Tôm 5/2018 - Thị trường tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục giảm xuống mức thấp kỷ lục trong hơn 3 năm qua

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Tôm 5/2018 - Thị trường tôm thẻ tại ĐBSCL tiếp tục giảm xuống mức thấp kỷ lục trong hơn 3 năm qua

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 5

Thị trường thế giới

  • Sự sụt giảm giá tôm thẻ của Thái Lan trong những tháng gần đây ​​sẽ khiến sản lượng giảm chứ không tăng như đã được dự báo trước đó. Cũng vì thế mà kế hoạch nâng tổng sản lượng tôm tăng 10% so với năm 2017 có thể sẽ bị ảnh hưởng.
  • Tính trung bình tháng 5/2018, giá tôm thẻ Thái Lan cỡ 100 con/kg đạt 107 baht/kg, giảm 1 bath/kg, trong khi giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg có mức 114 baht/kg, giảm 10 bath/kg so với trung bình tháng 4/2018. Tuy nhiên giá tôm tại Thái Lan đã tăng trở lại đầu tháng 6.
  • Kể từ giữa tháng 5 do bị ảnh hưởng bởi thời tiết mưa nên tôm thẻ bị dịch bệnh gia tăng, khiến giá tôm giảm rõ rệt hơn. Trước tình hình này, Trung Quốc sẽ bắt đầu thu hoạch tôm sớm. Tuy nhiên, ở một vài khu vực, dự báo tỷ lệ sống của tôm trong vụ này chỉ khoảng 10%.

Thị trường Việt Nam

  • Thị trường tôm thẻ tại ĐBSCL trong tháng 5 tiếp tục giảm xuống mức thấp kỷ lục trong hơn 3 năm qua. Đầu tháng 6 giá nhích nhẹ nhưng chưa đáng kể.
  • Theo số liệu thống kê hàng năm, xuất khẩu tôm của Việt Nam thường gia tăng từ tháng 4-tháng 10. Nhìn lại số liệu các tháng đầu năm cũng cho thấy: Trong 4 tháng đầu năm 2017 xuất khẩu tôm tăng 14,5% về lượng trong đó khu vực EU tăng gần 40%; Trung Quốc tăng 28,2%; Hàn Quốc tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 4 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc đã vươn lên là nước nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam với lượng nhập đạt 13,38 nghìn tấn tăng 28,18% so với cùng kỳ năm 2017. Nhật Bản là thị trường đem lại giá trị cao nhất trong 4 tháng đầu năm với 192 triệu USD; Mỹ đạt 157 triệu USD và Trung Quốc 119,2 triệu USD.
  • Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, trong 5 tháng đầu năm 2018, sản lượng tôm thẻ của cả nước đã tăng khoảng 48% so với cùng kỳ năm 2017.

 

PHẦN 1: BÌNH LUẬN THỊ TRƯỜNG

Giá tôm trên thị trường thế giới trong tháng 5 vẫn chưa chạm đáy nên chính phủ và hiệp hội một số nước đã can thiệp để giảm lỗ cho người nuôi.

Chính sách hỗ trợ người nuôi tôm giảm lỗ do giá tôm trong tháng 5 xuống mức thấp kỷ lục

Ấn Độ

Để giảm chi phí sản xuất cho người nuôi, ngày 26/5, thống đốc bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) cho biết sẽ giảm một nửa tiền điện cho các hộ nuôi trồng thủy sản trong vòng 1 năm. Theo ước tính, với chương trình này, chính phủ sẽ gánh giúp 3,5 tỷ INR (51,5 triệu USD) cho nông dân.

Thái Lan

Từ ngày 4/5 đến 30/6, công ty CP Foods Thái Lan cho biết sẽ giảm giá thức ăn tôm và giá tôm giống nhằm “giải cứu” giá tôm đang xuống rất thấp, hỗ trợ giảm chi phí sản xuất cho nông dân nuôi tôm của Thái Lan.

Công ty đã giảm giá tôm giống từ 0,19 THB, xuống còn 0,16 THB, trong khi một túi 25 kg thức ăn cho tôm đã được giảm giá xuống còn 25 THB (0,79 USD).

Thái Lan

Ngày 1/6, Chính phủ Thái Lan xác nhận Hiệp hội thực phẩm đông lạnh Thái Lan (TFFA) và nông dân đã thống nhất “mức giá tối thiểu” cho tôm nuôi trong nước. Tuy nhiên Chính phủ nước này cho biết sẽ không cung cấp bất kỳ hỗ trợ tài chính nào cho nông dân. Theo báo cáo chính thức được công bố trên phương tiện truyền thông Thái Lan, thời gian để các nhà chế biến đăng ký tham gia chương trình đã diễn ra từ ngày 14-18/5 và khối lượng thu mua là 10.000 tấn. Kế hoạch này diễn ra từ ngày 25/5 đến 23/7 (60 ngày).

Trong tháng 5/2018, giá tôm thẻ chân trắng ở Ấn Độ tiếp tục ở mức thấp, để giảm tổn thất cho nông dân, các hiệp hội ngành đã xây dựng “mức giá thu mua tối thiểu” để giảm lỗ. Tuy nhiên sự thất bại trong việc thực hiện nâng giá thu mua tôm tối thiểu từ 30 INR lên 100 INR đã buộc một số nông dân nuôi tôm Ấn Độ tạm dừng sản xuất nuôi tôm vụ 2. Tháng 5/2018, chính phủ bang Andhra Pradesh đã bắt đầu có các tín hiệu can thiệp vào vấn đề giá tôm bán tại ao thấp hơn chi phí sản xuất, sau khi các nhà đóng gói tôm thất bại trong đảm bảo giá tôm tối thiểu cho nông dân. Để giảm chi phí sản xuất cho người nuôi, ngày 26/5, thống đốc bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) cho biết sẽ giảm một nửa tiền điện cho các hộ nuôi trồng thủy sản trong vòng 1 năm. Theo ước tính, với chương trình này, chính phủ sẽ gánh giúp 3,5 tỷ INR (51,5 triệu USD) cho nông dân. Thống đốc bang Andhra Pradesh cũng kêu gọi người nuôi tôm bảo vệ môi trường, và áp dụng các phương pháp khác hơn là sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh do vi khuẩn gây ra. Tồn dư của dư lượng kháng sinh có thể dẫn đến áp đặt các hạn chế về xuất khẩu, trong bối cảnh tiêu thụ tôm của Ấn Độ còn quá phụ thuộc vào thị trường bên ngoài; tiêu thụ nội địa thấp. Việc tiêu thụ hải sản ở các thành phố và thị trấn ven biển phía nam đã tăng nhẹ trong vài năm qua, nhưng nó không đáng kể. Ở bang phía bắc Bangzhou, tiêu thụ hải sản không đáng kể. Mặc dù Ấn Độ có tiềm năng tiêu thụ nội địa rất lớn, với dân số trên 1,3 tỷ người. "Bây giờ là lúc điều chỉnh mô hình tiêu thụ nội địa, kích thích nhu cầu trong nước và cứu người nuôi tôm.” - Theo Rajamanohar đồng sáng lập Aquaconnect cho hay.

