Tôm 6/2018 - Giá tôm thẻ tại ĐBSCL đã nhích nhẹ trong tháng 6 và đầu tháng 7

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Tôm 6/2018 - Giá tôm thẻ tại ĐBSCL đã nhích nhẹ trong tháng 6 và đầu tháng 7

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 6

Thị trường thế giới

  • Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản (SIMP) có thể sẽ thúc đẩy xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang Mỹ do phần lớn nguồn tôm của Ấn Độ là từ các trại nuôi được đăng ký.
  • Nhờ những biện pháp hỗ trợ, giá tôm Thái Lan đã tăng trở lại từ cuối tháng 5 đến tháng 6 sau khi liên tục giảm từ tháng 3-5. Ngày 18/5, Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định sẽ giữ nguyên thẻ vàng đối với Thái Lan về các vấn đề khai thác thủy sản phi pháp, không báo cáo và không được quản lý (IUU), theo thông tin chính thức từ Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Nông nghiệp Thái Lan cho hay. Đây là kết quả cuối cùng của đợt rà soát hiệu quả giải quyết IUU của Thái Lan từ phía EU.
  • Đầu tháng 7, giá tôm Trung Quốc chạm mức thấp nhất trong 5 năm. Tại Quảng Đông, trong tuần đầu tháng 7 giá tôm thẻ cỡ 120 con/kg ở mức 28,5 CNY/kg (4,3 USD/kg); cỡ 80 con/kg giá 38,8 CNY/kg; 60 con/kg ở mức 44 CNY/kg.
  • Trong tháng 6/2018, FDA đã từ chối 5 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn trong đó 3 đơn hàng từ Trung Quốc và 2 đơn hàng từ Ấn Độ.

Thị trường Việt Nam

  • Trong 6 tháng năm 2018, tại ĐBSCL diện tích thả nuôi tôm thẻ ước đạt 45,09 nghìn ha tăng 1%, sản lượng ước đạt 108,61 nghìn tấn tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017.
  • Giá tôm thẻ tại ĐBSCL đã nhích nhẹ trong tháng 6 và đầu tháng 7 sau khi giảm xuống mức thấp kỷ lục trong tháng 5.
  • Giá tôm tại khu vực miền Trung tiếp tục giảm trong tháng 6 bất chấp sự tăng giá nhẹ của khu vực miền Nam. Tại Ninh Thuận; Hà Tĩnh giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tháng 6 tiếp tục giảm 7-12% so với tháng 5.
  • Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 6 năm 2018 đạt 26.796 tấn, kim ngạch 298,15 triệu USD tăng 1,22% về lượng và giảm 9,29% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

 

PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Thị trường tôm Thái Lan
1.1. Diễn biến giá

Sau khi tăng trong 2 tháng đầu năm 2018, giá tôm Thái Lan đã liên tục quay đầu giảm mạnh trong tháng 3 và tháng 4 đối với tất cả các kích cỡ. Xu hướng giảm giá này tiếp tục kéo dài đến trung tuần tháng 5. Tuy nhiên, nhờ những biện pháp hỗ trợ giá tôm Thái Lan đã tăng mạnh trở lại từ cuối tháng đến hết tháng 6.

Tính trung bình tháng 6/2018, giá tôm thẻ Thái Lan cỡ 100 con/kg đạt 121 baht/kg, tăng 14 bath/kg, trong khi giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg có mức 131 baht/kg, tăng 17 bath/kg so với trung bình tháng 5/2018.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg và 100 con/kg tại trang trại Thái Lan năm 2017-2018, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Thương mại

Ngày 18/5, Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định sẽ giữ nguyên thẻ vàng đối với Thái Lan về các vấn đề khai thác thủy sản phi pháp, không báo cáo và không được quản lý (IUU), theo thông tin chính thức từ Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Nông nghiệp Thái Lan cho hay. Đây là kết quả cuối cùng của đợt rà soát hiệu quả giải quyết IUU của Thái Lan từ phía EU.

Theo số liệu hải quan Thái Lan, xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong 5 tháng năm 2018 đạt 21.758 tấn, trị giá 5,94 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Mỹ; Nhật Bản lớn nhất đạt 2,04 tỷ baht và 1,2 tỷ baht.

Xuất khẩu tôm sú trong 5 tháng năm 2018 đạt 5.112 tấn, trị giá 1,19 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc; Nhật Bản lớn nhất trong 5 tháng năm 2018 đạt 648,92 triệu baht và 209,8 triệu baht.

Xuất khẩu tôm sú của Thái Lan theo thị trường trong 5 tháng năm 2018, baht

Thị trường

5 tháng năm 2018

China

648,921,990

Japan

209,798,772

United States

69,325,174

Hong Kong

59,550,555

Myanmar

54,228,300

Canada

51,521,124

Vietnam

45,752,286

Malaysia

13,276,120

Korea,Republic Of

12,617,647

Taiwan, Province Of China

8,415,616

Khác

21,903,281

Tổng

1,195,310,865

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan theo thị trường trong 5 tháng năm 2018, baht

Thị trường

5 tháng năm 2018

United States

2,040,899,266

Japan

1,200,556,051

Hong Kong

397,230,233

Malaysia

375,713,428

China

333,084,127

Canada

287,464,428

Vietnam

281,178,105

Korea,Republic Of

234,657,837

United Kingdom

222,286,078

Taiwan, Province Of China

112,982,463

Khác

459,073,443

Tổng

5,945,125,459

Nguồn: TCHQ Thái Lan

2. Thị trường tôm Trung Quốc
2.1. Diễn biến giá

Tại thị trường nội địa Trung Quốc, sau khi tăng mạnh trong quí 1/2018, giá tôm thẻ thu mua nội địa đã quay đầu giảm liên tục trong quí 2/2018.

Giá tôm Trung Quốc đã chạm mức thấp nhất trong 5 năm qua theo xu hướng giá tôm thấp trên thị trường quốc tế. Ví dụ như với tôm cỡ 120 con/kg, giá đã giảm 55% so với mức cao nhất gần đây là 61,5 NDT/kg trong dịp Tết Nguyên Đán 4 tháng trước. Mặc dù Trung Quốc đã hạn chế lượng thu hoạch tôm nội địa để hỗ trợ giá nhưng lượng tôm nhập lậu giá rẻ từ Việt Nam trong năm 2018 đã đạt mức kỷ lục. Theo Fish First, có hơn 10.000 kg tôm đang được nhập lậu vào Trung Quốc từ Việt Nam mỗi ngày khiến giá tôm Trung Quốc thấp. Hiện nông dân Trung Quốc có xu hướng thu hoạch tôm kích cỡ nhỏ vì nó cạnh tranh về giá hơn.

