Tôm 8/2018 - Giá tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục tăng trong khi đó tôm sú sụt giảm

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Tôm 8/2018 - Giá tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục tăng trong khi đó tôm sú sụt giảm

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 8

Thị trường thế giới

  • Theo Jaime Soriano, giám đốc điều hành của công ty Mariscos Dagustin, từ tháng 9 đến cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11/2018, giá tôm toàn cầu sẽ tăng lên, do nhu cầu tăng từ Trung Quốc cho dịp Tết Nguyên đán, và từ châu Âu cho lễ Giáng sinh. Tại Mỹ, tiêu thụ tôm có xu hướng tăng từ kỳ nghỉ hè.
  • Trong tháng 8/2018, FDA đã từ chối 6 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn trong đó 1 đơn hàng từ Malaysia và 5 đơn hàng từ Ấn Độ.
  • Hiệp hội nông dân nuôi tôm của Thái Lan cho biết số lượng nông dân nuôi tôm trong nước dự kiến sẽ giảm còn 6.000 hộ trong những năm tới so với con số 7.000 hộ trong năm 2018, khi các trang trại củng cố và phát triển theo hướng quy mô hơn

Thị trường Việt Nam

  • DOC giảm thuế chống bán phá giá đợt POR12 đối với mặt hàng tôm đông lạnh của Việt Nam
  • Trong 8 tháng năm 2018, tại ĐBSCL diện tích tôm thẻ ước đạt 61,76 nghìn ha giảm 2,8%, sản lượng ước đạt 191,39 nghìn tấn tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2017
  • Giá tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục tăng trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9 trong khi đó tôm sú sụt giảm.
  • Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 8 năm 2018 đạt 30.947 tấn, kim ngạch 334,92 triệu USD giảm 2,02% về lượng và giảm 19,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

 

PHẦN 1: CÂN ĐỐI CUNG CẦU TÔM SÚ 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2018

Thị trường tôm Việt Nam đầu tháng 9 vẫn tiếp tục với xu hướng suy giảm giá của tôm sú nguyên liệu. Nguồn cung tôm sú từ tháng 8 gia tăng và mặc dù nhu cầu vẫn khả quan nhưng giá tôm vẫn sụt giảm mạnh. Theo ghi nhận tại chợ Bình Điền (Sài Gòn), đầu tháng 9 lượng tôm bán tại chợ khá mạnh, trung bình mỗi đêm có khoảng 170-200 tấn giao dịch trong đó tôm sú chiếm khoảng 50%. Lượng tiêu thụ này lớn hơn mức trung bình khoảng 50 tấn do đang giai đoạn chính vụ thu hoạch tôm sú (trung bình khoảng 120 tấn/ngày). Ngoài ra, tôm sú cũng được công ty Ba Miền và các cơ sở chế biến thu mua tại ĐBSCL khá mạnh để xuất nội địa (xuất cả nước). Như vậy, tính chung 8 tháng đầu năm 2018, tiêu thụ tôm sú nội địa khoảng 92 nghìn tấn tăng 2,56% so với cùng kỳ năm 2018.

Sản lượng tôm sú sản xuất trong 8 tháng đầu năm 2018 cũng đã tăng 2,2% lên mức 163,5 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2017. Sự gia tăng nguồn cung tôm sú một phần do giá tôm thẻ đã sụt giảm nghiêm trọng nên một số hộ nuôi đã chuyển đổi cơ cấu thả nuôi thẻ-sú kể từ tháng 5/2018. Một số khu vực đã chuyển sang thả nuôi tôm sú như Vĩnh Châu, Vĩnh Trạch (Sóc Trăng) diện tích thả nuôi tôm sú chiếm tới 70-80% dẫn tới sự gia tăng mạnh sản lượng tôm sú cỡ nhỏ (100-50 con/kg) trong tháng 8-9 trong khi sản lượng tôm sú cỡ lớn vẫn chưa nhiều do đó giá sú cỡ nhỏ sụt giảm mạnh trong tháng 8.

Xuất khẩu tôm sú thành phẩm trong 8 tháng đầu năm 2018 ước đạt 36,38 nghìn tấn giảm nhẹ so với mức 36,44 nghìn tấn cùng kỳ năm 2017. Với lượng tôm sú thành phẩm xuất khẩu trên sẽ tương đương với lượng tôm sú nguyên liệu 49,5 nghìn tấn (16,89 nghìn tấn từ chính ngạch Trung Quốc và 32,58 nghìn tấn từ thị trường khác) giảm 3,18% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu tôm sú tiểu ngạch sang Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm khoảng 5,4 nghìn tấn thành phẩm tương đương 5,9 nghìn tấn nguyên liệu do xuất khẩu tiểu ngạch chủ yếu là tôm sú sơ chế bỏ đầu đông lạnh nên hệ số chế biến chỉ khoảng 1.1 lần.

Như vậy, tồn kho cuối tháng 8/2018 đã tăng 27 nghìn tấn so với cùng thời điểm năm 2017 lên mức 74 nghìn tấn. Tồn kho cao là nguyên nhân kéo giá tôm sú đầu tháng 9 tiếp tục ở mức thấp:

  • Đối với tôm sú đá khu vực Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau: thương lái mua tại đầm cỡ 30 con/kg ở mức 150.000-160.000 đ/kg, cỡ 40 con/kg ở mức 115.000 đ/kg, cỡ 50 con/kg ở mức 105.000 đ/kg, cỡ 100 con/kg ở mức 75.000 đ/kg.
  • Đối với tôm sú oxy giao dịch tại chợ Bình Điền: thương lái bán tôm sú sống cỡ 30 con/kg ở mức 180.000-190.000 đ/kg.

Cân đối cung cầu tôm sú nguyên liệu trong 8 tháng đầu năm 2018, tấn

Chỉ tiêu

8T 2018

8T2017

% thay đổi

Tồn kho đầu kỳ

             51,942

               30,000

73.14

Sản lượng tôm sú thu hoạch (tôm nguyên liệu)

           163,500

              160,000

2.19

Nhập khẩu tôm sú

               4,134

                 2,836

45.75

Tiêu thụ nội địa tôm sú

             91,525

               89,250

2.55

Xuất khẩu tôm sú không bao gồm Trung Quốc - quy đổi ra tôm NL 1.55

             32,589

               37,955

-14.14

Xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc - quy đổi ra tôm NL 1.1

             16,892

               13,150

28.46

Xuất khẩu tiểu ngạch tôm sú - quy đổi ra tôm nguyên liệu 1.1

               5,927

                 5,890

0.63

Tồn kho cuối kỳ

             72,643

               46,591

55.92

Nguồn: AgroMonitor ước tính

Ghi chú: Xuất khẩu tôm sú sang Trung Quốc chủ yếu là tôm nguyên con bỏ đầu đông lạnh (sơ chế) do đó hệ số chế biến khoảng 1,1 lần. Trong khi đó các thị trường khác hệ số 1,55 lần.