Còn tại Thái Lan, theo ông Satasap Viriyanantawanit, tổng giám đốc của Siam Canadian Group, các nhà máy chế biến tôm Thái Lan đang phải chịu mức sụt giảm doanh thu ít nhất 50% so với cùng kỳ năm 2017. Đây là thời điểm tồi tệ nhất trong lịch sử ngành công nghiệp tôm của Thái Lan. Do đó, ngày 1/6, Chính phủ Thái Lan xác nhận Hiệp hội thực phẩm đông lạnh Thái Lan (TFFA) và nông dân đã thống nhất “mức giá tối thiểu” cho tôm nuôi trong nước. Tuy nhiên Chính phủ nước này cho biết sẽ không cung cấp bất kỳ hỗ trợ tài chính nào cho nông dân. Theo báo cáo chính thức được công bố trên phương tiện truyền thông Thái Lan, thời gian để các nhà chế biến đăng ký tham gia chương trình đã diễn ra từ ngày 14-18/5 và khối lượng thu mua là 10.000 tấn. Kế hoạch này diễn ra từ ngày 25/5 đến 23/7 (60 ngày).

Mức phí tối thiểu này sẽ cao hơn khoảng 20% ​so với mức hiện tại. Cụ thể:

 Kích cỡ

Giá Bath/kg

Giá Vnd/kg (1 bath = 714 Vnd)

Giá Usd/kg (1 bath=0.03129 USD)

40 con/kg

170 bath/kg

121,380

5.32

50 con/kg

160 bath/kg

114,240

5.01

60 con/kg

145 bath/kg

103,530

4.54

70 con/kg

135 bath/kg

96,390

4.22

80 con/kg

130 bath/kg

92,820

4.07

90 con/kg

125 bath/kg

89,250

3.91

100 con/kg

125 bath/kg

89,250

3.91

Đầu tháng 6, tại một số nước sản xuất tôm trên thế giới, giá tôm nguyên liệu có dấu hiệu nhích nhẹ với một số kích cỡ.

Tại Thái Lan chương trình "giá tôm tối thiểu" đã giúp cho giá tôm tăng từ cuối tháng 5 đầu tháng 6. Với tôm thẻ cỡ 60 con/kg ngày 05/06-08/06 ở mức 140 Baht/kg tăng 10 Baht/kg so với cuối tháng 5. Tuy nhiên, vấn đề đối với Thái Lan là cho dù trong giai đoạn giá tôm giảm, giá của họ vẫn cao hơn Ấn Độ và Indonesia, đồng nghĩa với việc đơn đặt hàng từ các nhà nhập khẩu ở Mỹ sẽ giảm. Một số nguồn tin cho rằng sản lượng trong năm nay của Thái Lan vẫn ổn định so với năm ngoái, trong khi một số khác cho biết sản lượng của Thái Lan có thể giảm 10-20% vào năm 2018. Theo ông Satasap Viriyanantawanit, tổng giám đốc của Siam Canadian Group, cho biết sản lượng tôm của Thái Lan có thể thấp hơn 20% so với dự đoán ban đầu xuống mức 250 nghìn tấn. Còn theo Sunjint Thammasart, giám đốc điều hành của Charoen Pokphand Foods, sản lượng tăng hoặc giảm 10% so với năm 2017. Sản lượng năm 2017 của Thái Lan 300 nghìn tấn.

Tại Ấn Độ, giá tôm cỡ 100 con/kg tại đầm trong tuần 22 (28/5-2/6/2018) cũng tăng lên mức 180 INR/kg so với mức 165 INR/kg trong tuần trước đó. Với các kích cỡ khác cũng tăng 10-15 INR/kg. Đầu năm nay, Hội nghị thị trường thủy sản toàn cầu (GSMC) được tổ chức tại Miami, Florida, dự đoán sản lượng tôm của Ấn Độ sẽ là 697.000 tấn cho năm 2017/2018 và 757.000 tấn cho năm 2018/2019. Tuy nhiên, giá giảm xuống thấp thời gian qua có thể sẽ làm thay đổi dự báo trên. Còn theo Tổ chức Nông nghiệp nước ngoài của Liên Hợp Quốc (FAO) dự đoán sản lượng tôm của Ấn Độ sẽ tăng 10% trong năm 2018. Điều này ngược với các dự báo của ngành tôm Ấn Độ rằng sản lượng tôm của nước này sẽ giảm 20% trong năm 2018. Báo cáo của FAO cũng lưu ý rằng hàng tồn kho tôm của Mỹ vẫn duy trì ở mức cao trong đầu năm 2018 cùng với việc các nhà nhập khẩu nên thận trọng với kinh tế Mỹ. Trong khi đó tại châu Âu, các nhà nhập khẩu sẽ chờ đợi giá tôm thấp hơn với việc sản lượng ở các nước sản xuất dự kiến​​ tăng, còn nhập khẩu của Nhật Bản sẽ thấp theo mùa nhưng tiêu thụ tôm dự kiến ​​sẽ tăng trong mùa lễ hội xuân.

Tại Việt Nam, giá tôm nguyên liệu tại trong tháng 5 cũng tiếp tục sụt giảm tại các khu vực sản xuất chính. Tại Tây Nam Bộ do nguồn cung tiếp tục gia tăng nên giá tôm thẻ và tôm sú đá đều sụt giảm đặc biệt đối với tôm thẻ cỡ lớn 50-90 con/kg có những ngày các thương lái không thu mua nên giá khá thấp. Trong khi đó, với tôm thẻ cỡ 120-200 con/kg thương lái tăng nhu cầu nên giá ít biến động tuy nhiên tôm cỡ nhỏ chủ yếu bán cho các nhà máy có liên doanh với Trung Quốc trong khi đó các nhà máy Việt Nam gần như không thu mua. Không những thế tôm cỡ nhỏ dưới 100 con/kg chủ yếu do tôm gặp sự cố người dân mới bán.