Trung bình tháng 6/2018, giá tôm cỡ 80 con/kg tại Chương Châu (Phúc Kiến) đạt mức 26,7 NDT/kg, giảm 3,3 NDT/kg so với trung bình tháng 5/2018. Trong khi giá tôm cỡ 100 con/kg tại Trạm Giang (Quảng Đông) ở mức 21 NDT/kg, giảm 3 NDT/kg so với trung bình tháng 5/2018.

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 100 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 80 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2.2. Thương mại

Trong 5 tháng năm 2018, xuất khẩu tôm sú tươi và đông lạnh của Trung Quốc đạt 4.806 tấn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tôm đông lạnh còn vỏ của nước này trong 5 tháng năm 2018 đạt 22.654 tấn giảm 22,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 5/2018, (tấn, 1000 USD)

 

T5/2018

5T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

8,080

69,601

33,632

260,234

Frozen fish or fish fillet

160,000

583,019

780,000

2,652,081

Fresh or frozen prawns

700

6,426

4,806

49,996

Frozen shelled shrimps

4,492

47,639

22,654

254,921

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 5/2018, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T5/2018

5T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

210

372,334

950

1,689,698

Fish flour for animal feeding

100

164,222

430

645,543

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường tôm Mỹ
3.1 Thương mại

Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 5/2018 đạt 50,57 nghìn tấn giảm 5,56% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 5 tháng năm 2018 đạt 253,3 nghìn tấn tăng 8,88% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó Ấn Độ xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ đạt 83,73 nghìn tấn tăng 23,72% so với cùng kỳ 2017. Indonesia xếp thứ 2 và Ecuador xếp vị trí thứ 3 với lượng lần lượt đạt tương ứng 55,47 nghìn tấn (tăng 17,35%); 31,72 nghìn tấn (tăng 17,35%). Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ 5 vào Mỹ trong 5 tháng năm 2018.

Đại diện Thương mại Mỹ ngày 15/6 thông báo nước này sẽ áp thuế bổ sung 25% lên 818 loại hàng nhập khẩu từ Trung Quốc với kim ngạch khoảng 34 tỷ USD vào ngày 6/7. Tuy nhiên trong các sản phẩm bị áp mức thuế mới không tôm như theo kiến nghị của Liên minh tôm miền Nam Hoa Kỳ (SSA) hồi trung tuần tháng 5.

Ngày 19/6, Tổng thống Donald Trump tiếp tục đi thêm bước nữa trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, khi mà Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đang mở rộng danh sách hàng hóa Trung Quốc bị áp thuế. Động thái mới nhất này làm tăng khả năng hải sản nhập khẩu từ Trung Quốc, bao gồm cá rô phi và tôm, có thể là “nạn nhân” tiếp theo.

Ngày 6/7, Tổng thống Trump xác nhận rằng Mỹ sẽ thu thuế quan áp lên 34 tỉ USD giá trị hàng hóa Trung Quốc bắt đầu từ 12 giờ 01 phút (giờ GMT), và cảnh báo thêm các vòng đánh thuế tiếp theo có thể vượt quá mức 500 tỉ USD giá trị hàng hóa. Con số 500 tỉ USD gần bằng số giá trị hàng hóa mà Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm qua.

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 5/2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

T5/2018

T5/2017

% thay đổi

India

18,408

17,696

4.02

Indonesia

10,060

9,711

3.59

Ecuador

6,884

7,412

-7.12

Vietnam

3,469

4,125

-15.90

Thailand

3,409

5,043

-32.40

China

3,142

3,943

-20.31

Peru

1,311

1,191

10.08

Argentina

932

1,285

-27.47

Guyana

880

1,243

-29.20

Honduras

468

164

185.37

Khác

1,611

1,736

-7.20

Tổng

50,574

53,549

-5.56

 Nguồn: NOAA

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 5 tháng năm 2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

5T 2018

5T 2017

% thay đổi

India

83,733

67,681

23.72

Indonesia

55,472

47,271

17.35

Ecuador

31,719

30,685

3.37

Thailand

18,227

24,082

-24.31

Vietnam

17,744

18,100

-1.97

China

16,426

15,433

6.43

Mexico

7,429

6,931

7.19

Peru

4,408

4,768

-7.55

Guyana

4,341

5,216

-16.78

Argentina

4,305

4,792

-10.16

Khác

9,494

7,677

23.67

Tổng

253,298

232,636

8.88

Nguồn: NOAA

 

PHẦN 2: HỘI NHẬP – THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ – RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TÔM VIỆT NAM
1. Trong tháng 6/2018, FDA đã từ chối 5 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn trong đó 3 đơn hàng từ Trung Quốc và 2 đơn hàng từ Ấn Độ

Ngày 06/07/2018, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin về các đơn hàng bị từ chối nhập khẩu trong tháng 6/2018. Trong số 118 đơn hàng nhập khẩu thủy sản bị từ chối thì tôm chiếm 4,2% với 5 đơn hàng do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 6/2018 đến từ Trung Quốc (3 đơn hàng) và Ấn Độ (2 đơn hàng).

Các công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 6/2018

Nước

Tên công ty

Trung Quốc

Dongguan Ateier Import and Export Co., Ltd. (China) (3 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y và phụ gia không an toàn)

Ấn Độ

Kader Exports Private Limited (India) (2 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Nguồn: shrimpalliance

Như vậy tính chung trong 6 tháng đầu năm 2018, FDA đã từ chối tổng cộng 25 đơn hàng tôm do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Số đơn hàng tôm và hải sản bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ theo tháng trong năm 2017-2018

Tháng/năm

Số đơn hàng tôm bị từ chối

Số đơn hàng hải sản bị từ chối

7/2017

0

129

8/2017

1

170

9/2017

3

76

10/2017

4

63

11/2017

1

62

12/2017

1

105

1/2018

1

116

2/2018

3

156

3/2018

5

135

4/2018

3

116

5/2018

8

111

6/2018

5

118

Nguồn: shrimpalliance

Số lượng đơn hàng tôm bị FDA từ chối nhập khẩu vào Mỹ từ 2002 -2018

Nguồn: shrimpalliance

2. ITC đứng về phía Mazzetta, hoãn thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam

Trong văn bản dài 40 trang công bố trong tuần cuối tháng 6, thẩm phán Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (ITC) Claire Kelly tán thành phương pháp của Bộ Thương mại Mỹ để tính toán các mức thuế chống bán phá giá 4,78% đối với tôm Việt Nam trong năm 2014 và từ chối các yêu cầu từ Mazzetta Company có trụ sở tại Chicago, Illinois về công khai các tài liệu liên quan đến giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ Mỹ và Việt Nam trước Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Mức thuế chống bán phá giá tôm vào Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam đợt POR10 (1/2/2014-31/1/2015)

DN xuất khẩu

POR10 (1/2/2014-31/1/2015)

 