Diễn biến giá tôm sú tại Sóc Trăng-Bạc Liêu-Cà Mau năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Thị trường tôm Thái Lan
1.1. Diễn biến giá

Sau khi tăng trong 2 tháng đầu năm 2018, giá tôm Thái Lan đã liên tục quay đầu giảm mạnh trong tháng 3 và tháng 4 đối với tất cả các kích cỡ. Xu hướng giảm giá này tiếp tục kéo dài đến trung tuần tháng 5. Tuy nhiên, nhờ những biện pháp hỗ trợ giá tôm Thái Lan đã tăng mạnh trở lại từ cuối tháng 5 đến hết tháng 6. Xu hướng tăng tiếp tục kéo dài sang tháng 7/2018. Đến tháng 8, giá tôm tại Thái Lan đã quay đầu giảm nhẹ trở lại.

Hiệp hội nông dân nuôi tôm của Thái Lan cho biết số lượng nông dân nuôi tôm trong nước dự kiến sẽ giảm còn 6.000 hộ trong những năm tới so với con số 7.000 hộ trong năm 2018, khi các trang trại củng cố và phát triển theo hướng quy mô hơn. Khu vực nuôi tôm của Thái Lan đã giảm đáng kể số hộ nuôi tôm khi hội chứng tôm chết sớm xảy ra ở Trung Quốc và Đông Nam Á trong giai đoạn 2009-2013. Trước khi dịch xảy ra, có 25.000 nông dân nuôi tôm ở Thái Lan, nhưng hầu hết đều nuôi ao nhỏ, đến nay có 7.000 hộ và con số này có thể sẽ giảm còn 6.000 nông dân. Tuy nhiên nhiều trang trại đã đạt quy mô trung bình, sử dụng kỹ thuật canh tác hiện đại và được điều hành bởi những người nông dân có tay nghề cao.

Tính trung bình tháng 8/2018, giá tôm thẻ Thái Lan cỡ 100 con/kg đạt 121 baht/kg, giảm 8 bath/kg, trong khi giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg có mức 142 baht/kg, giảm 2 bath/kg so với trung bình tháng 7/2018.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg và 100 con/kg tại trang trại Thái Lan năm 2017-2018, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Thương mại

Theo số liệu hải quan Thái Lan, xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong 7 tháng năm 2018 đạt 31.884 tấn, trị giá 8,72 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Mỹ; Nhật Bản lớn nhất đạt 2,79 tỷ baht và 1,93 tỷ baht.

Xuất khẩu tôm sú trong 7 tháng năm 2018 đạt 6.703 tấn, trị giá 1,6 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc; Nhật Bản lớn nhất trong 7 tháng năm 2018 đạt 781,33 triệu baht và 301,67 triệu baht.

CEO Robins McIntosh, của Charoen Pokphand Foods, Thái Lan cho biết các nhà sản xuất không nên chỉ tập trung bán hàng cho thị trường Trung Quốc. Mặc dù ngành nuôi tôm nội địa của Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, nhưng như vậy không có nghĩa rằng nó không thể phục hồi trong tương lai.

Lượng và trị giá xuất khẩu tôm sú của Thái Lan trong 7 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

Năm 2017

Năm 2018

% thay đổi 2018 so với 2017

Tháng

 Lượng, tấn

 Trị giá, Bath

 Lượng, tấn

 Trị giá, Bath

 Lượng

 Trị giá

1

1,068

316,785,695

918

235,743,896

-13.98

-25.58

2

861

262,353,619

1,159

278,578,728

34.57

6.18

3

1,134

406,726,298

1,047

233,842,405

-7.69

-42.51

4

935

292,756,713

883

202,679,716

-5.54

-30.77

5

1,329

374,868,857

1,115

244,466,120

-16.11

-34.79

6

826

259,061,467

892

219,503,418

8.04

-15.27

7

609

185,796,837

688

180,867,533

13.01

-2.65

Tổng

6,762

2,098,349,486

6,703

1,595,681,816

-0.87

-23.96

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Lượng và trị giá xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong 7 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

Năm 2017

Năm 2018

% thay đổi 2018 so với 2017

Tháng

 Lượng, tấn

 Trị giá, Bath

 Lượng, tấn

 Trị giá, Bath

 Lượng

 Trị giá

1

4,287

1,241,103,385

4,454

1,209,283,803

3.90

-2.56

2

4,418

1,320,636,450

3,814

968,728,407

-13.67

-26.65

3

5,631

1,592,033,074

4,608

1,334,299,006

-18.17

-16.19

4

5,721

1,571,282,801

4,019

1,114,468,832

-29.76

-29.07

5

7,399

2,111,041,601

4,862

1,318,345,411

-34.29

-37.55

6

7,696

2,298,234,066

5,358

1,467,735,550

-30.37

-36.14

7

7,094

2,144,243,521

4,769

1,307,346,028

-32.78

-39.03

Tổng

42,247

12,278,574,898

31,884

8,720,207,037

-24.53

-28.98

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Xuất khẩu tôm sú của Thái Lan theo thị trường trong 7 tháng năm 2018, baht

Thị trường

7 tháng năm 2018

China

781,332,382

Japan

301,674,402

United States

138,227,692

Hong Kong

93,679,264

Myanmar

74,922,300

Vietnam

65,364,628

Canada

59,444,243

Malaysia

21,213,480

Korea,Republic Of

13,440,616

Taiwan, Province Of China

10,386,566

Khác

35,996,243

Tổng

1,595,681,816

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan theo thị trường trong 7 tháng năm 2018, baht

Thị trường

7 tháng năm 2018

United States

2,787,112,703

Japan

1,934,339,988

Hong Kong

562,671,804

Canada

551,391,100

Malaysia

502,320,257

China

457,886,565

Vietnam

359,881,363

Korea,Republic Of

342,156,369

United Kingdom

326,805,184

Taiwan, Province Of China

177,976,062

Khác

717,665,642

Tổng

8,720,207,037

Nguồn: TCHQ Thái Lan

2. Thị trường tôm Trung Quốc
2.1. Diễn biến giá

Tại thị trường nội địa Trung Quốc, sau khi tăng mạnh trong quí 1/2018, giá tôm thẻ thu mua nội địa đã quay đầu giảm liên tục trong quí 2/2018. Xu hướng giảm tiếp tục kéo dài sang tháng 7/2018. Đến tháng 8, giá tôm thẻ nội địa Trung Quốc đã có dấu hiệu tăng nhẹ.