Tính đến cuối tháng 5 giá tôm nguyên liệu tại Việt Nam đã giảm giá tuần thứ 9 liên tiếp trong bối cảnh nguồn cung nội địa chuẩn bị gia tăng. Dự kiến các khu vực sản xuất chính sẽ thu hoạch tôm vụ 1 từ tháng 5 đến tháng 10 trong đó các tháng cao điểm thu hoạch từ tháng 6-tháng 8. Tuy nhiên nhu cầu cũng được dự báo sẽ gia tăng. Theo một số nhà nhập khẩu, các đơn hàng dài hạn đã và đang được ký kết do lợi thế giá đang ở mức thấp. Còn theo số liệu thống kê hàng năm, xuất khẩu tôm của Việt Nam thường gia tăng từ tháng 4-tháng 10. Nhìn lại số liệu các tháng đầu năm cũng cho thấy: Trong 4 tháng đầu năm 2017 xuất khẩu tôm tăng 14,5% về lượng trong đó khu vực EU tăng gần 40%; Trung Quốc tăng 28,2%; Hàn Quốc tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2017.Trong 4 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc đã vươn lên là nước nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam với lượng nhập đạt 13,38 nghìn tấn tăng 28,18% so với cùng kỳ năm 2017. Nhật Bản là thị trường đem lại giá trị cao nhất trong 4 tháng đầu năm với 192 triệu USD; Mỹ đạt 157 triệu USD và Trung Quốc 119,2 triệu USD.

Đầu tháng 6 giá tôm thẻ tại Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng đã nhích nhẹ mặc dù sức mua chậm, các nhà máy thu mua số lượng không nhiều. Trong khi đó tại Bắc Trung Bộ; Nam Trung Bộ; Bắc Bộ giá tôm thẻ vẫn tiếp tục giảm. Giá tôm tại ĐBSCL nhích lên sau khi đã chạm mốc thấp nhất trong vòng hơn 3 năm qua. Ngoài ra, giá tăng có thể do triển vọng lạc quan về xuất khẩu trong vòng 5 tháng tiếp theo. Theo số liệu TCHQ, xuất khẩu tôm của Việt Nam trong tháng 6-10 tăng trung bình khoảng 43% so với 5 tháng đầu năm. Cụ thể trong năm 2017, xuất khẩu tôm từ tháng 6-10 đã tăng 50,15% so với 5 tháng đầu năm. Còn trong năm 2016 và năm 2015 mức tăng tương ứng là 36,1% và 47,93%.

Ông Nguyễn Văn Tân – Phó Tổng giám đốc Tổng CT Thủy sản Việt Nam (Seaprodex) dự báo đến tháng 8 hoặc tháng 9 giá tôm nguyên liệu sẽ hồi phục do người dân không còn nuôi thả tôm nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, nếu tình hình người nuôi ngưng thả tôm nuôi kéo dài, khả năng các nhà máy chế biến tôm sẽ thiếu hụt nguyên liệu từ đầu quý III. Theo đó, giá tôm nguyên liệu Việt Nam dự báo quay đầu tăng mạnh, gây thêm khó khăn cho kế hoạch tiêu thụ tôm chế biến.

Ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Tập đoàn thủy sản Minh Phú, dự kiến từ tháng 6 đến tháng 10, lượng hàng Minh Phú bán ra mỗi tháng sẽ tăng hơn từ 20-50% so với lượng hàng ký hợp đồng trong 5 tháng đầu năm.

VASEP dự báo xu hướng bắt đáy sẽ bắt đầu từ giữa tháng 6 khi lượng tôm nguyên liệu cung ra giảm mạnh và sẽ xuất hiện xu hướng tăng giá trở lại nhưng sẽ không thể ngang bằng năm 2017.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu TCHQ

Lượng tôm nhập khẩu của Việt Nam từ 2014-2018, tấn

 

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018 (ước tính)

Từ tháng 1-5

101,579

84,297

95,926

99,129

109,621

 Từ tháng 6-10

140,337

124,698

130,559

148,837

 

% thay đổi

38.16

47.93

36.10

50.15

 

Nguồn: AgroMonitor – tổng hợp số liệu TCHQ

Xuất khẩu tôm thẻ của Việt Nam từ 1/2014-4/2018, tấn

Nguồn: AgroMonitor – tổng hợp số liệu TCHQ

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tại các khu vực sản xuất chính năm 2016-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Thị trường tôm Thái Lan
1.1. Diễn biến giá

Sau khi tăng trong 2 tháng đầu năm 2018, giá tôm Thái Lan đã liên tục quay đầu giảm mạnh trong tháng 3 và tháng 4 đối với tất cả các kích cỡ. Xu hướng giảm giá này tiếp tục kéo dài đến trung tuần tháng 5.

Tính trung bình tháng 5/2018, giá tôm thẻ Thái Lan cỡ 100 con/kg đạt 107 baht/kg, giảm 1 bath/kg, trong khi giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg có mức 114 baht/kg, giảm 10 bath/kg so với trung bình tháng 4/2018. Tuy nhiên giá tôm tại Thái Lan đã tăng trở lại đầu tháng 6.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg và 100 con/kg tại trang trại Thái Lan năm 2017-2018, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Thương mại

Ngày 18/5, Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định sẽ giữ nguyên thẻ vàng đối với Thái Lan về các vấn đề khai thác thủy sản phi pháp, không báo cáo và không được quản lý (IUU), theo thông tin chính thức từ Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Nông nghiệp Thái Lan cho hay. Đây là kết quả cuối cùng của đợt rà soát hiệu quả giải quyết IUU của Thái Lan từ phía EU.

Theo số liệu hải quan Thái Lan, xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong 4 tháng năm 2018 đạt 16.895 tấn, trị giá 4,63 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Mỹ; Nhật Bản lớn nhất đạt 1,59 tỷ baht và 953,12 triệu baht.

Xuất khẩu tôm sú trong 4 tháng năm 2018 đạt 4.007 tấn, trị giá 950,84 triệu baht. Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc; Nhật Bản lớn nhất trong 4 tháng năm 2018 đạt 529,18 triệu baht và 167,57 triệu baht.

Xuất khẩu tôm sú của Thái Lan theo thị trường trong 4 tháng năm 2018, baht

Thị trường

4 tháng năm 2018

China

529,184,523

Japan

167,567,497

Canada

48,149,597

Hong Kong

46,225,884

Vietnam

39,914,256

United States

37,456,689

Myanmar

37,149,200

Korea,Republic Of

12,101,463

Malaysia

10,425,087

Taiwan, Province Of China

7,924,891

Khác

14,745,658

Tổng

950,844,745

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan theo thị trường trong 4 tháng năm 2018, baht

Thị trường

4 tháng năm 2018

United States

1,589,787,364

Japan

953,117,933

Hong Kong

319,165,888

Malaysia

265,103,442

China

251,520,412

Vietnam

244,434,186

Canada

212,305,512

Korea,Republic Of

186,256,704

United Kingdom

170,620,076

Australia

93,103,990

Khác

341,364,541

Tổng

4,626,780,048

Nguồn: TCHQ Thái Lan

2. Thị trường tôm Trung Quốc
2.1. Diễn biến giá

Tại thị trường nội địa Trung Quốc, sau khi tăng mạnh trong quí 1/2018, giá tôm thẻ thu mua nội địa đã quay đầu giảm liên tục trong tháng 4 và tháng 5/2018. Trung bình tháng 5/2018, giá tôm cỡ 80 con/kg tại Chương Châu (Phúc Kiến) đạt mức 30 NDT/kg, giảm 5,5 NDT/kg so với trung bình tháng 4/2018. Trong khi giá tôm cỡ 100 con/kg tại Trạm Giang (Quảng Đông) ở mức 24 NDT/kg, giảm 1 NDT/kg so với trung bình tháng 4/2018.