Công bố ngày 10/09/2016

Soc Trang Seafood Joint Stock Company, aka Stapimex 

4.78

Bac Lieu Fisheries Joint Stock Company

4.78

C.P. Vietnam Corporation 

4.78

Cadovimex Seafood Import-Export and Processing Joint Stock Company 

4.78

Camau Frozen Seafood Processing Import Export Corporation, aka Camau Seafood Factory No. 4 

4.78

Can Tho Import Export Fishery Limited Company 

4.78

Camau Seafood Processing and Service Joint Stock Corporation  

4.78

Cuulong Seaproducts Company 

4.78

Gallant Dachan Seafood Co., Ltd

4.78

Green Farms Seafood Joint Stock Company

4.78

Hai Viet Corporation 

4.78

Investment Commerce Fisheries Corporation

4.78

Kim Anh Company Limited, aka Kim Anh Co., Ltd

4.78

Minh Hai Export Frozen Seafood Processing Joint-Stock Company 

4.78

Minh Hai Joint-Stock Seafoods Processing Company 

4.78

Nha Trang Fisheries Joint Stock Company  

4.78

Nha Trang Seafoods Group: Nha Trang Seaproduct Company, aka NT Seafoods Corporation, aka Nha Trang Seafoods—F89 Joint Stock Company, aka NTSF Seafoods Joint Stock Company

4.78

Ngoc Tri Seafood Joint Stock Company

4.78

Phuong Nam Foodstuff Corp

4.78

Quang Minh Seafood Co., Ltd

4.78

Quoc Viet Seaproducts Processing Trading and Import-Export Co., Ltd .

4.78

Sao Ta Foods Joint Stock Company, aka Fimex VN, aka Saota Seafood Factory .

4.78

Seaprimexco Vietnam 

4.78

Taika Seafood Corporation 

4.78

Thong Thuan Company Limited, aka T&T Co., Ltd

4.78

Thuan Phuoc Seafoods and Trading Corporation 

4.78

Trong Nhan Seafood Company Limited

4.78

UTXI Aquatic Products Processing Corporation, aka Hoang Phuong Seafood Factory, aka, Hoang Phong Seafood Factory

4.78

Viet Foods Co., Ltd

4.78

Viet Hai Seafood Co., Ltd., aka Vietnam Fish One Co., Ltd

4.78

Vietnam Clean Seafood Corporation

4.78

Viet I-Mei Frozen Foods Co., Ltd

4.78

Toàn quốc

25.76

Nguồn: DOC

 

PHẦN 3:  SẢN XUẤT

Theo báo cáo tháng 6/2018 của Bộ NN&PTNT thì các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích và sản lượng tôm nước lợ cụ thể như sau:

  • Đối với tôm sú: Trong 6 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 537,38 nghìn ha không đổi, sản lượng ước đạt 98,19 nghìn tấn tăng 1% so với cùng kỳ năm 2017.
  • Đối với tôm thẻ: Trong 6 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 45,09 nghìn ha tăng 1%, sản lượng ước đạt 108,61 nghìn tấn tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017.

Diện tích và sản lượng tôm tại ĐBSCL trong 6 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

 6 tháng năm 2018

So sánh năm 2018 với năm 2017 (%)

 

Tôm sú

Tôm thẻ

Tôm sú

Tôm thẻ

Đơn vị

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Tổng số

 

109,600

 

150,800

 

104.8

 

115.1

ĐBSCL

537,379

98,188

45,090

108,612

100

101

101

123

Long An

524

560

3,079

5,151

104

142

93

124

Tiền Giang

3,159

2,500

1,640

8,230

109

833

104

201

Bến Tre

500

3,960

5,000

9,540

77

89

105

102

Trà Vinh

19,200

3,911

5,000

10,604

100

99

117

94

Kiên Giang

117,000

17,000

1,100

9,000

103

213

116

75

Sóc Trăng

9,979

9,227

16,544

19,246

101

190

95

105

Bạc Liêu

117,135

19870

4,550

13941

98.7

77.2

101.6

142.8

Cà Mau

269,882

41,160

8,177

32,900

100

83

101

168

 Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo báo cáo của TCTK, trong 6 tháng năm 2018 sản lượng tôm sú ước tính đạt 106,3 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 151,9 nghìn tấn, tăng 14,5%.

Tiến độ sản xuất tôm trong 6 tháng năm 2018

 

Sản lượng và % thay đổi

 

Sản lượng 6T 2018, nghìn tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Tôm thẻ

151.9

14.5

Tôm sú

106.3

5.9

Nguồn: TCTK

 

PHẦN 4:  GIÁ TÔM SÚ, TÔM THẺ NGUYÊN LIỆU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM - GIÁ TÔM XUẤT KHẨU

Tại Việt Nam, giá tôm nguyên liệu sau khi giảm mạnh trong tháng 5 thì đã nhích nhẹ dần trong tháng 6 và đầu tháng 7 đối với khu vực miền Nam trong khi khu vực miền Bắc và miền Trung giá tôm vẫn giảm.

Đầu tháng 7, giá tôm thẻ vẫn nhích nhẹ tại ĐBSCL tuy nhiên giá tôm sú tại ĐBSCL sụt giảm mạnh trong bối cảnh bắt đầu thả nuôi tôm sú công nghiệp vụ 1. Nguồn cung tôm thẻ vụ 1 đang gia tăng tại miền Trung, miền Bắc trong khi tôm thẻ vụ 1 tại ĐBSCL chủ yếu còn cỡ lớn với lượng không nhiều; tôm thẻ vụ 2 chưa đạt cỡ thu hoạch.

Dự kiến trong tháng 7, nguồn cung tôm thẻ vẫn tiếp tục gia tăng tại khu vực miền Trung và miền Bắc trong khi tại miền Nam nguồn cung tôm cỡ vừa (70-100 con/kg) có thể sẽ gia tăng kể từ trung tuần tháng 7 do tôm thẻ vụ 2 đang thả nuôi chủ yếu đạt cỡ 200-300 con/kg.

Diễn biến thu hoạch tôm tại các khu vực nuôi trồng tôm trong tháng 7

Khu vực

2 tuần đầu tháng 7

2 tuần cuối tháng 7

ĐBSCL

- Tôm thẻ vụ 1 sản lượng không còn nhiều, chủ yếu đang thu hoạch cỡ 40-80 con/kg.

- Tôm thẻ vụ 2 thả nuôi được khoảng 20-30% diện tích và chủ yếu đạt cỡ 200-300 con/kg. Dịch bệnh phân trắng gia tăng.

- Tôm sú công nghiệp mới thả nuôi vụ 1.

Sản lượng tôm cỡ 80-100 con/kg của vụ 2 gia tăng.

