

4

5

6

Tổng

China

195,379

98,782

200,737

189,000

113,847

99,883

897,628

Malaysia

4,936

3,700

1,414

2,857

3,856

2,441

19,204

Philippines

5,079

1,158

3,155

2,264

2,283

2,533

16,472

Taiwan

2,709

2,028

2,176

2,770

3,113

2,857

15,653

Korea (Republic)

102

 

450

450

445

331

1,778

Papua New Guinea

     

95

1,515

 

1,610

South Africa

304

76

18

228

180

389

1,195

Senegal

171

56

435

323

209

 

1,194

Lithuania

73

 

969

 

152

 

1,194

Indonesia

608

   

228

   

836

Khác

1,024

186

1,006

324

1,029

789

4,358

Tổng

210,385

105,986

210,360

198,539

126,628

109,222

961,121

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Sang tháng 6, các giao dịch sắn lát tại thị trường nội địa đều là giao dịch bán ra do nguồn cung mì lát từ các nguồn: Gia Lai và Campuchia đều đã cạn.

Trong tháng 6, mì lát từ Campuchia chỉ còn đưa về cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh) với lượng bình quân đạt khoảng 200 tấn/ngày với giá mua tại cửa khẩu ở mức 4.850-4.900 đồng/kg với hàng mì mới phơi và cao nhất 5.100 đồng/kg với hàng mì cũ. Giá mì vỏ bán về các nhà máy cám cá miền Tây dao động từ 5.600-5.700 đồng/kg (hàng giao tháng 6), tương đương giá bán tại kho từ 5.300-5.400 đồng/kg. Đối với hàng mì cục, hiện một số đơn vị còn hàng đang bán cắt kho với giá từ 5.500-5.600 đồng/kg.

Tại Quy Nhơn, giá mì cục (loại hàng vốn dùng để xuất khẩu) hiện đang được giao dịch với giá 5.200-5.400 đồng/kg tại kho để bán đi nhà máy cám cá miền Tây.

Tại Bình Phước, giá mì cắt kho bán ra cũng phổ biến ở mức 5.300 đồng/kg với hàng xô cồn và giá 5.500 đồng/kg với hàng mì cám.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu tại khu vực Quy Nhơn và Tây Ninh trong năm 2017-2019 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Sang tháng 6, giá sắn củ tươi tại Tây Ninh tiếp tục giảm do chất lượng mì đưa về kém hơn, nguồn cung mì đất ruộng dồi dào hơn bởi người dân tranh thủ nhổ mì tránh ngập úng và kịp tiến độ gieo xạ lúa Hè thu. Trong khi đó, hầu hết nhà máy chế biến tinh bột sắn tại Tây Ninh đã nghỉ bảo dưỡng hoặc chạy cầm chừng do đầu ra xuất khẩu khó khăn, theo đó giá mì đưa về nhà máy giảm còn phổ biến từ 2.400-2.500 đồng/kg vào tuần cuối tháng 6, đầu tháng 7, tức giảm tới 200 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tuy nhiên, sang đến đầu tháng 7, giá mì củ có xu hướng tăng trở lại do nhiều nhà máy tại Tây Ninh hoạt động trở lại sau thời gian dài nghỉ bảo dưỡng, trong khi nguồn cung mì nội vùng lẫn nhập khẩu đạt thấp.

Tại khu vực Tây Nguyên và miền Bắc, hầu hết các nhà máy đều đã nghỉ bảo dưỡng do hết vụ.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018-2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 05/2019 chỉ đạt 250.000 tấn, giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê chính thức từ hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 05/2019, nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc chỉ đạt 250 nghìn tấn, giảm 50% so với tháng trước và thấp hơn 21,9% so với cùng kỳ tháng 5/2018. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc chỉ đạt 1,74 triệu tấn, thấp hơn nhiều so với con số 3,05 triệu tấn của cùng kỳ năm 2018.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

10

320.0

 

 

11

270.0

 

 

12

270.0

 

 

2019

1

370.0

 

 

2

300.0

 

 

3

320.0

 

 

4

500.0

 

 

5

250.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 04/2019 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước, trong khi xuất khẩu sắn lát lại tăng vọt tới 45% so với tháng 3

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu sắn lát của nước này trong tháng 05/2019 đạt trên 340,7 nghìn tấn, giảm gần 100.000 tấn so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn 60 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng sắn lát xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 340,2 nghìn tấn và chỉ có hơn 504 tấn xuất sang Indonesia. Tính chung trong 5 tháng đầu năm, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan đạt 1,64 triệu tấn, thấp hơn 800.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