Kể từ giữa tháng 5 do bị ảnh hưởng bởi thời tiết mưa nên tôm thẻ bị dịch bệnh gia tăng, khiến giá tôm giảm rõ rệt hơn. Trước tình hình này, Trung Quốc sẽ bắt đầu thu hoạch tôm sớm. Tuy nhiên, ở một vài khu vực, dự báo tỷ lệ sống của tôm trong vụ này chỉ khoảng 10%.

  • Tại Trung Sơn, Quảng Đông: Do bị ảnh hưởng bởi thời tiết mưa, nhiệt độ của nước không ổn định nên tỷ lệ tôm bị bệnh tăng. Ngoài ra còn có các triệu chứng của phân trắng, chiếm 20% tỷ lệ mắc bệnh, chủ yếu ở các tôm cỡ 200 con/kg.
  • Tại Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông: Nguồn cung khá khan hiếm do mưa lớn xảy ra ở nhiều khu vực và thời tiết không ổn định.
  • Tại Quảng Châu, Quảng Tây: Sự bùng nổ của bệnh phân trắng và hội chứng tử vong sớm đã khiến diện tích tôm nuôi thiệt hại lên đến 70-80%.
  • Tại Chu Hải và Tân Hội: Thời tiết thay đổi nên tỷ lệ tôm mắc bệnh chiếm khoảng 50% và có các triệu chứng phân trắng và tử vong do đó giá tôm giảm trong tuần cuối tháng 5.
  • Khu vực Đông Hải: do sự thay đổi bất thường của thời tiết nên tôm chậm lớn, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, giá tôm giảm.
  • Dương Giang, Quảng Đông: Tình hình nuôi tôm tổng thể không lạc quan, tôm bị phân trắng. Tôm chủ yếu đang ở cỡ 200 con/kg. 
  • Khu vực Hải Nam: Tôm chủ yếu cỡ nhỏkhoảng 200 con/kg; tình hình nuôi tôm cuối tháng 5 đã ổn định hơn so với tháng 4.
  • Khu vực Hợp Phố, Dương Giang (Quảng Tây) tỷ lệ nuôi tôm thành công thấp.
  • Tại Phòng Thành tôm bị đỏ thân, gan to, co rút gan và tử vong. 
  • Sán Đầu (Quảng Đông): Do thiếu tôm, lượng tôm trong tương lai gần hạn chế.
  • Phía Đông Trung Quốc (Giang Tô; Chiết Giang; Thượng Hải): những thay đổi về thời tiết cũng làm cho tôm chậm lớn, tỷ lệ tôm bị bệnh tăng lên đáng kể do đó nhiều ao phải bán tôm nhỏ, giá tôm giảm rõ rệt.
  • Phía Bắc Trung Quốc như Sơn Đông tình hình nuôi tôm khá tốt do đó giá tôm khá ổn định.

 

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 100 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 80 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2.2. Thương mại

Trung Quốc sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hơn 200 sản phẩm thủy sản vào ngày 1/7 tới đây bao gồm cá, động vật giáp xác và động vật thân mềm, với mức giảm từ 2-10%. Tuy nhiên, việc giảm thuế đối với một số sản phẩm thủy sản được cho là vô nghĩa. Ví dụ, mức thuế sẽ được giảm từ 8% xuống 7% đối với tôm càng đông lạnh - Mã HS 03061721 - nhưng Trung Quốc đã không còn nhập khẩu sản phẩm này từ năm 2017.

Trong 4 tháng năm 2018, xuất khẩu tôm sú tươi và đông lạnh của Trung Quốc đạt 4.106 tấn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tôm đông lạnh còn vỏ của nước này trong 4 tháng năm 2018 đạt 18.163 tấn giảm 10,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 4/2018, (tấn, 1000 USD)

 

T4/2018

4T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

7,598

58,373

25,553

190,632

Frozen fish or fish fillet

150,000

535,886

620,000

2,069,147

Fresh or frozen prawns

630

6,473

4,106

43,569

Frozen shelled shrimps

4,505

49,964

18,163

207,282

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 4/2018, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T4/2018

4T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

250

445,021

740

1,317,601

Fish flour for animal feeding

150

226,799

320

481,321

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường tôm Mỹ
3.1 Thương mại

Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 4/2018 đạt 47,59 nghìn tấn tăng 4,16% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 4 tháng năm 2018 đạt 202,72 nghìn tấn tăng 13,17% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó Ấn Độ xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ đạt 65,33 nghìn tấn tăng 30,72% so với cùng kỳ 2017. Indonesia xếp thứ 2 và Ecuador xếp vị trí thứ 3 với lượng lần lượt đạt tương ứng 45,41 nghìn tấn (tăng 20,85%); 24,84 nghìn tấn (tăng 6,55%). Việt Nam vươn lên là nhà cung cấp lớn thứ 5 vào Mỹ trong 4 tháng năm 2018.

Ngày 14/5, Liên minh tôm miền Nam Hoa Kỳ (SSA) đã kêu gọi các Thượng nghị sĩ tăng mức thuế nhập khẩu các loại tôm từ Trung Quốc lên 25%. SSA lập luận rằng việc tăng thuế sẽ giúp người tiêu dùng Mỹ hạn chế tiêu thụ sản phẩm bị ô nhiễm. Trong khi đó, Viện Thủy sản Quốc gia (NFI), Hiệp hội Chế biến Thủy sản Thái Bình Dương (PSPA), Hiệp hội Chế biến Biển (ASPA) và 3 tập đoàn thủy sản lớn của Hoa Kỳ đã gửi thư yêu cầu chính quyền của Tổng thống Donald Trump không đưa tôm của Trung Quốc vào danh sách đánh thuế.

Ngày 21/5, Mỹ và Trung Quốc đã tuyên bố tạm ngừng chiến tranh thương mại. Đây là tin vui cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu thủy sản Mỹ. Trong khi lại là một tin xấu cho những người khai thác tôm của nước này, vốn đã vận động để tăng mức thuế đối với các loại tôm của Trung Quốc.