Trung bình tháng 8/2018, giá tôm cỡ 80 con/kg tại Chương Châu (Phúc Kiến) đạt mức 23,8 NDT/kg, tăng 0,6 NDT/kg so với trung bình tháng 7/2018. Trong khi giá tôm cỡ 100 con/kg tại Chương Châu (Phúc Kiến) ở mức 19,7 NDT/kg, tăng 0,7 NDT/kg so với trung bình tháng 7/2018.

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 100 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 80 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2.2. Thương mại

Trong 7 tháng năm 2018, xuất khẩu tôm sú tươi và đông lạnh của Trung Quốc đạt 6.267 tấn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tôm đông lạnh còn vỏ của nước này trong 7 tháng năm 2018 đạt 32.028 tấn giảm 9,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Đợt đánh thuế tiếp theo của chính quyền Tổng thống Donald Trump đối với hải sản Trung Quốc vẫn chưa có hiệu lực nhưng nó đã khiến nhiều nhà nhập khẩu của Mỹ hủy đơn đặt hàng. Tại Hội chợ Seafood Expo Asia, ở Hong Kong trong đầu tháng 9, các công ty thủy sản Trung Quốc cho biết các nhà nhập khẩu Mỹ đang lo ngại các chuyến hàng của họ sẽ không đến đúng hạn và đã dừng đặt hàng. Nếu bị Mỹ áp thuế quan, nhiều công ty thủy sản ở Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề và họ đang tìm kiếm các thị trường khác như Hong Kong và Singapore để thay thế.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 7/2018, (tấn, 1000 USD)

 

T7/2018

7T 2018

% thay đổi 7T 2018 so với 7T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

8,540

74,261

49,845

392,760

28.1

61.4

Frozen fish or fish fillet

160,000

584,817

1,070,000

3,759,740

4.9

16.2

Fresh or frozen prawns

854

8,988

6,267

64,917

-2.4

8.2

Frozen shelled shrimps

4,733

58,531

32,028

365,095

-9.1

-3.1

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 7/2018, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T7/2018

7T 2018

% thay đổi 7T 2018 so với 7T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

130

312,618

1,240

2,338,138

-8.9

20.3

Fish flour for animal feeding

220

348,685

790

1,224,910

0.0

14.1

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường tôm Mỹ
3.1 Thương mại

Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 7/2018 đạt 55,95 nghìn tấn giảm 8,31% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 7 tháng năm 2018 đạt 358,49 nghìn tấn tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó Ấn Độ xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ đạt 124,95 nghìn tấn tăng 17,66% so với cùng kỳ 2017. Indonesia xếp thứ 2 và Ecuador xếp vị trí thứ 3 với lượng lần lượt đạt tương ứng 75,29 nghìn tấn (tăng 12,42%); 42,91 nghìn tấn (giảm 2,25%). Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ 4 vào Mỹ trong 7 tháng năm 2018.

Đại diện thương mại Mỹ (USTR) đang đề xuất 1 bản danh sách dài 205 trang các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ bị áp thuế ước tính trị giá hơn 200 tỷ đô la, bao gồm nhiều mặt hàng thủy sản và được dự đoán sẽ có hiệu lực vào đầu tháng 10/2018.

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 7/2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

T7/2018

T7/2017

% thay đổi

India

23,512

20,500

14.69

Indonesia

9,331

10,603

-12.00

Ecuador

5,894

6,889

-14.44

Vietnam

4,444

5,689

-21.88

China

4,293

4,556

-5.77

Thailand

3,301

7,278

-54.64

Honduras

883

356

148.03

Peru

758

1,017

-25.47

Argentina

756

876

-13.70

Mexico

622

872

-28.67

Khác

2,158

2,385

-9.52

Tổng

55,952

61,021

-8.31

 Nguồn: NOAA

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 7 tháng năm 2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

7T 2018

7T 2017

% thay đổi

India

124,953

106,194

17.66

Indonesia

75,285

66,967

12.42

Ecuador

42,907

43,896

-2.25

Vietnam

25,943

28,146

-7.83

Thailand

24,799

37,153

-33.25

China

24,213

24,417

-0.84

Mexico

8,421

8,214

2.52

Peru

6,380

6,788

-6.01

Argentina

5,899

6,596

-10.57

Guyana

5,736

7,211

-20.45

Khác

13,958

11,466

21.73

Tổng

358,494

347,048

3.30

Nguồn: NOAA

 

PHẦN 3: HỘI NHẬP – THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ – RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TÔM VIỆT NAM
1. DOC giảm thuế chống bán phá giá đợt POR12 đối với mặt hàng tôm đông lạnh của Việt Nam

Ngày 11/9 Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã thông báo kết quả cuối cùng vụ kiện chống bán phá giá cho tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 12 (POR12) từ ngày 1/2/2016 - 31/1/2017. Theo các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (Fimex VN) – bị đơn bắt buộc duy nhất của đợt xem xét hành chính lần này có mức thuế là 4,58%. Đây cũng là mức thuế áp dụng cho hơn 30 doanh nghiệp tôm Việt Nam còn lại là bị đơn của vụ kiện. Như vậy, so với mức thuế sơ bộ của POR12 được DOC đưa ra hồi đầu tháng 3/2018 là 25,76%, thì mức thuế cuối cùng này đã được giảm đáng kể.

2. Trong tháng 8/2018, FDA đã từ chối 6 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn trong đó 1 đơn hàng từ Malaysia và 5 đơn hàng từ Ấn Độ

Ngày 06/09/2018, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin về các đơn hàng bị từ chối nhập khẩu trong tháng 8/2018. Trong số 107 đơn hàng nhập khẩu thủy sản bị từ chối thì tôm chiếm 5,6% với 6 đơn hàng do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 8/2018 đến từ Malaysia (1 đơn hàng) và Ấn Độ (5 đơn hàng).