Nam Trung Bộ

Tôm thẻ vụ 1 thả nuôi dưới 60 ngày tuổi chiếm 50%. Vẫn xuất hiện bệnh đốm trắng đỏ thân, gan với tỷ lệ trên 50%.

Sản lượng tôm cỡ 70-100 con/kg gia tăng.

Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ

Sản lượng tôm thu hoạch vụ 1 đang tăng, chủ yếu tôm cỡ 100 con/kg; tôm cỡ lớn sản lượng không nhiều, chủ yếu bán oxy.

Sản lượng tôm cỡ 80-100 con/kg tiếp tục gia tăng.

Nhu cầu thu mua tôm tại khu vực nuôi trồng tôm trong tháng 7

Khu vực

2 tuần đầu tháng 7

2 tuần cuối tháng 7

ĐBSCL

Các cơ sở chế biến nhỏ thu mua trung bình khoảng dưới 10 tấn/ngày trong khi các nhà máy lớn mua trên 30 tấn/ngày.

Nhu cầu của các nhà máy dự kiến gia tăng. Nhu cầu mua hàng của thương lái Trung Quốc vẫn khá ổn định.

Nam Trung Bộ

Thương lái Trung Quốc mua cao hơn giá nhà máy trong nước thu mua.

 

Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ

Thương lái vẫn xuất hàng sang Trung Quốc qua cảng Thành Đạt sau khi bị hạn chế bởi lũ dâng cao trong tuần cuối tháng 6.

Nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm thủy hải sản từ Việt Nam của các đối tác Trung Quốc trong mùa hè (mùa du lịch) tăng rất cao, để cung cấp cho người tiêu dùng Trung Quốc. Sản lượng đưa vào giao dịch từ đầu tháng 6 đến hết tháng 8 luôn tăng 50-60%. Vào dịp giữa mùa du lịch nhu cầu về nhập khẩu thủy hải sản từ Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái có thể tăng 2 lần so với bình thường.

1. Giá tôm sú, tôm thẻ nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Giá tôm thẻ tại Tây Nam Bộ

Giá tôm thẻ tại ĐBSCL đã nhích nhẹ trong tháng 6 và đầu tháng 7 sau khi giảm xuống mức thấp kỷ lục trong tháng 5.

Trong tháng 6, các thương lái thu mua vẫn chủ yếu bán cho các trung gian Trung Quốc tuy nhiên kén màu tôm; tôm màu xấu giá thấp hơn hoặc không mua. Theo các thương nhân, nhu cầu mua của các nhà máy lớn tại Việt Nam vẫn chưa mạnh mẽ do tồn kho còn khá cao. Trung bình tháng 6, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Sóc Trăng; Bạc Liêu; Cà Mau ở mức 73.024 đ/kg tăng 1,8% so với tháng 5.

Đầu tháng 7, giá tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục tăng nhẹ nhưng mức tăng không đáng kể. Nguồn cung tôm thẻ vụ 1 tại ĐBSCL chủ yếu còn cỡ lớn với lượng không nhiều; tôm thẻ vụ 2 chưa đạt cỡ thu hoạch. Tại ĐBSCL mặc dù có hiện tượng treo ao do giá tôm giảm mạnh mấy tháng qua nhưng theo các đại lý thức ăn sản lượng thức ăn tôm giảm không đáng kể do tôm cỡ lớn không bán được nên phải neo lại. Riêng tại Kiên Giang, do thả nuôi chủ yếu là tôm càng xanh nên sản lượng thức ăn tôm không giảm.

Lượng tôm thẻ thu mua của các nhà máy tại ĐBSCL, tấn/ngày

 Nhà máy/DNXK

Tuần 1 tháng 7, tấn/ngày

Kênh thu mua

Stapimex

50

Mua từ thương lái

Minh Phú Hậu Giang

70

Minh Phú Cà Mau

70

Thủy sản Bạc Liêu

8

Quốc Việt

30

Các nhà máy/cơ sở chế biến nhỏ

5

Trang Khanh

 

Mua trực tiếp từ dân

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tại Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu năm 2016-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Giá tôm sú tại Tây Nam Bộ

Tại Tây Nam Bộ, mặc dù tháng 6-7 đang thả nuôi tôm sú công nghiệp nhưng giá tôm sú sụt giảm mạnh. Tính đến đầu tháng 7, giá tôm sú cỡ 30 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 185.000 đ/kg giảm 1,33% so với tháng 6 và giảm 13% so với tháng 4.

Diễn biến giá tôm sú cỡ 30 con/kg; 40 con/kg tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá tôm thẻ tại khu vực miền Trung

Giá tôm tại khu vực miền Trung tiếp tục giảm trong tháng 6 bất chấp sự tăng giá nhẹ của khu vực miền Nam. Tại Ninh Thuận; Hà Tĩnh giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tháng 6 tiếp tục giảm 7-12% so với tháng 5.

Tại Nam Trung Bộ, đầu tháng 6 do ảnh hưởng bởi mưa bão nên dịch bệnh đốm trắng, đỏ thân trên tôm bùng phát (bệnh gan, phân trắng…) nên thả nuôi mới hạn chế. Tính đến cuối tháng 6, tôm thẻ thả nuôi từ 30-60 ngày chiếm khoảng 60%, 61-80 ngày chiếm khoảng 20%, trên 80 ngày chiếm khoảng 10%, còn lại là dưới 30 ngày. Tính đến đầu tháng 7, giá tôm thẻ đá cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận đã tăng 4% so với tháng 6 lên mức 83.000 đ/kg.

Tại Bắc Trung Bộ giá tôm liên tục giảm nên một số hộ đã thu xong tôm vụ này chưa có động thái thả mới lại, chờ giá tôm lên mới cân nhắc thả tôm vụ đông. Tại Hà Tĩnh, đầu tháng 7 giá tôm cỡ 100 con/kg tiếp tục giảm xuống mức 87.000 đ/kg (giảm 10% so với tháng 6). Theo chi cục quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản Hà Tĩnh, tính đến cuối tháng 5 diện tích nuôi tôm đã thả 1.732 ha/1.763 ha. Sản lượng thu hoạch trong tháng 5 năm 2018 đạt 931 tấn. Trong đó, sản lượng nuôi mặn lợ đạt 487 tấn. Tại các vùng nuôi thuộc xã Kỳ Thọ, huyện Kỳ Anh và xã Kỳ Ninh, thị xã Kỳ Anh, bị bệnh đốm trắng với diện tích 4,14 ha.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận, Hà Tĩnh năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá tôm nguyên liệu khu vực biên giới Việt- Trung

Nhu cầu tôm đá xuất Trung Quốc thường lớn hơn nhiều so với nhu cầu tôm sống nội địa, do đó khi thị trường Trung Quốc ăn hàng các thương lái tập trung thu mua tôm đá nuôi ao bạt với sản lượng lớn và đẩy giá tăng lên. Trong khi đó tôm sống đi nội địa với lượng bắt chỉ khoảng vài tạ/ngày sẽ khó bán hơn và thường là tôm nuôi ao đất thương lái cũng ít hỏi mua tôm này đi Trung Quốc. Theo đó, có thời điểm giá tôm sống bằng hoặc thấp hơn giá tôm đá.