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 4/2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

T4/2018

T4/2017

% thay đổi

India

16,869

13,871

21.61

Indonesia

11,101

8,597

29.13

Ecuador

5,079

6,488

-21.72

Vietnam

3,708

3,291

12.67

Thailand

3,512

3,967

-11.47

China

1,999

3,619

-44.76

Mexico

994

1,044

-4.79

Guyana

860

1,116

-22.94

Argentina

859

1,079

-20.39

Peru

840

1,471

-42.90

Khác

1,768

1,145

54.41

Tổng

47,589

45,688

4.16

 Nguồn: NOAA

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 4 tháng năm 2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

4T 2018

4T 2017

% thay đổi

India

65,325

49,972

30.72

Indonesia

45,412

37,577

20.85

Ecuador

24,835

23,308

6.55

Thailand

14,818

19,066

-22.28

Vietnam

14,275

13,993

2.02

China

13,284

11,476

15.75

Mexico

6,962

6,441

8.09

Guyana

3,461

3,972

-12.87

Argentina

3,373

3,489

-3.32

Peru

3,097

3,576

-13.39

Khác

7,882

6,256

25.99

Tổng

202,724

179,126

13.17

Nguồn: NOAA

 

PHẦN 3: HỘI NHẬP – THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ – RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TÔM VIỆT NAM
1. Trong tháng 5/2018, FDA đã từ chối 8 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn

Ngày 05/06/2018, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin về các đơn hàng bị từ chối nhập khẩu trong tháng 5/2018. Trong số 111 đơn hàng nhập khẩu thủy sản bị từ chối thì tôm chiếm 7,2% với 8 đơn hàng do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 5/2018 đến từ Trung Quốc (3 đơn hàng), Ấn Độ (1 đơn hàng), Hong Kong (1 đơn hàng), Canada (1 đơn hàng), UAE (2 đơn hàng).

Các công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 5/2018

Nước

Tên công ty

Trung Quốc

Zhanjiang Longwei Aquatic Products Industry Co., Ltd. (China) (2 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Savvy Seafood Inc. (China) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc kháng sinh Nitrofurans)

Hong Kong

Lee Fung Marine Products Trading Co (Hong Kong) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Ấn Độ

Edhayam Frozen Foods Pvt. Ltd. (India) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

UAE

Freshly Frozen Foods (United Arab Emirates) (2 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y và thuốc kháng sinh Nitrofurans)

Canada

Winful Seafood International Ltd. (Canada) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc kháng sinh Nitrofurans)

Nguồn: shrimpalliance

Số lượng đơn hàng tôm bị từ chối do dư lượng thuốc kháng sinh trong tháng 5/2018 đạt mức cao nhất trong 1 năm qua. Tuy nhiên, trong tháng này FDA không từ chối đơn hàng tôm nào do nhiễm khuẩn Salmonella. Như vậy tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, FDA đã từ chối tổng cộng 46 đơn hàng tôm do nhiễm khuẩn Salmonella, hầu hết đều xuất xứ từ Ấn Độ.

Số đơn hàng tôm và hải sản bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ theo tháng trong năm 2017-2018

Tháng/năm

Số đơn hàng tôm bị từ chối

Số đơn hàng hải sản bị từ chối

6/2017

0

-

7/2017

0

129

8/2017

1

170

9/2017

3

76

10/2017

4

63

11/2017

1

62

12/2017

1

105

1/2018

1

116

2/2018

3

156

3/2018

5

135

4/2018

3

116

5/2018

8

111

Nguồn: shrimpalliance

Số lượng đơn hàng tôm bị FDA từ chối nhập khẩu vào Mỹ từ 2002 -2018

Nguồn: shrimpalliance

 

PHẦN 4:  SẢN XUẤT

Theo báo cáo tháng 5/2018 của Bộ NN&PTNT thì các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích và sản lượng tôm nước lợ cụ thể như sau:

  • Đối với tôm sú: Trong 5 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 544,87 nghìn ha giảm 1%, sản lượng ước đạt 68,65 nghìn tấn tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2017.
  • Đối với tôm thẻ: Trong 5 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 34,03 nghìn ha tăng 4,7%, sản lượng ước đạt 72,18 nghìn tấn tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Diện tích và sản lượng tôm tại ĐBSCL trong 5 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

 5 tháng năm 2018

So sánh năm 2018 với năm 2017 (%)

 

Tôm sú

Tôm thẻ

Tôm sú

Tôm thẻ

Đơn vị

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Tổng số

 

85,809

 

90,228

 

106

 

123

ĐBSCL

544,865

68,647

34,033

72,183

99.0

106.2

104.7

123.4

Long An

350

392.3

1,000

4,488

104.8

153.7

59.4

246.9

Tiền Giang

3,102

192

1,279

3,749

106.8

150.0

149.2

310.6

Bến Tre

27,000

1,240

3,740

6,000

99.8

41.0

114.0

120.2

Trà Vinh

18091

2530

4254

9693

108.6

103.5

120.2

175.7

Kiên Giang

112,000

10,500

800

4,000

100.6

103.6

94.3

98.1

Sóc Trăng

6,294

3,091

11,084

11,112

110.5

103.4

101.2

104.6

Bạc Liêu

116,323

17,202

3,699

6,441

100.6

111.2

109.5

104.7

Cà Mau

261,705

33,500

8,177

26,700

96.7

110.9

102.6

110.8

 Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo báo cáo của TCTK, trong tháng 5 năm 2018 sản lượng tôm sú ước tính đạt 23 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 31,9 nghìn tấn, tăng 16,4%.

Tiến độ sản xuất tôm trong tháng 5/2018

 

Sản lượng và % thay đổi

 

Sản lượng T5 2018, nghìn tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Tôm thẻ

31.9

16.4

Tôm sú

23

7.0

Nguồn: TCTK

 

PHẦN 5:  GIÁ TÔM SÚ, TÔM THẺ NGUYÊN LIỆU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM - GIÁ TÔM XUẤT KHẨU
1. Giá tôm sú, tôm thẻ nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Giá tôm thẻ tại Tây Nam Bộ

Thị trường tôm thẻ tại ĐBSCL trong tháng 5 tiếp tục giảm xuống mức thấp kỷ lục trong hơn 3 năm qua. Đầu tháng 6 giá nhích nhẹ nhưng chưa đáng kể.

Trong tháng 5, thương lái Trung Quốc tăng mua tôm cỡ nhỏ dưới 100 con/kg; tôm thẻ cỡ lớn 50-90 con/kg có những ngày các thương lái không thu mua. Tôm thẻ nuôi ao trải bạt đáy thương lái mua giá cao hơn tôm đất 10.000-15.000 đ/kg.