Các công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 8/2018

Nước

Tên công ty

Malaysia

OceanBest (M) Sdn. Bhd. (Malaysia) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y và phụ gia không an toàn)

Ấn Độ

Royale Marine Impex Pvt. Ltd. (India) (4 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Edhayam Frozen Foods PVT Ltd. (India) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc kháng sinh Chloramphenicol)

Nguồn: shrimpalliance

Như vậy tính chung trong 8 tháng năm 2018, FDA đã từ chối tổng cộng 33 đơn hàng tôm do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Cũng trong tháng 8/2018, FDA đã thông báo từ chối 2 đơn hàng tôm do nhiễm khuẩn Salmonella, tất cả đều xuất xứ từ Ấn Độ. Tổng số đơn hàng tôm bị FDA từ chối do nhiễm Salmonella hiện đã lên đến con số 62, với 56 đơn hàng bắt nguồn từ Ấn Độ.

Số đơn hàng tôm và hải sản bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ theo tháng trong năm 2017-2018

Tháng/năm

Số đơn hàng tôm bị từ chối

Số đơn hàng hải sản bị từ chối

9/2017

3

76

10/2017

4

63

11/2017

1

62

12/2017

1

105

1/2018

1

116

2/2018

3

156

3/2018

5

135

4/2018

3

116

5/2018

8

111

6/2018

5

118

7/2018

2

157

8/2018

3

107

Nguồn: shrimpalliance

Số lượng đơn hàng tôm bị FDA từ chối nhập khẩu vào Mỹ từ 2002 -2018

Nguồn: shrimpalliance

PHẦN 4:  SẢN XUẤT

Theo báo cáo tháng 8/2018 của Bộ NN&PTNT, diện tích và sản lượng tôm nước lợ tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cụ thể như sau:

  • Đối với tôm sú: Trong 8 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 553,43 nghìn ha giảm 0,1%, sản lượng ước đạt 157,97 nghìn tấn tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2017.
  • Đối với tôm thẻ: Trong 8 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 61,76 nghìn ha giảm 2,8%, sản lượng ước đạt 191,39 nghìn tấn tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Diện tích và sản lượng tôm tại ĐBSCL trong 8 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

 8 tháng năm 2018

So sánh năm 2018 với năm 2017 (%)

 

Tôm sú

Tôm thẻ

Tôm sú

Tôm thẻ

Đơn vị

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Tổng số

 

192,391.4

 

237,072.9

 

105.5

 

115.0

ĐBSCL

553,426.0

157,971.7

61,764.0

191,389.9

99.9

105.2

97.2

115.5

Long An

661.0

683.7

3,688.0

6,015.9

99.3

119.9

88.2

103.1

Tiền Giang

4,575.0

4,830.0

2,096.0

10,400.0

118.5

104.0

97.4

98.4

Bến Tre

550.0

4,120.0

6,400.0

14,940.0

63.2

132.9

93.4

61.0

Trà Vinh

23,955.0

7,935.0

6,656.0

28,075.0

101.7

103.2

118.1

130.4

Kiên Giang

120,000.0

30,000.0

1,950.0

14,000.0

104.1

107.6

116.3

145.4

Sóc Trăng

18,980.0

11,592.0

25,920.0

48,341.0

111.6

131.6

89.4

101.2

Bạc Liêu

123,000.0

41,251.0

6,877.0

24,118.0

100.6

119.1

114.5

142.4

Cà Mau

261,705.0

57,560.0

8,177.0

45,500.0

96.7

91.7

101.4

156.9

 Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo báo cáo của TCTK, trong tháng 8/2018 sản lượng tôm sú ước tính đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 54,1 nghìn tấn, tăng 11,5%..

Tiến độ sản xuất tôm trong tháng 8/2018

 

Sản lượng và % thay đổi

 

Sản lượng T8/2018, nghìn tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Tôm thẻ

54.1

11.5

Tôm sú

30.2

5.6

Nguồn: TCTK

 

PHẦN 5:  GIÁ TÔM SÚ, TÔM THẺ NGUYÊN LIỆU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM - GIÁ TÔM XUẤT KHẨU
1. Giá tôm sú, tôm thẻ nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Giá tôm thẻ tại Tây Nam Bộ

Giá tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục tăng trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9

Trong tháng 8 giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg đã tăng 7,2% so với tháng 7 và nửa đầu tháng 9 tiếp tục tăng thêm 8% so với tháng 8, nguồn cung giảm dần.

Nửa đầu tháng 9 giá tôm thẻ cỡ nhỏ đã tạm chững lại do Trung Quốc chuyển sang ăn hàng tôm thẻ cỡ lớn (30-50 con/kg). Như vậy, sau khoảng thời gian dài chỉ ăn hàng tôm thẻ cỡ nhỏ 80-200 con/kg thì đầu tháng 9 Trung Quốc lại chuyển sang mua tôm cỡ lớn. Trong khi đó, nguồn cung tôm thẻ đang giảm dần do người dân đang thả mới được khoảng 1 tháng và tiếp tục cải tạo thả dần lại (hiện tại người dân khá thận trọng, vừa xem diễn biến giá vừa có kế hoạch thả lại từ từ).

Trung bình tháng 8 giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 81.000 đ/kg sau đó đã tăng lên 88.000-90.000 đ/kg đầu tháng 9.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tại Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu năm 2016-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (tháng 8/2018 tính đến 13/9)

1.2. Giá tôm sú tại Tây Nam Bộ

Tại Tây Nam Bộ, giá tôm sú tiếp tục giảm trong tháng 8 và đầu tháng 9. Trung bình nửa đầu tháng 9, giá tôm sú đá cỡ 30 con/kg và 40 con/kg giảm xuống mức 160.000 đ/kg và 115.000 đ/kg.

Nguồn cung tôm sú từ tháng 8 gia tăng và mặc dù nhu cầu vẫn khả quan nhưng giá tôm vẫn sụt giảm mạnh. Sự gia tăng nguồn cung tôm sú một phần do giá tôm thẻ đã sụt giảm nghiêm trọng nên một số hộ nuôi đã chuyển đổi cơ cấu thả nuôi thẻ-sú kể từ tháng 5/2018. Một số khu vực đã chuyển sang thả nuôi tôm sú như Vĩnh Châu, Vĩnh Trạch (Sóc Trăng) diện tích thả nuôi tôm sú chiếm tới 70-80% dẫn tới sự gia tăng mạnh sản lượng tôm sú cỡ nhỏ (100-50 con/kg) trong tháng 8-9 trong khi sản lượng tôm sú cỡ lớn vẫn chưa nhiều do đó giá sú cỡ nhỏ sụt giảm mạnh trong tháng 8.