Trong tháng 6-7, tại khu vực Quảng Ninh, sản lượng tôm thu hoạch vụ 1 gia tăng, chủ yếu tôm cỡ 100 con/kg nên nhu cầu mặc dù vẫn cao nhưng giá tiếp tục giảm. Trung bình tháng 6, giá tôm thẻ đá 100 con/kg tại Quảng Ninh ở mức 100.083 đ/kg giảm 12% so với tháng 5. Nửa đầu tháng 7 giá tiếp tục giảm 0,8% so với tháng 6 xuống mức trung bình 99.250 đ/kg.

Diễn biến giá tôm thẻ nguyên liệu (ướp đá) tại khu vực Đầm Hà (Quảng Ninh), đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá xuất khẩu tôm sú

Trong tháng 6 năm 2018 xuất khẩu tôm sú có mức giá trung bình đạt 14.003 USD/tấn giảm 1,53% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean và Bắc Mỹ tăng, còn xuất khẩu sang EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm sú chế biến tăng với các điều kiện giao hàng chính CFR. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú đông lạnh đối với điều kiện giao hàng C&F và FOB giảm lần lượt 3,48% và 18,76%.

Đơn giá xuất khẩu tôm sú đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 6 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T6/2018 (sơ bộ)

T6/2017

T6/2018 (sơ bộ)

T6/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

6,870

7,174

11,159

16,914

-4.24

-34.02

 

Bắc Mỹ

20,076

24,403

20,175

18,131

-17.73

11.27

 

EU

10,544

 

13,687

14,137

 

-3.18

 

Trung Đông

     

13,498

 

-100.00

 

Khác

11,260

12,480

13,295

13,883

-9.78

-4.24

 

Chung

13,198

15,697

14,126

14,636

-15.92

-3.48

CFR

Asean

22,090

 

14,262

13,001

 

9.70

 

Bắc Mỹ

20,107

19,508

18,074

17,121

3.07

5.57

 

EU

9,652

8,743

13,890

12,697

10.39

9.40

 

Trung Đông

   

13,383

13,254

 

0.97

 

Khác

16,205

14,983

13,952

14,685

8.15

-4.99

 

Chung

16,539

15,062

14,258

14,225

9.81

0.24

FOB

Asean

   

12,044

13,911

 

-13.42

 

EU

19,798

23,925

16,652

18,269

-17.25

-8.85

 

Trung Đông

 

13,880

 

14,647

-100.00

-100.00

 

Khác

9,847

10,327

8,687

10,486

-4.65

-17.16

 

Chung

17,635

19,254

10,821

13,318

-8.41

-18.76

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

5. Giá xuất khẩu tôm thẻ

Trong tháng 6 năm 2018 xuất khẩu tôm thẻ có mức giá trung bình đạt 9.334 USD/tấn giảm 4,64% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean tăng, trong khi xuất khẩu sang Bắc Mỹ, EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và tôm thẻ chế biến đều giảm đối với điều kiện giao hàng chính như C&F, CFR và FOB.

Đơn giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 6 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến (mã HS 1604)

Tôm đông lạnh (mã HS 0306)

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T6/2018 (sơ bộ)

T6/2017

T6/2018 (sơ bộ)

T6/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

10,952

10,712

6,501

9,354

2.24

-30.51

 

Bắc Mỹ

10,595

11,186

10,570

10,546

-5.28

0.23

 

EU

9,876

10,414

8,554

8,194

-5.17

4.40

 

Trung Đông

10,245

8,000

7,873

8,071

28.06

-2.45

 

Khác

9,997

10,870

8,565

9,500

-8.03

-9.84

 

Chung

10,299

10,910

8,648

9,429

-5.60

-8.28

CFR

Asean

12,804

9,165

8,297

6,973

39.70

18.99

 

Bắc Mỹ

11,062

12,182

9,807

10,837

-9.19

-9.50

 

EU

9,413

9,767

8,287

8,573

-3.62

-3.33

 

Nam Mỹ

4,700

     

 

 

 

Trung Đông

10,730

4,500

9,279

9,160

138.44

1.30

 

Khác

9,616

10,744

9,154

9,723

-10.49

-5.86

 

Chung

9,921

10,750

8,918

9,258

-7.71

-3.67

FOB

Asean

14,960

11,663

9,282

6,959

28.26

33.37

 

Bắc Mỹ

12,192

13,958

10,153

11,660

-12.65

-12.93

 

EU

10,615

12,859

8,101

10,001

-17.45

-19.00

 

Trung Đông

6,938

8,373

6,912

9,119

-17.14

-24.21

 

Khác

9,903

10,333

8,205

7,894

-4.17

3.94

 

Chung

12,002

12,066

8,404

8,454

-0.53

-0.59

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 5: XUẤT KHẨU TÔM CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam tháng 6/2018

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 6 năm 2018 đạt 26.796 tấn, kim ngạch 298,15 triệu USD tăng 1,22% về lượng và giảm 9,29% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Kể từ ngày 28/9/2018, tất cả sản phẩm tôm tẩm bột dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào thị trường Australia sẽ phải tuân theo yêu cầu nhập khẩu mới nhằm tuân thủ mức độ bảo vệ thích hợp của Australia (ALOP). Theo đó, các sản phẩm tôm tẩm bột dùng làm thực phẩm nhập khẩu vào thị trường Australia sẽ phải trải qua quá trình xử lý nhiệt ngắn (rán hoặc nướng) nhằm đảm bảo lớp bột phủ trở thành dạng cứng và bám chặt vào con tôm.

Ủy ban châu Âu (EC) sẽ xem xét  thêm 6 tháng nữa về khả năng dỡ bỏ “thẻ vàng” đối với ngành thủy sản Việt Nam, áp dụng từ năm 2017, là một cảnh báo cho chính phủ Việt Nam giải quyết khai thác thủy sản trái phép. Mặc dù EU đã ghi nhận một số cải thiện trong giải pháp cho các vấn đề đã xác định trong thời gian đánh giá từ 15 – 24/5/2018, Ủy ban châu Âu quyết định rằng họ sẽ xem xét dỡ bỏ thẻ vàng vào tháng 1/2019.