Tương tự, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan cũng tiếp tục giảm trong tháng 5/2019 khi chỉ đạt 194,7 nghìn tấn, giảm 0,8 nghìn tấn so với tháng 4 nhưng cao hơn 30,5 nghìn tấn so với tháng 5/2018. Tính từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2019, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 1,36 triệu tấn, tăng 214 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trên 734,4 nghìn tấn, chiếm 53,8% tổng thị phần xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong 5 tháng đầu năm 2019. So vứi cùng kỳ năm 2018, năm nay sản lượng tinh bột sắn Trung Quốc nhập khẩu từ Thái Lan tăng tới 28,7%, tương đương khoảng 164.000 tấn. Indonesia là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn thứ 2 của Thái Lan tính đến hết tháng 5/2019 với tổng khối lượng đạt gần 186.000 tấn, tăng 50,1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi đó sản lượng tinh bột sắn Indonesia nhập khẩu từ Việt Nam giảm tới 95,7% từ mức 19.400 tấn năm 2018 xuống còn 836 tấn (tính đến hết tháng 5/2019).

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

10

279.0

311.3

11

270.2

281.9

12

209.1

231.9

2019

           

1

265.0

293.2

2

297.4

351.5

3

300.6

330.5

4

436.0

195.5

5

340.7

194.7

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Sang tháng 6, giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan tiếp tục có diễn biến trái chiều.

Trong đó, giá xuất khẩu sắn lát vẫn duy trì đà tăng mạnh kể từ tuần cuối tháng 5, đầu tháng 6 do giá ngô tăng cao và giá chào xuất khẩu của Việt Nam tăng trong bối cảnh tồn kho nội địa mỏng và nhu cầu mua từ Trung Quốc nhiều hơn. Theo đó, giá chào được đẩy tăng lên mức 235-240 USD/tấn FOB vào tuần đầu tháng 7, tức cao hơn 15 USD so với cùng kỳ tháng trước.

Đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan duy trì xu hướng giảm nhẹ trong tuần đầu tháng 6 và tiếp tục đi ngang đến hết tháng 6 và nửa đầu tháng 7 do nhu cầu tiêu thụ từ thị trường Trung Quốc chậm hơn do đang trong mùa nắng nóng cao điểm tại nước này. Tính đến tuần đầu tháng 7, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan vẫn giữ 440 USD/tấn FOB, tức giảm 5 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước và giảm tới 60 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên, theo tin từ thương nhân, mức giá bán thực tế của Thái Lan có thể thấp hơn nhiều so với mức giá chào của Hiệp hội, tức có thể chỉ dao động quanh mức 410-420 USD/tấn FOB.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2017-2019 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đối với sắn lát, giá xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan tiếp tục tăng do nhu cầu hỏi mua từ phía Trung Quốc tốt hơn, trong khi lượng tồn kho nội địa mỏng, giá sắn lát tại thị trường nội địa tăng cao. Ngoài ra, những thông tin bất lợi về thời tiết và dịch sâu bướm mùa thu có thể khiến sản lượng ngô của Mỹ và một số nước châu Á như: Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Ấn Độ…bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng khiến giá ngô thế giới duy trì đà tăng mạnh trong thời gian gần đây cũng hỗ trợ phần nào cho đà tăng của giá xuất khẩu sắn lát.

Đối với tinh bột sắn, mặc dù áp lực tồn kho không lớn nhưng trong bối cảnh thị trường ảm đạm như hiện nay, nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc và ngoài Trung Quốc đang rất chậm do chưa phải mùa sản xuất và tiêu thụ cao điểm. Ngoài ra, đà giảm giá liên tục của Thái Lan trong vài tuần gần đây cũng tạo áp lực lên giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh xuất khẩu qua kênh biên mậu không còn chiếm lợi thế đối với hàng hóa của Việt Nam sau khi Trung Quốc tiến hành giảm thuế nhập khẩu 3% với hàng chính ngạch và xóa bỏ ưu đãi với cư dân biên giới khiến giá hàng hóa xuất khẩu qua khu vực này kém cạnh tranh hơn so với kênh đường biển. Theo nhận định của AgroMonitor, giá xuất khẩu sắn của Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng giảm đến hết tháng 7, trước khi nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc tăng trở lại cho mùa sản xuất cồn và thực phẩm trong những tháng cuối năm.

Tin liên quan Vay tín chấp