Diễn biến giá tôm sú cỡ 30 con/kg; 40 con/kg tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá tôm thẻ tại khu vực miền Trung

Giá tôm tại khu vực miền Trung trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9 tiếp tục tăng nhẹ. Tính đến trung tuần tháng 9, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại miền Trung ở mức 92.000 đ/kg. Tuy nhiên thương lái Trung Quốc tăng mua tôm thẻ cỡ lớn. Tôm thẻ cỡ 40-50 con/kg Trung Quốc giá 135.000-125.000 đ/kg với tôm màu đẹp; màu xấu giá thấp hơn khoảng 5000 đ/kg.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận, Hà Tĩnh năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (tháng 9/2018 tính đến 15/9)

3. Giá tôm nguyên liệu khu vực biên giới Việt- Trung

Tại miền Bắc, thời tiết mưa nhiều thời gian qua làm gia tăng dịch bệnh trên tôm như hoại tử gan, tụy cấp tính, bệnh đốm trắng….do đó tôm màu xấu, sản lượng giảm. Mặc dù nhu cầu ăn hàng của Trung Quốc vẫn cao nhưng tôm bị nhiễm bệnh, giá tôm trong tháng 8 giảm nhẹ 5000 đ/kg so với trung bình tháng 7. Trung bình tháng 8, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Quảng Ninh ở mức 93.500 đ/kg tuy nhiên đã tăng lên mức 100.000 đ/kg trong nửa đầu tháng 9.

Diễn biến giá tôm thẻ nguyên liệu (ướp đá) tại khu vực Đầm Hà (Quảng Ninh), đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (tháng 9/2018 tính đến 13/9)

4. Giá xuất khẩu tôm sú

Trong tháng 8 năm 2018 xuất khẩu tôm sú có mức giá trung bình đạt 13.346 USD/tấn giảm 5,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Trung Đông, EU và Bắc Mỹ giảm, còn xuất khẩu sang Asean tăng.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm sú chế biến tăng với các điều kiện giao hàng chính CFR và C&F. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú đông lạnh đối với điều kiện giao hàng C&F, CFR và FOB giảm lần lượt 4,79%, 1,92% và 16,86%.

Đơn giá xuất khẩu tôm sú đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 8 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T8/2018 (sơ bộ)

T8/2017

T8/2018 (sơ bộ)

T8/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

 

7,948

11,997

11,850

-100.00

1.24

 

Bắc Mỹ

19,723

15,419

18,156

17,471

27.91

3.92

 

EU

10,483

9,406

11,543

12,945

11.45

-10.83

 

Trung Đông

   

12,050

15,147

 

-20.45

 

Khác

13,018

12,384

13,347

13,569

5.12

-1.63

 

Chung

14,806

13,500

13,584

14,267

9.67

-4.79

CFR

Asean

19,467

11,600

13,862

11,885

67.82

16.64

 

Bắc Mỹ

20,653

20,428

17,490

18,359

1.10

-4.73

 

EU

10,371

13,420

14,016

12,762

-22.72

9.83

 

Trung Đông

 

13,231

12,649

12,457

-100.00

1.54

 

Khác

16,902

15,307

13,009

14,208

10.42

-8.44

 

Chung

17,202

16,064

13,713

13,982

7.09

-1.92

FOB

Asean

7,111

 

14,374

19,471

 

-26.18

 

Bắc Mỹ

   

12,015

17,515

 

-31.40

 

EU

11,955

18,912

15,321

16,418

-36.79

-6.68

 

Trung Đông

11,479

14,182

 

15,893

-19.06

-100.00

 

Khác

11,325

12,129

9,849

9,752

-6.63

1.00

 

Chung

11,443

15,491

11,632

13,990

-26.13

-16.86

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

5. Giá xuất khẩu tôm thẻ

Trong tháng 8 năm 2018 xuất khẩu tôm thẻ có mức giá trung bình đạt 9.061 USD/tấn giảm 9,14% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean và Nam Mỹ tăng, trong khi xuất khẩu sang Bắc Mỹ, EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và chế biến đều giảm đối với điều kiện giao hàng chính như C&F, CFR và FOB.

Đơn giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 8 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến (mã HS 1604)

Tôm đông lạnh (mã HS 0306)

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T8/2018 (sơ bộ)

T8/2017

T8/2018 (sơ bộ)

T8/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

10,515

9,066

8,758

8,326

15.98

5.19

 

Bắc Mỹ

11,189

11,855

8,994

10,448

-5.62

-13.92

 

EU

7,615

10,311

7,390

8,775

-26.15

-15.78

 

Nam Mỹ

     

11,829

 

-100.00

 

Trung Đông

 

8,785

7,431

9,398

-100.00

-20.92

 

Khác

10,123

12,653

8,865

9,619

-20.00

-7.84

 

Chung

10,306

11,740

8,600

9,477

-12.21

-9.25

CFR

Asean

12,172

10,756

8,533

6,723

13.17

26.93

 

Bắc Mỹ

10,907

12,251

9,002

11,072

-10.97

-18.70

 

EU

8,619

10,320

7,802

8,589

-16.48

-9.16

 

Trung Đông

8,583

6,948

6,235

8,710

23.54

-28.42

 

Khác

9,619

10,838

8,835

9,853

-11.24

-10.34

 

Chung

9,919

10,944

8,475

9,303

-9.37

-8.90

FOB

Asean

14,562

12,994

8,735

6,317

12.07

38.28

 

Bắc Mỹ

11,413

12,768

9,302

11,232

-10.62

-17.18

 

EU

9,856

10,851

7,821

8,784

-9.17

-10.96

 

Nam Mỹ

 

7,800

 

6,500

-100.00

-100.00

 

Trung Đông

7,710

8,787

 

10,586

-12.26

-100.00

 

Khác

7,950

10,965

6,671

7,642

-27.50

-12.71

 

Chung

10,404

11,374

7,153

8,463

-8.53

-15.48

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

PHẦN 6: XUẤT KHẨU TÔM CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam tháng 8/2018

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 8 năm 2018 đạt 30.947 tấn, kim ngạch 334,92 triệu USD giảm 2,02% về lượng và giảm 19,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Lượng (tấn) và kim ngạch (triệu USD) xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2017-2018

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp. (*) sơ bộ

2. Xuất khẩu tôm theo chủng loại tháng 8/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo chủng loại tháng 8 năm 2018 so với cùng kỳ 2017 (sơ bộ)