Trung bình tháng 5, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 72.378 đ/kg giảm 14-16% so với trung bình tháng 4; trong đó có thời điểm giá giảm xuống mức 67.000-68.000 đ/kg[1]. Giá tôm thẻ tại Việt Nam ở mức thấp (nhiều người dân phản ánh thua lỗ trong vụ này) trong khi đó hiện nay đang trong giai đoạn thu hoạch tôm tại ĐBSCL; sản lượng tôm tăng mạnh so với cùng kỳ. Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản, trong 5 tháng đầu năm 2018, sản lượng tôm thẻ của cả nước đã tăng khoảng 48% so với cùng kỳ năm 2017. Chưa có đơn vị nào báo cáo về diện tích nuôi tôm giảm trong vụ 2 nhưng nếu trong ngắn hạn giá không tăng trở lại, tình trạng thua lỗ vẫn tiếp diễn thì diện tích nuôi tôm giảm đáng kể là điều chắc chắn xảy ra vì hiện nay một số người nuôi đã treo ao sau thu hoạch lỗ vụ 1 hoặc chuyển sang nuôi tôm sú vì giá tôm sú oxy vẫn được giá. Do giá giảm mạnh nên một số khu vực xảy ra tình trạng căng thẳng giữa người nuôi và thương lái. Người dân cho rằng thương lái ép giá dân trong khi đó thương lái cũng cho rằng mức giá thu mua của họ hiện nay so với mức giá nhà máy công bố và chi phí nhân công thuê thì họ có lợi nhuận không đáng kể.

Đầu tháng 6, giá tôm thẻ tại Đồng bằng sông Cửu Long dao động nhẹ, có điều chỉnh tăng tùy ngày nhưng mức tăng không đáng kể và nhà máy Việt Nam mua chậm. Các thương lái thu mua vẫn chủ yếu bán cho các trung gian Trung Quốc. Giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg ở mức 72.000-75.000 đ/kg (tùy khu vực).

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tại Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu năm 2016-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Giá tôm sú tại Tây Nam Bộ

Tại Tây Nam Bộ, giá tôm sú đá cũng sụt giảm từ nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 sau đó giá ít biến động cho đến giữa tháng 6 do nguồn cung hạn chế.

Trung bình tháng 5, giá tôm sú cỡ 30 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 187500 đ/kg giảm 10-17% so với tháng 4.

Diễn biến giá tôm sú cỡ 30 con/kg; 40 con/kg tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá tôm thẻ tại khu vực miền Trung

Tại miền Trung, giá tôm thẻ đá trong tháng 5 giảm mạnh; tôm sống giảm nhẹ. Mặc dù thương lái vẫn hỏi mua tôm đá nhưng do giá tôm đá giảm mạnh nên người dân bán tôm sống đi chợ. Không những thế, từ cuối tháng 5, thương lái chủ yếu thu mua tôm đá cỡ nhỏ. Trong tháng 5, miền Bắc và miền Trung thu hoạch rải rác và đan xen thả nuôi mới.

Tính trung bình tháng 5, giá tôm thẻ đá cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận; Hà Tĩnh lần lượt ở mức 90.455 đ/kg và 104.286 đ/kg giảm 3-10% so với tháng 4. Trong nửa đầu tháng 6, giá tôm cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận; Hà Tĩnh tiếp tục giảm xuống mức lần lượt 80.000 đ/kg và 100.000 đ/kg (giảm 4-11% so với tháng 5).

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận, Hà Tĩnh năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá tôm nguyên liệu khu vực biên giới Việt- Trung

Trong tháng 5, tại khu vực Quảng Ninh, xuất hiện bệnh gan cấp tính trên tôm. Bệnh gan cấp tính cũng đã xuất hiện tại một vài nơi ở Khánh Hòa, Phú Yên từ đầu vụ. Trong khi đó, giá tôm giảm.

Trung bình tháng 5, giá tôm thẻ đá 100 con/kg tại Quảng Ninh ở mức 114.125 đ/kg giảm 8% so với tháng 4. Nửa đầu tháng 6 giá tiếp tục giảm 44% so với tháng 5 xuống mức trung bình 101.500 đ/kg.

Diễn biến giá tôm thẻ nguyên liệu (ướp đá) tại khu vực Đầm Hà (Quảng Ninh), đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá xuất khẩu tôm sú

Trong tháng 5 năm 2018 xuất khẩu tôm sú có mức giá trung bình đạt 14.075 USD/tấn giảm 2,88% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean và Bắc Mỹ tăng, còn xuất khẩu sang EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm sú chế biến tăng với các điều kiện giao hàng chính CFR. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú đông lạnh đối với điều kiện giao hàng C&F và FOB giảm lần lượt 0,51% và 20,27%.

Đơn giá xuất khẩu tôm sú đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 5 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T5/2018 (sơ bộ)

T5/2017

T5/2018 (sơ bộ)

T5/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

6,957

12,048

11,903

12,866

-42.26

-7.48

 

Bắc Mỹ

22,242

15,164

21,177

18,343

46.68

15.45

 

EU

10,395

18,500

14,371

14,160

-43.81

1.50

 

Trung Đông

   

14,859

13,935

 

6.64

 

Khác

9,626

13,045

14,200

14,877

-26.21

-4.55

 

Chung

11,615

13,801

15,018

15,096

-15.84

-0.51

CFR

Asean

19,464

 

14,178

11,959

 

18.56

 

Bắc Mỹ

21,091

18,170

18,447

18,865

16.08

-2.22

 

EU

12,279

8,985

13,763

13,890

36.65

-0.91

 

Trung Đông

   

12,510

12,396

 

0.92

 

Khác

14,521

13,804

14,513

14,701

5.19

-1.28

 

Chung

16,318

13,810

14,610

14,587

18.16

0.16

FOB

Asean

   

14,514

17,150

 

-15.37

 

Bắc Mỹ

   

17,143

17,401

 

-1.48

 

EU

17,771

19,202

15,383

17,055

-7.45

-9.80

 

Trung Đông

9,950

14,253

11,000

14,351

-30.19

-23.35

 

Khác

10,422

11,316

9,848

12,548

-7.90

-21.52

 

Chung

14,044

16,519

11,271

14,137

-14.98

-20.27

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

5. Giá xuất khẩu tôm thẻ

Trong tháng 5 năm 2018 xuất khẩu tôm thẻ có mức giá trung bình đạt 9.584 USD/tấn giảm 3,86% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean tăng, trong khi xuất khẩu sang Bắc Mỹ, EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh tăng với điều kiện giao hàng FOB. Tuy nhiên, giá xuất khẩu tôm thẻ chế biến đối với điều kiện giao hàng chính như C&F, CFR và FOB lại giảm lần lượt 13,39%, 6,72% và 6,56%.