Kể từ ngày 1/1/2019, Việt Nam chính thức tham gia REX, cơ chế nhà xuất khẩu tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với các nước hưởng lợi trong khuôn khổ chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), theo đó đối với lô hàng xuất khẩu có trị giá dưới 6.000 Euro, nhà xuất khẩu được phép tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, đối với lô hàng xuất khẩu có trị giá từ 6.000 Euro trở lên, nhà xuất khẩu phải đăng ký REX với cơ quan có thẩm quyền của nước hưởng lợi trên nền hệ thống dữ liệu theo yêu cầu của EC. Đây là một trong những nội dung mới, quan trọng đối với các DN thủy sản xuất khẩu sang EU.

Ngày 7/6/2018, Cục Xuất Nhập Khẩu (Bộ Công Thương) ban hành công văn số 684/XNK-NS về việc Cô-ét tạm ngừng thông quan một số sản phẩm tôm có xuất xứ từ Việt Nam. Đại sứ quán Việt Nam tại Cô-ét có Công điện số 071/ĐSQ ngày 5/6/2018 thông báo về việc Bộ Công Thương Cô-ét đã ban hành Quyết định số 397 ngày 17/5/2018, theo đó Cô-ét tạm ngừng thông quan một số sản phẩm tôm và động vật giáp xác (tươi, ướp lạnh, đông lạnh, đã qua xử lý) có xuất xứ từ Việt Nam do xuất hiện virus bệnh đốm trắng (WSSV) và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) ở tôm.

Lượng (tấn) và kim ngạch (triệu USD) xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2017-2018

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp. (*) sơ bộ

2. Xuất khẩu tôm theo chủng loại tháng 6/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo chủng loại tháng 6 năm 2018 so với cùng kỳ 2017 (sơ bộ)

 Chủng loại

 ĐL/CB

 T6/2018

 T6/2017

 tỷ trọng lượng, %

 % thay đổi về

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 T6/2018

 T6/2017

 lượng

 trị giá

 Tôm thẻ

 CB

8,814

99,105,800

7,627

92,350,675

32.89

28.81

15.57

7.31

 ĐL

11,282

109,442,191

11,562

124,735,698

42.10

43.67

-2.42

-12.26

 Tổng

20,097

208,547,991

19,188

217,086,372

75.00

72.48

4.73

-3.93

 Tôm sú

 CB

422

8,309,050

404

7,081,225

1.58

1.52

4.67

17.34

 ĐL

4,143

60,271,338

4,341

66,440,706

15.46

16.40

-4.56

-9.29

 Tổng

4,565

68,580,388

4,745

73,521,931

17.04

17.92

-3.78

-6.72

 Tôm khác

 CB

1,310

12,033,786

1,643

14,653,410

4.89

6.21

-20.27

-17.88

 ĐL

823

8,989,089

897

23,439,050

3.07

3.39

-8.21

-61.65

 Tổng

2,134

21,022,874

2,540

38,092,459

7.96

9.60

-16.01

-44.81

 Tổng

 

26,796

298,151,253

26,473

328,700,763

100.00

100.00

1.22

-9.29

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu tôm theo thị trường và theo khu vực tháng 6/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường từ 1/6-30/6/18

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

USA

4,891

53,731,657

Korea

3,794

37,683,790

China

3,620

35,369,820

Japan

3,156

48,397,334

Netherlands

1,655

17,567,706

Singapore

1,308

15,712,946

UK

1,175

13,952,016

HongKong

1,072

10,527,002

France

761

8,351,575

Germany

662

7,567,432

Canada

634

8,372,775

Belgium

634

6,538,857

Australia

633

6,478,584

Taiwan

497

4,363,974

Denmark

436

5,032,701

Switzerland

259

4,131,902

Philippines

192

1,365,658

Italy

156

1,112,984

Czech Republic

135

862,752

New Zealand

127

1,115,517

Khác

997

9,914,272

Tổng

26,796

298,151,253

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường trong tháng 5-6/2018

 

Tháng 6/2018

Tháng 5/2018

 % thay đổi về

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

USA

4,891

53,731,657

3,602

40,594,496

35.79

32.36

Korea

3,794

37,683,790

2,879

30,924,704

31.79

21.86

China

3,620

35,369,820

4,495

40,626,438

-19.47

-12.94

Japan

3,156

48,397,334

3,526

53,894,442

-10.47

-10.20

Netherlands

1,655

17,567,706

2,154

22,459,887

-23.16

-21.78

Singapore

1,308

15,712,946

196

2,288,164

566.63

586.71

UK

1,175

13,952,016

1,284

16,269,725

-8.50

-14.25

HongKong

1,072

10,527,002

896

10,748,380

19.65

-2.06

France

761

8,351,575

608

7,544,636

25.15

10.70

Germany

662

7,567,432

1,195

12,825,805

-44.63

-41.00

Canada

634

8,372,775

947

12,486,886

-32.99

-32.95

Belgium

634

6,538,857

1,152

14,113,576

-44.92

-53.67

Australia

633

6,478,584

879

9,600,256

-27.94

-32.52

Taiwan

497

4,363,974

567

5,152,116

-12.22

-15.30

Denmark

436

5,032,701

179

2,558,960

143.09

96.67

Switzerland

259

4,131,902

171

2,785,287

51.66

48.35

Philippines

192

1,365,658

208

1,540,649

-7.67

-11.36

Italy

156

1,112,984

295

2,331,065

-47.18

-52.25

Czech Republic

135

862,752

21

110,549

535.52

680.42

New Zealand

127

1,115,517

178

1,606,522

-29.02

-30.56

Khác

997

9,914,272

1,403

15,748,633

-28.91

-37.05

Tổng

26,796

298,151,253

26,834

306,211,175

-0.14

-2.63

Nguồn: TCHQ sơ bộ

Lượng (tấn) và giá trị (USD) xuất khẩu tôm Việt Nam theo khu vực trong tháng 6 năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 (sơ bộ)

Khu vực

T6/2018

T6/2017

% thay đổi

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Asean

1,590

17,818,662

472

4,385,326

236.93

306.32

Bắc Mỹ

5,525

62,104,432

6,328

76,644,608

-12.69

-18.97

EU

6,303

69,629,104

5,933

67,507,281

6.23

3.14

Nam Mỹ

10

44,750

-

36,067

 

24.07

Trung Đông

285

2,737,829

490

4,859,045

-41.81

-43.66

Khác

13,083

145,816,476

13,250

175,268,436

-1.26

-16.80

Tổng

26,796

298,151,253

26,473

328,700,763

1.22

-9.29

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 6: THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG THÁNG 6/2018
1. Sự kiện trong nước

+ Theo thống kê sơ bộ của các ngành chức năng, vụ mùa năm 2018, nhu cầu con giống tôm càng xanh toàn tỉnh Cà Mau ước lên đến khoảng 200 triệu con, trong đó, giống tôm càng xanh toàn đực khoảng trên 20 triệu con, tôm càng xanh sản xuất từ bố mẹ tự nhiên (giống không xác định tỷ lệ đực/cái) khoảng 180 triệu con.

+ Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng, vụ tôm năm 2018, tính đến ngày 30/4 có 7 tổ chức tín dụng đầu tư vốn cho doanh nghiệp và 11.601 hộ nuôi tôm, với tổng dư nợ cho vay nuôi và chế biến tôm toàn tỉnh đến cuối tháng 4/2018 là 1.789,6 tỉ đồng, chiếm tỷ trọng 6,4% tổng dư nợ trên địa bàn toàn tỉnh.

+ Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y Kiên Giang, chỉ trong hơn 2 tuần đầu tháng 6/2018 có hơn 4.000 ha tôm nuôi bị thiệt hại, nâng tổng diện tích nuôi tôm thiệt hại toàn tỉnh từ đầu vụ đến nay hơn 7.350 ha, với trên 400 ổ dịch bệnh phát sinh ở 103 ấp, 32 xã, 9 huyện. Các bệnh gây hại tôm nuôi, gồm: Đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp tính, bệnh còi, bệnh phân trắng và sốc môi trường, tập trung nhiều ở các huyện vùng sản xuất U Minh Thượng là huyện An Minh, huyện An Biên và huyện U Minh Thượng.

+ Ngày 12/6, Hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã đề xuất một số giải pháp để đạt được tăng trưởng bền vững cho cả sản xuất và xuất khẩu tôm. Trong đề xuất lên chính phủ và Bộ NNPTNT, VASEP cho biết các thương nhân Trung Quốc đang tăng mạnh thu mua các lô lớn tôm cỡ lớn từ Ấn Độ và Ecuador ở mức giá thấp, thay vì tôm Việt Nam. Do đó, VASEP khuyến nghị chính phủ tăng cường kiểm soát hoạt động trung chuyển tôm Ấn Độ và Ecuador qua cảng Hải Phòng để sang Trung Quốc nhằm tối thiểu hóa gian lận thương mại và thu hút thương nhân Trung Quốc mua tôm Việt Nam như theo điều kiện thông thường.

+ Toàn thị xã Ba Đồn (Quảng Bình) có hơn 200 ha diện tích ao thả nuôi tôm, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, do thời tiết diễn biến phức tạp, nguồn nước không bảo đảm… nên trong giữa tháng 6 đã xuất hiện dịch bệnh ở một số diện tích nuôi. Đặc biệt, phường Quảng Thuận có gần 2 ha ao nuôi tôm với 50 vạn con tôm giống bị bệnh đốm trắng.

+ Ngày 18/6, Neovia Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất (BAP) cho 2 nhà máy sản xuất thức ăn tôm tại Đồng An và thức ăn cá tại Bình Dương. Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp nhà máy thức ăn tôm của Neovia Việt Nam nhận được chứng chỉ uy tín này.

+ Giá tôm thẻ tại Việt Nam giảm mạnh cùng với xu hướng trên thị trường thế giới và cạnh tranh mạnh từ các nhà xuất khẩu tôm khác. Bất chấp tình hình này, nhà chế biến tôm hàng đầu Việt Nam là Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (MPC) cho biết sẽ tăng giá tôm thêm 10% trong tháng 6 và 30% trong tháng 9 do nhu cầu thế giới có thể tăng trong thời gian tới.

+ Ước tính sản lượng tại 3 vùng nuôi tôm công nghệ cao của Nghi Xuân, Hà Tĩnh (Hợp tác xã NTTS Xuân Thành - Xuân Phổ, Khu nuôi tôm khảo nghiệm của Trường Đại học Vinh Xuân Trường và vùng nuôi tôm ở xã Xuân Đan) trong vụ tôm năm 2018 là 260 tấn, doanh thu 25 tỷ đồng.

+ Ngày 27/6, Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Phú (MPC) đã quyết định chốt danh sách cổ đông phát hành hơn 68,46 triệu cổ phiếu thưởng do tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu.

+ Để đạt được các chỉ tiêu về ngành tôm được phân bổ trong Kế hoạch hành động Quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ, Cà Mau đã triển khai kế hoạch nuôi tôm tập trung. Theo đó, từ năm 2017 - 2020, Cà Mau sẽ có tổng diện tích nuôi tôm nước lợ là 279.000ha; diện tích nuôi tôm càng xanh đạt 15.000ha. Với sản lượng nuôi tôm nước lợ khoảng 233.000 tấn, tôm càng xanh khoảng 4.500 tấn.

+ Ngày 3/7, CTCP Thực phẩm Sao Ta (HOSE: FMC) đã công bố tình hình kinh doanh 6 tháng đầu năm 2018 với sản lượng chế biến đạt 7.787 tấn tôm đông lạnh các loại, tăng gần 19% so cùng kỳ 2017. Doanh số tiêu thụ đạt 76,6 triệu USD, cũng tăng khá 25%.

2. Sự kiện quốc tế

+ Ông Robins McIntosh, phó chủ tịch của Charoen Pokphand Foods cho biết sự giảm giá tôm trong thời gian gần đây có nguyên nhân sâu xa do hội chứng tử vong sớm (EMS) ở Đông Nam Á đầu thập niên 2010. Theo đó, sau đợt bùng phát dịch EMS khiến nguồn cung thiếu hụt, giá tôm tăng cao, các nước sản xuất tôm đã đổ xô đầu tư vào ngành. Điều đó giúp nông dân tăng sản xuất mặc dù chi phí cao hơn, dẫn đến sự bùng nổ sản lượng tôm, khiến cung vượt cầu trong thời gian này. Ông McIntosh cũng cho biết rằng, mức tiêu thụ tôm của châu Mỹ đang tăng khoảng 2%, tiêu thụ của Nhật Bản giảm và trong khi nhu cầu của châu Âu ổn định.

+ Tại Hội nghị chuyên đề Nuôi trồng thủy sản Guatemala, nước này dự kiến ​​sẽ sản xuất khoảng 15.000-20.000 tấn tôm trong năm 2018. Guatemala định hướng phát triển ngành tôm theo mô hình của các nước châu Á như Thái Lan và Việt Nam, cho phép nông dân có 2-3 trang trại tôm. Mô hình của Ecuador, dựa trên các ao lớn hơn và mật độ thấp hơn không phù hợp với Guatemala, một phần do chi phí đất đai. 

+ Ông Jose Antonio Camposano, chủ tịch điều hành của Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador cho biết ngành nuôi tôm toàn cầu đang bị mắc kẹt trong về “giá chạm đáy”. Nguyên nhân giá tôm giảm theo ông là do thị trường quá phụ thuộc vào nguồn cung, thiếu đi tính bền vững.