 Chủng loại

 ĐL/CB

 T8/2018

 T8/2017

 tỷ trọng lượng, %

 % thay đổi về

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 T8/2018

 T8/2017

 lượng

 trị giá

 Tôm thẻ

 CB

10,271

115,882,407

9,721

122,048,827

33.19

30.78

5.66

-5.05

 ĐL

13,409

124,139,415

13,959

156,800,991

43.33

44.20

-3.94

-20.83

 Tổng

23,680

240,021,822

23,680

278,849,818

76.52

74.97

0.00

-13.92

 Tôm sú

 CB

456

8,775,498

495

11,309,057

1.47

1.57

-7.90

-22.40

 ĐL

4,333

61,742,245

4,658

69,147,202

14.00

14.75

-6.97

-10.71

 Tổng

4,789

70,517,744

5,153

80,456,260

15.48

16.31

-7.06

-12.35

 Tôm khác

 CB

1,519

13,599,523

1,610

15,084,313

4.91

5.10

-5.67

-9.84

 ĐL

959

10,784,758

1,143

39,509,914

3.10

3.62

-16.03

-72.70

 Tổng

2,478

24,384,281

2,753

54,594,226

8.01

8.71

-9.97

-55.34

 Tổng

 

30,947

334,923,846

31,586

413,900,304

100.00

100.00

-2.02

-19.08

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu tôm theo thị trường và theo khu vực tháng 8/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường từ 1/8-31/8/18

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

USA

7,939

81,592,249

Japan

3,473

52,207,174

China

3,087

30,532,140

Korea

3,069

30,175,694

UK

2,203

22,895,300

Canada

1,510

18,664,886

Netherlands

1,447

14,420,420

Singapore

1,357

16,508,835

HongKong

1,206

11,688,725

Germany

764

8,107,318

Australia

758

7,665,369

Belgium

559

5,161,963

Taiwan

543

4,446,116

France

517

5,209,549

Denmark

459

6,126,174

Switzerland

388

4,628,037

UAE

210

1,769,503

Italy

134

886,939

Austria

122

1,140,570

Philippines

122

856,256

Khác

1,079

10,240,629

Tổng

30,947

334,923,846

 

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường trong tháng 7-8/2018

 

Tháng 8/2018

Tháng 7/2018

 % thay đổi về

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

USA

7,939

81,592,249

5,609

60,517,711

41.54

34.82

Japan

3,473

52,207,174

4,033

57,899,459

-13.89

-9.83

China

3,087

30,532,140

3,244

28,743,158

-4.85

6.22

Korea

3,069

30,175,694

3,450

32,506,999

-11.03

-7.17

UK

2,203

22,895,300

1,957

22,667,961

12.54

1.00

Canada

1,510

18,664,886

1,001

12,834,462

50.88

45.43

Netherlands

1,447

14,420,420

1,655

17,236,522

-12.55

-16.34

Singapore

1,357

16,508,835

344

3,030,017

294.33

444.84

HongKong

1,206

11,688,725

940

9,361,019

28.31

24.87

Germany

764

8,107,318

1,149

11,662,113

-33.52

-30.48

Australia

758

7,665,369

670

7,350,119

13.18

4.29

Belgium

559

5,161,963

1,022

9,800,766

-45.30

-47.33

Taiwan

543

4,446,116

483

4,696,050

12.35

-5.32

France

517

5,209,549

569

5,487,146

-9.05

-5.06

Denmark

459

6,126,174

326

4,975,262

41.11

23.13

Switzerland

388

4,628,037

110

1,974,134

253.73

134.43

UAE

210

1,769,503

262

2,605,741

-19.80

-32.09

Italy

134

886,939

333

2,265,456

-59.70

-60.85

Austria

122

1,140,570

9

187,335

1226.93

508.84

Philippines

122

856,256

80

628,101

51.62

36.32

Khác

1,079

10,240,629

1,524

15,898,542

-29.17

-35.59

Tổng

30,947

334,923,846

28,770

312,328,072

7.57

7.23

Nguồn: TCHQ sơ bộ

Bảng 19: Lượng (tấn) và giá trị (USD) xuất khẩu tôm Việt Nam theo khu vực trong tháng 8 năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 (sơ bộ)

Khu vực

T8/2018

T8/2017

% thay đổi

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Asean

1,572

18,227,638

485

4,183,147

224.41

335.74

Bắc Mỹ

9,449

100,257,135

7,026

91,171,535

34.50

9.97

EU

7,142

73,833,364

9,357

105,165,262

-23.67

-29.79

Nam Mỹ

3

28,442

17

179,604

-84.54

-84.16

Trung Đông

353

2,864,529

559

5,420,888

-36.83

-47.16

Khác

12,428

139,712,737

14,143

207,779,869

-12.12

-32.76

Tổng

30,947

334,923,846

31,586

413,900,304

-2.02

-19.08

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 7: THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG THÁNG 8/2018
1. Sự kiện trong nước

+ Tính đến tháng 8/2018, nông dân huyện Cần Giuộc (Long An) đã thả nuôi 911ha tôm. So với cùng kỳ năm 2017, diện tích thả nuôi giảm 400ha.

+ MPC - CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú - Lãi ròng quý 2/2018 của công ty mẹ đạt 117 tỷ đồng, tăng khá so cùng kỳ, kéo lũy kế cả năm lên con số 313 tỷ đồng, tăng tới 145%.

+ CTCP Thực phẩm Sao Ta (FMC) cho biết, trong tháng 7/2018 công ty chế biến được 1.773 tấn tôm thành phẩm các loại, giảm nhẹ so với cùng kỳ. Doanh số đạt 13,7 triệu USD, giảm 23% so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm FMC chế biến 7.787 tấn tôm đông lạnh các loại, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2017. Về hoạt động nuôi tôm, công ty thu hoạch 89 ao trong số 156 ao thả giống đợt 1, đạt sản lượng 584 tấn. Số còn lại thu trong tháng 8/2018, riêng số ao thả giống đợt 2 là 88 ao sẽ thu hoạch đầu quý IV/2018.

+ Ngày 16/8, tại xã Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu), Công ty Cổ phần chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Âu Vững và HTX 30/4 huyện Hòa Bình ký kết hợp tác nuôi tôm đạt tiêu chuẩn quốc tế ASC. Theo hợp đồng, phía Công ty Âu Vững cam kết thu mua tôm của tất cả các thành viên trong HTX 30/4 cao hơn giá thị trường.

+ Bạc Liêu đang vào vụ nuôi tôm chính vụ, đến tháng 8/2018 diện tích thả nuôi đạt hơn 100.000ha, trong đó diện tích tôm nuôi theo mô hình thâm canh, bán thâm canh hơn 7.000ha. Tuy nhiên, do thời tiết, dịch bệnh đã làm hơn 3.300ha tôm nuôi thiệt hại, trong số này có đến 2.800ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh, gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho nhà nông.