Đơn giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 5 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến (mã HS 1604)

Tôm đông lạnh (mã HS 0306)

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T5/2018 (sơ bộ)

T5/2017

T5/2018 (sơ bộ)

T5/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

10,896

12,438

7,528

8,620

-12.40

-12.66

 

Bắc Mỹ

10,693

11,695

10,570

10,713

-8.56

-1.34

 

EU

9,058

11,534

8,456

8,082

-21.47

4.63

 

Trung Đông

7,575

8,843

8,464

8,324

-14.34

1.69

 

Khác

9,932

11,854

9,488

9,763

-16.22

-2.82

 

Chung

10,103

11,665

9,335

9,598

-13.39

-2.74

CFR

Asean

13,166

11,097

8,151

6,886

18.65

18.37

 

Bắc Mỹ

11,167

12,267

9,959

11,274

-8.96

-11.67

 

EU

9,772

9,617

8,420

8,698

1.62

-3.20

 

Trung Đông

10,967

10,480

8,953

9,091

4.65

-1.52

 

Khác

9,828

10,847

9,580

9,838

-9.39

-2.62

 

Chung

10,124

10,853

9,157

9,466

-6.72

-3.26

FOB

Asean

14,085

13,605

8,746

6,599

3.53

32.54

 

Bắc Mỹ

10,423

14,985

10,570

12,064

-30.44

-12.39

 

EU

10,439

10,330

8,210

9,463

1.06

-13.25

 

Trung Đông

6,940

8,960

8,110

9,821

-22.55

-17.42

 

Khác

9,262

10,719

9,679

7,886

-13.60

22.74

 

Chung

10,748

11,503

9,116

8,728

-6.56

4.43

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

PHẦN 6: XUẤT KHẨU TÔM CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam tháng 5/2018

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 5 năm 2018 đạt 25.918 tấn, kim ngạch 301,52 triệu USD tăng 4,63% về lượng và giảm 7,28% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Theo Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), vào các ngày 12 và 24/4, Bộ An toàn thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc (MFDS) đã gửi 2 công thư tới NAFIQAD, thông báo về việc phát hiện liên tiếp Nitrofurans trong các lô hàng tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Toàn bộ các lô hàng bị MFDS cảnh báo về Nitrofurans đều là tôm thẻ chân trắng. Những lô hàng này bị phát hiện trong quãng thời gian từ tháng 1 đến tháng 4/2018. Bộ Quản lý An toàn Thực phẩm và Thuốc của Hàn Quốc sẽ gửi một đoàn công tác tới Việt Nam trong tháng 6/2018 để kiểm tra quá trình kiểm soát nitrofuran trong tôm Việt Nam trước khi xuất sang Hàn Quốc. Hoạt động này diễn ra sau khi các nhà chức trách Hàn Quốc phát hiện một số lô hàng tôm từ các công ty Việt Nam nhập khẩu vào Hàn Quốc có chứa nitrofuran.

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết, trong tháng 3/2018, Bộ Nông nghiệp Úc đã kiểm soát và xác định có 38 lô hàng thực phẩm vi phạm khi nhập khẩu vào thị trường Úc, trong đó, Việt Nam có 2 trường hợp. Cụ thể, khi kiểm tra nguy cơ từ thực phẩm nhập khẩu, Bộ Nông nghiệp Úc đã phát hiện hai lô hàng thực phẩm của Việt Nam là tôm tẩm gia vị và tôm bóc nõn có chứa chất cấm Standard plate count. Các lô hàng tiếp theo của Việt Nam sẽ bị kiểm tra 100% cho đến khi đạt tiêu chuẩn quy định.

Trong khi đó, ngày 15/5, phái đoàn của EC đã tới Việt Nam, đi một số tỉnh miền Nam để kiểm tra về thực hiện khuyến nghị đối với ngành thủy sản, sau đó sẽ làm việc với Tổng Cục Thủy sản và Bộ NN&PTNT từ ngày 21-24/5/2018. EC không thông báo sẽ kiểm tra cụ thể ở những địa phương nào mà sẽ kiểm tra ngẫu nhiên.

Lượng (tấn) và kim ngạch (triệu USD) xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2017-2018

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp. (*) sơ bộ

2. Xuất khẩu tôm theo chủng loại tháng 5/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo chủng loại tháng 5 năm 2018 so với cùng kỳ 2017 (sơ bộ)

 Chủng loại

 ĐL/CB

 T5/2018

 T5/2017

 tỷ trọng lượng, %

 % thay đổi về

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 T5/2018

 T5/2017

 lượng

 trị giá

 Tôm thẻ

 CB

8,000

96,130,973

6,596

78,827,942

30.86

26.63

21.28

21.95

 ĐL

9,637

98,343,509

10,660

110,984,511

37.18

43.03

-9.59

-11.39

 Tổng

17,636

194,474,482

17,255

189,812,453

68.05

69.66

2.21

2.46

 Tôm sú

 CB

439

7,359,683

419

7,396,663

1.69

1.69

4.61

-0.50

 ĐL

5,292

73,812,157

4,816

78,270,681

20.42

19.44

9.90

-5.70

 Tổng

5,731

81,171,840

5,235

85,667,345

22.11

21.13

9.47

-5.25

 Tôm khác

 CB

1,434

12,213,317

1,495

14,017,920

5.53

6.04

-4.09

-12.87

 ĐL

1,117

13,662,357

785

35,694,975

4.31

3.17

42.27

-61.72

 Tổng

2,551

25,875,674

2,280

49,712,895

9.84

9.20

11.87

-47.95

 Tổng

 

25,918

301,521,996

24,770

325,192,693

100.00

100.00

4.63

-7.28

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu tôm theo thị trường và theo khu vực tháng 5/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường từ 1/5-31/5/18

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

China

3,993

40,580,936

USA

3,486

40,004,910

Japan

3,310

51,197,566

Korea

2,842

30,745,194

Netherlands

1,987

20,525,423

UK

1,135

13,828,939

HongKong

1,005

11,400,444

Germany

891

10,444,731

Belgium

890

11,292,412

Singapore

871

10,501,900

Canada

793

10,511,460

Australia

793

8,304,803

France

664

7,967,688

Taiwan

653

5,736,901

Denmark

309

4,220,532

Switzerland

292

4,226,129

UAE

278

2,852,656

Italy

219

1,661,719

Philippines

203

1,425,297

New Zealand

163

1,508,503

Khác

1,140

12,583,852

Tổng

25,918

301,521,996

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường trong tháng 4-5/2018

 

Tháng 5/2018

Tháng 4/2018

 % thay đổi về

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

3,993

40,580,936

3,747

33,410,632

6.58

21.46

USA

3,486

40,004,910

3,283

38,194,454

6.21

4.74

Japan

3,310

51,197,566

3,434

53,167,592

-3.62

-3.71

Korea

2,842

30,745,194

2,449

26,048,730

16.04

18.03

Netherlands

1,987

20,525,423

1,707

18,548,585

16.40

10.66

UK

1,135

13,828,939

1,348

16,511,586

-15.81

-16.25

HongKong

1,005

11,400,444

550

6,610,845

82.80

72.45

Germany

891

10,444,731

932

10,982,756

-4.36

-4.90

Belgium

890

11,292,412

847

10,630,969

5.08

6.22

Singapore

871

10,501,900

187

1,995,003

366.18

426.41

Canada

793

10,511,460

626

8,085,588

26.68

30.00

Australia

793

8,304,803

751

8,415,356

5.55

-1.31

France

664

7,967,688

559

6,467,206

18.93

23.20

Taiwan

653

5,736,901

454

4,659,133

43.95

23.13

Denmark

309

4,220,532

145

1,975,644

113.02

113.63

Switzerland

292

4,226,129

82

1,381,203

257.49

205.97

UAE

278

2,852,656

268

3,013,217

3.95

-5.33

Italy

219

1,661,719

271

2,130,654

-19.04

-22.01

Philippines

203

1,425,297

236

1,585,234

-13.87

-10.09

New Zealand

163

1,508,503

100

1,060,980

63.75

42.18

Khác

1,140

12,583,852

1,211

14,322,613

-5.84

-12.14

Tổng

25,918

301,521,996

23,183

269,197,980

11.79

12.01

Nguồn: TCHQ sơ bộ

Lượng (tấn) và giá trị (USD) xuất khẩu tôm Việt Nam theo khu vực trong tháng 5 năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 (sơ bộ)