+ CEO Jim Gulkin của Tập đoàn Siam Canada cho biết sản lượng tôm Ấn Độ trong năm 2018 có khả năng cao sẽ giảm do giá tôm thấp và lượng hàng tồn kho của Mỹ ở mức cao. Gulkin cũng cho biết sản lượng tôm Thái Lan cũng sẽ giảm nhiều do nông dân đang sợ thua lỗ. Đối với Indonesia, ông dự đoán sản lượng của nước này sẽ đạt 335.000 tấn trong năm 2018, tăng so với mức 305.000 tấn của năm 2017. Sau tháng ăn chay Ramadan và kỳ nghỉ lễ Eid El Fitr nhiều trang trại của Indonesia đã cạn kiệt hàng và giá tôm tại đây sẽ tăng lên trong thời gian tới.

+ Trong khi ngành tôm Ấn Độ đang muốn giảm sản lượng để đối phó với vấn đề dư cung và giá thấp, thì các cơ sở xuất khẩu của nước này lại đi ngược lại. Các nhà xuất khẩu sẽ mở rộng cơ sở nuôi tôm thẻ bố mẹ và họ ước tính nó có thể giúp tăng sản lượng tôm Ấn Độ lên mức 350.000 tấn mỗi năm.

+ Nhà sản xuất thức ăn thủy sản hàng đầu Trung Quốc Guangdong Haid đã ký một thỏa thuận đối tác với nhà cung cấp công nghệ sản xuất TACN từ Thụy Sĩ Bühler để xây dựng một nhà máy sản xuất thức ăn cho tôm tại Indonesia. Tian Li, phó chủ tịch Haid cho biết công ty sẽ tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với thức ăn thủy sản chất lượng cao trên khắp châu Á.

+ Ngày 22/6, Cơ quan phát triển xuất khẩu sản phẩm thủy sản Ấn Độ (MPEDA) đã mở một trại sản xuất tôm sú mới ở miền tây nước này, trong nỗ lực nhằm tăng sản lượng loài này. Họ cho biết muốn có 20 triệu con tôm sú giống khỏe mạnh, không dịch bệnh được sản xuất hàng năm tại khu phức hợp nuôi trồng thủy sản đa loài mới được xây dựng ở Vallarpadam, Kerala. Theo MPEDA tôm sú sẽ mang lại lợi nhuận khổng lồ vì nhu cầu và giá tôm sú chất lượng cao rất cao trên thị trường quốc tế, đặc biệt là Nhật Bản và Liên minh châu Âu.

+ Nhà sản xuất và đóng gói tôm lớn của Indonesia Panca Mitra Multiperdana có kế hoạch xây ựng một nhà máy chế biến mới tại Situbondo, East Java trong năm 2019. Hiện công ty đang vận hành 4 nhà máy tại Situbondo cùng với 16 cơ sở đông lạnh và 2 nhà máy khác tại Nunukan, North Kalimantan với 5 cơ sở đông lạnh. Tất cả 6 nhà máy này có tổng công suất hàng năm 42.000 tấn và công suất hoạt động hiện là 70%.

+ Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản (SIMP) có thể sẽ thúc đẩy xuất khẩu tôm của Ấn Độ sang Mỹ do phần lớn nguồn tôm của Ấn Độ là từ các trại nuôi được đăng ký so với nguồn tôm xuất sang các nước sản xuất tôm khác như Việt Nam, theo nhận định của công ty chuyên xếp hạng ICRA. ICRA ước tính rằng khoảng 2.433 cơ sở nuôi trồng thủy sản, sử dụng tổng cộng 12.509ha, đã đăng ký với Cơ quan Nuôi trồng Thủy sản Ven biển (CAA) tính đến tháng 3/2018.

+ Dự án liên doanh giữa Nutreco và Tập đoàn West Coast của Ấn Độ dự kiến ​​sẽ thúc đẩy cả ngành tôm và cá rô phi ở bang Gujarat tiến xa hơn. Nhà máy mới sẽ được thiết kế với công suất 100.000 tấn thức ăn chăn nuôi và dự kiến ​​sẽ mở trong quý đầu tiên của năm 2020.

+ Theo Undercurrent News mưa gió và bão lớn trong tuần cuối tháng 6 đang khiến ngư dân Argentina phải trì hoãn đánh bắt vụ tôm mới. Điều này khiến cho nguồn cung thiếu hụt, giá tôm Argentina tăng cao. Tổng cộng đã có 68.081 tấn tôm được đánh bắt ở Argentina từ tháng 1 đến 3 tuần đầu tháng 6, giảm 20% so với 6 tháng đầu năm 2017.

+ Từ khi Ấn Độ bắt đầu xuất khẩu tôm GTGT cao từ đầu năm 2010, cơ quan xếp hạng ICRA cho biết kim ngạch xuất khẩu tôm GTGT tăng trưởng hàng năm 81%/năm từ 2.229 tấn năm 2013 lên 23.973 tấn năm 2017. Trong 4 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu tôm GTGT của Ấn Độ sang Mỹ tăng 16,5%, theo ICRA cho hay. Trong tương lai gần, với các nhà máy chế biến tôm GTGT đang xây dựng ngày càng tăng, ICRA dự báo tỷ trọng xuất khẩu tôm GTGT Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng.

+ Xuất khẩu thủy sản trong năm tài khóa 2017-2018 của Ấn Độ đã đạt mức cao kỷ lục với lượng đạt 1,38 triệu tấn, trị giá 7,1 tỷ USD. Tôm đông lạnh tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu thủy sản hàng đầu của Ấn Độ và thúc đẩy tăng trưởng, chiếm 41,10% về lượng và 68,46% về trị giá trong năm tài khóa. Xuất khẩu tôm Ấn Độ đã tăng 30,26% về lượng và 30,10% về giá trị so với năm tài khóa 2016-2017.

+ Mạng lưới nuôi trồng thủy sản Nam Á Aquaconnect cho biết mối quan tâm của Ấn Độ đối với nuôi tôm sú - do lợi nhuận về tôm thẻ giảm trong năm 2018 - là có thật. Cơ quan Phát triển Xuất khẩu Thủy sản (MPEDA) đang ​​thúc đẩy sản xuất tôm sú giống ở Kerala. Ngoài ra, gần 5.000 mẫu ao ở bang Andhra cho thấy lợi nhuận nuôi tôm sú tốt hơn tôm thẻ. Hiệp hội Nông dân nuôi tôm Pattukottai ở Tamil Nadu cho biết việc đa dạng hóa các loại tôm nuôi là rất cần thiết, giá tôm sú cao hơn từ 30 đến 40% so với tôm thẻ trong năm 2018. Cùng với đó, mật độ thả nuôi thấp sẽ đỡ chi phí hơn cho các hộ nông dân nhỏ. Dự kiến vụ thu hoạch hổ đen sẽ bắt đầu từ tháng 10/2018 ở Ấn Độ.