+ Đến tháng 8/2018, toàn tỉnh Long An thả nuôi 4.302ha tôm nước lợ, đạt 65,2% kế hoạch (6.600ha), trong đó, tôm sú 655,7ha, tôm thẻ chân trắng 3.646,3ha. Từ đầu năm 2018 đến nay, có 131,6ha tôm (tôm sú 24,6ha, tôm thẻ chân trắng 107ha) bị thiệt hại không thu hoạch được, chiếm 3,05% tổng diện tích thả nuôi.

+ Đến tháng 8/2018, diện tích thả nuôi của tỉnh Kiên Giang được 121.683/123.000 ha, đạt 98,9% diện tích so kế hoạch và tăng 4,27% diện tích so cùng kỳ. Trong đó diện tích nuôi tôm công nghiệp 2.218/2.500 ha (trong đó, có 2.134 ha tôm thẻ chân trắng, sản lương 12.098 tấn); nuôi tôm quảng canh-quảng canh cải tiến 36.277 ha và nuôi tôm - lúa 83.188 ha. Sản lượng thu hoạch trong tháng ước đạt 10.778, lũy kế 8 tháng đạt 54.432 tấn, đạt 78,89% kế hoạch và tăng 27,76% so cùng kỳ.

+ Ngày 27/8, UBND tỉnh Bạc Liêu đã ban hành Đề án nâng cao năng suất tôm nuôi trong mô hình tôm - lúa vùng phía Bắc Quốc lộ 1A đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Qua đó tỉnh phấn đấu đến năm 2020, diện tích tôm - lúa đạt 38.000ha, năng suất tôm đạt 0,4 tấn/ha/năm, sản lượng 15.200 tấn. Đến năm 2025 diện tích tôm - lúa đạt 41.000ha, năng suất tôm đạt 0,5 tấn/ha/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 1,53% năm.

+ Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh đang phát triển mạnh tại tỉnh Cà Mau. Năng suất bình quân của mô hình này có thể đạt từ 30 - 50 tấn/ha/vụ. Theo kế hoạch phát triển, mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ở Cà Mau có thể đạt 5.000 ha vào năm 2020, 10.000ha vào năm 2030.

+ Tổng diện tích nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tính đến hết tháng 8/2018 đạt gần 1.000ha, tập trung chủ yếu ở các xã ven biển thuộc các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Vĩnh Linh, Gio Linh và thành phố Đông Hà. Trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 600 ha, còn lại là tôm sú. Sản lượng tôm hằng năm đạt khoảng 4.400 tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm hơn 3.700 tấn.

2. Sự kiện quốc tế

+ Thai Union đã được cấp phép thành lập một công ty mới ở Indonesia. Theo Thai Union, mục đích việc đầu tư vào Indonesia của công ty là để tiếp cận thị trường EU theo các mức thuế ưu đãi theo hệ thống ưu đãi (GSP). Ngoài ra, Thai Union hy vọng sẽ tăng được doanh thu thức ăn thủy sản ở Indonesia.

+ Giá tôm thế giới liên tục giảm cộng với chính sách tăng thuế nhập khẩu ấu trùng artemia – loại ấu trùng trống sử dụng làm thức ăn trong quá trình ấp tôm – có thể sẽ gây thiệt hại lớn cho nông dân nuôi tôm ấn Độ. Giá tôm cổng trại tại Ấn Độ hiện ở mức thấp hơn gần 1,46 USD/kg so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến chi phí sản xuất cao và lợi nhuận biên giảm, buộc nông dân phải thu hoạch sớm.

+ Trong 5 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu tôm (tự nhiên và nuôi) của Honduras là 65,6 triệu USD, giảm 500.000 USD so với năm 2017, và khối lượng xuất khẩu giảm 2,1% so với cùng kỳ. Anh và Hoa Kỳ là những thị trường xuất khẩu chính của tôm Honduras.

+ Chính phủ Bangladesh yêu cầu các nhà xuất khẩu thực phẩm lạnh của nước này đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu của Châu Âu, trong khi nhóm kiểm toán cấp cao của EU sẽ kiểm tra ngành thực phẩm đông lạnh của Bangladesh trong tháng 11/2018.

+ Theo số liệu mới nhất của hãng nghiên cứu Nielsen, doanh số bán tôm tại thị trường Anh tính đến ngày 16/6 là 443 triệu pounds, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2017, và lượng giảm xuống còn 31.376 tấn. Trong đó, lượng bán tôm đông lạnh là 10.889 tấn, doanh thu 131,6 triệu pounds, lượng giảm 0,5%, nhưng doanh thu tăng 3,9%, giá trung bình 12,09 pounds/kg, tăng 4,5%.  Lượng bán tôm nước lạnh là 12.891 tấn, doanh thu đạt 168,7 triệu pounds, giảm 2,8% về lượng và 2,2% doanh thu, mức giá trung bình là 13,09 pounds/kg, tăng 0,6%.

+ Ngày 7/8, Phòng nuôi trồng thủy sản quốc gia Ecuador (CNA) cho biết Luật phát triển kinh tế mới của Ecuador, mà Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội phê chuẩn trước ngày 24/8 sẽ thúc đẩy thêm sự đầu tư vào ngành nuôi trồng thủy sản của nước này. Dự luật được phê duyệt sẽ giúp ngành tôm tiếp cận với mức thuế quan IVA bằng 0 cho việc mua vật tư và thiết bị, như những ngành nông nghiệp khác.

+ Sau tháng 6 chịu tác động của xung đột giữa các nghiệp đoàn và thời tiết xấu khiến hoạt động đánh bắt tôm của Argentina gặp khó khăn, thì sang tháng 7/2018, lượng tôm đánh bắt đã đạt cao nhất từ đầu năm. Trong tháng 7, lượng tôm đánh bắt của Argentina đạt 34.099 tấn, tăng 56% so với tháng 6/2018 và 10% so với cùng kỳ năm 2017.

+ Charoen Pokphand Foods (CP Foods) của Thái Lan, cho biết doanh thu của công ty đã tăng 45% lên 5,894 tỷ THB (176,4 triệu USD) trong quý 2/2018. Tổng doanh thu tăng 8% lên 136,4 tỷ THB. Trong cuối năm 2018, CP Foods sẽ mở rộng quy mô ở Brazil và Ấn Độ, chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng với kích thước lớn, và tập trung xuất khẩu cho thị trường tôm chính là Trung Quốc.

+ Giá tôm nguyên liệu Ấn Độ trong tuần thứ 32 (ngày 6-12/8) tăng 17-24% kể từ tuần 28. Các nhà chế biến tôm của nước này đang phải giải quyết vấn đề thiếu hụt nguyên liệu để đáp ứng các đơn đặt hàng tôm, sau khi nông dân giảm thả nuôi do các vấn đề về bệnh dịch và giá cả thị trường ở mức thấp. Tình trạng thiếu nguyên liệu ở Ấn Độ dự kiến sẽ còn tiếp tục ít nhất là đến tháng 10 và có lẽ đến cuối năm 2018.

+ Theo tờ Myanmar Times, Thái Lan và Myanmar đã ký thỏa thuận viện trợ để hiện đại hóa một vùng nuôi tôm ở miền tây Myanmar. Thỏa thuận giữa hai quốc gia đã được ký ngày 15/8, qua đó Thái Lan sẽ cung cấp 34 triệu THB (1,02 triệu USD) để cải thiện một trung tâm nuôi tôm ở Yay Chan Pyin, khu vực Rakhine, tây Myanmar.

+ Theo phân tích của Rabobank, giá tôm nguyên liệu toàn cầu đã chạm đáy trong nửa đầu năm 2018 và có thể tăng trở lại trong ngắn hạn. Các dấu hiệu cảu việc giá chạm đáy đã xuất hiện trong năm 2017, khi nguồn cung bắt đầu vượt quá nhu cầu, tuy nhiên nhờ Trung Quốc tiêu thụ mạnh, đà giảm giá đã chậm lại phần nào. Cuộc khung hoảng về giá tôm đã xảy ra ngay trong vụ thu hoạch đầu tiên năm 2018, do nguồn cung từ Ấn Độ và Ecuador tăng gấp đôi, trong khi nguồn cung từ Indonesia, Việt Nam và các nước khác cũng tăng. Rabobank cho biết nông dân sẽ giảm lượng thả nuôi cho các vụ tôm tiếp theo và giá có thể tăng nhẹ trong ngắn hạn, trong trường hợp không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tuy nhiên, trong trung hạn, chính điều này sẽ khiến lợi nhuận tổng thể suy giảm đáng kể, và nông dân sẽ tiếp tục gánh chịu hậu quả. Cũng theo Rabobank, việc giá tôm chạm đáy và dự kiến giá vẫn sẽ duy trì xu hướng thấp cho đến cuối năm 2018 sẽ là cơ hội để ngành tôm tái cơ cấu lại. Theo đó, ngành tôm cần đổi mới công nghệ nuôi tôm để tránh dịch bệnh, đa dạng hóa các sản phẩm và tạo ra thêm nhu cầu tiêu thụ.

+  Đồng Rupee giảm giá so với đồng USD đang trợ giúp cho các nhà xuất khẩu tôm Ấn Độ. Xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang Mỹ trong năm 2018 đã bị ảnh hưởng bởi nhu cầu thấp của Mỹ, với sự sụt giảm của đồng rupee, nó có thể hỗ trợ các nhà xuất khẩu khi giá tôm đang ở mức thấp.

+ Sau khi tăng vượt mức 600.000 tấn trong năm 2017, sản lượng tôm thẻ của Ấn Độ nhiều khả năng sẽ giảm trong năm 2018. Tại hội nghị TARS, được tổ chức tại Chang Mai, Thái Lan trong trung tuần tháng 8, các chuyên gia cho biết các vấn đề về sản xuất, bao gồm dịch bệnh và việc giá thấp là những nguyên nhân khiến sản lượng tôm Ấn Độ giảm xuống dưới 600.000 tấn trong năm 2018. Thái Lan cũng sẽ giảm còn khoảng 300.000 tấn, nhưng sản lượng sẽ gia tăng mạnh mẽ ở Việt Nam và Ecuador. Dự báo sản lượng của Ecuador sẽ vượt mức 500.000 tấn, còn Việt Nam sẽ đạt gần 500.000 tấn trong năm nay.

+  Tập đoàn Camposol của Peru cho biết cả sản lượng và lợi nhuận bán tôm của công ty trong quý 2/2018 đều tăng so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng tôm của công ty trong quý 2 đạt 7.302 tấn tăng 19% so với cùng kỳ năm 2017, trị giá đạt 41,2 triệu USD tăng 3,5%.

+ Nhà sản xuất tôm của Australia, Tassal Group kỳ vọng sản lượng tôm của công ty sẽ tăng gấp 6 lần trong 3-5 năm tới, từ 450 tấn lên 3.000 tấn. Đến tháng 9/2018, Tassal sẽ hoàn tất việc sở hữu 3 trang trại nuôi tôm ở Yamba, New South Wales; Proserpine, Queensland; Mission Beach, Queensland, với tổng trị giá 20 triệu USD.

+ Khoảng 40-50% nông dân nuôi tôm ở khu vực sản xuất tôm chính của Malaysia đã chuyển sang nuôi tôm sú, do nhu cầu tăng từ các thị trường và giá cả tốt. Trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5/2018, giá tôm thẻ chân trắng cỡ 70 con/kg, giảm 23% xuống còn 20,9 MYR/kg, trong khi đó, cùng thời gian trên giá thu mua tôm sú tăng 15% lên 36,3 MYR/kg.

+ Charoen Pokphands Foods (CP Foods) cho biết, trong thời gian tới công ty sẽ tiếp tục tập trung vào việc tăng doanh thu ở nước ngoài và nâng cao năng lực sản xuất nội địa để phục vụ thị trường xuất khẩu tốt hơn, đặc biệt là Đông Nam Á, nơi mà nhu cầu tôm ngày càng tăng. Với việc cải thiện doanh thu và hiệu suất nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan, công ty cho biết họ hy vọng đạt được mục tiêu tăng trưởng 5-8% trong năm 2018.

+ Theo Undercurrent News, do sức mua tôm của Trung Quốc thấp nên các nhà xuất khẩu của Ecuador đang tỏ ra thận trọng trên thị trường trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên trên thực tế, xuất khẩu tôm của Ecuador sang Trung Quốc trong nửa đầu năm 2018 đã bằng với xuất khẩu sang thị trường này trong cả năm 2017. Theo số liệu của ITC, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc của Ecuador tăng 352% về trị giá so với cùng kỳ lên mức 277,3 triệu USD và tăng 390% về khối lượng lên 95,06 triệu pounds (43.118 tấn) chỉ trong 6 tháng đầu năm 2018.