Khu vực

T5/2018

T5/2017

% thay đổi

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Asean

1,123

12,429,032

530

5,021,811

112.09

147.50

Bắc Mỹ

4,280

50,516,370

5,399

65,381,979

-20.72

-22.74

EU

7,032

81,508,391

5,283

61,062,144

33.09

33.48

Nam Mỹ

   

-

53,900

 

-100.00

Trung Đông

494

5,072,497

634

6,421,101

-22.21

-21.00

Khác

12,989

151,995,706

12,924

187,251,758

0.50

-18.83

Tổng

25,918

301,521,996

24,770

325,192,693

4.63

-7.28

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 7: THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG THÁNG 5/2018
1. Sự kiện trong nước

+ Theo Chi cục Thủy sản Bến Tre trong đợt thu ngày 3/5/2018 có 20/36 mẫu giáp xác phát hiện bị nhiễm bệnh đốm trắng. tỷ lệ mẫu giáp xác tự nhiên phát hiện bị nhiễm bệnh đốm trắng là 55,55% tăng so với kỳ trước (47,22%). Cụ thể: huyện Bình Đại 42,85% tăng so với kỳ trước (28,57%) và huyện Ba Tri 60% tăng so với kỳ trước (40%), huyện Thạnh Phú 66,66% giảm so với kỳ trước (75%).

+ Đầu tháng 5, Bộ NN & PTNT đã phối hợp với Đoàn công tác liên ngành tỉnh Bạc Liêu kiểm tra các phương tiện vận chuyển tôm giống qua địa bàn tỉnh. Kết quả kiểm tra trong 3 đêm đã phát hiện 10/36 phương tiện vận chuyển (số lượng tương đương hơn 20 triệu con giống tôm thẻ chân trắng và tôm sú), chủ yếu xuất phát từ Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận không tuân thủ các quy định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh và vận chuyển tôm giống.

+ Ngày 15/5, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch số 101/KH-UBND về việc hành động phát triển ngành tôm tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu trong giai đoạn 2018 – 2020 tăng tổng diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 4.101 ha (tôm thẻ chân trắng thâm canh và tôm sú nuôi sinh thái), đến năm 2020 phấn đấu tổng sản lượng tôm nuôi đạt 7.220 tấn, tăng 1,5%, đạt giá trị sản xuất khoảng 1.048 tỷ đồng.

+ Ngày 17/5, Công ty cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú (MPC) dự kiến sẽ xây dựng khu phức hợp công nghiệp công nghệ cao phát triển chuỗi giá trị tôm quy mô 10.000 ha tại tỉnh Kiên Giang. Đây là dự án Công ty đã ấp ủ đầu tư trong vòng 3 năm gần đây. Hiện MPC có 10 công ty thành viên bao gồm 4 nhà máy chế biến tôm và 8 công ty trực thuộc.

+ Ngày 18/5, UBND tỉnh Trà Vinh đã ban hành Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm tỉnh Trà Vinh đến năm 2025 với mục tiêu phấn đấu đạt sản lượng 87.000 tấn tôm nước lợ vào năm 2025. Trong đó: Sản lượng tôm sú gần 18.650 tấn; tôm thẻ chân trắng đạt 51.990 tấn. Tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm nước lợ nuôi bình quân giai đoạn 2017 - 2020 là 17,7%/năm. Giai đoạn 2021 - 2025 là 5,34%/năm.

+ Theo Sở NN-PTNT tỉnh Thái Bình, đến năm 2025, tỉnh Thái Bình phấn đấu đạt 2.688ha nuôi tôm, trong đó 762ha nuôi tôm công nghệ cao, sản lượng trên 14.694 tấn, giá trị (giá trị cố định 2010) là hơn 1.146 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng về sản lượng trung bình/năm (giai đoạn 2020 - 2015) là 4,11%.

+ Ngày 28/5, VASEP khuyến cáo người nuôi tôm không nên 'treo ao' trước tình hình giá tôm liên tục giảm sâu. VASEP cho rằng, đây chỉ là đợt giảm giá mang tính thời điểm và theo xu hướng giảm chung của thế giới. Để giữ vững nguồn cung và thích ứng với thị trường, người nuôi không nên bỏ ao, hãy bình tĩnh thả nuôi với mật độ thưa hơn, kéo dài thời gian nuôi, chờ đến khi giá tôm hồi phục.

+ Ngày 29/5, Tổng cục Thuỷ sản (Bộ NN & PTNT) đã phát đi cảnh báo nguy cơ bùng phát bệnh đốm trắng (WSSV) và hoại tử gan tụy cấp (AHPND) trên tôm nuôi do ô nhiễm nguồn nước. Cụ thể, theo kết quả quan trắc môi trường nguồn nước cấp vùng nuôi tôm nước lợ tại một số tỉnh trọng điểm khu vực phía Bắc, Nam Trung bộ, ĐBSCL, trong tháng 4 và tháng 5 đã phát hiện sự có mặt của tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp; kết quả giám sát định kỳ một số yếu tố môi trường nước ao nuôi cũng phát hiện sự có mặt tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp và đốm trắng, hàm lượng NO2 trong nước một số ao nuôi cao hơn giới hạn cảnh báo và đều có biểu hiện ô nhiễm hữu (thông số COD và TSS cao hơn các đợt quan trắc những năm trước).

+ Ngày 29/5, Sở NN & PTNT thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất giảm 1/3 diện tích sản xuất muối tại huyện Cần Giờ đến năm 2030 và tăng diện tích nuôi trồng thủy sản. Theo kế hoạch này, diện tích sản xuất muối sẽ giảm từ 2.172ha xuống còn 850ha đến năm 2025, và xuống còn 644ha đến năm 2030.

+ Ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Tập đoàn thủy sản Minh Phú, nhận định: "Giá tôm nguyên liệu hiện tại rất rẻ sẽ kích thích tiêu dùng. Theo đó, người nuôi tôm tại các quốc gia như: Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam… bị thua lỗ và sẽ có xu hướng treo ao không nuôi tiếp. Bên cạnh đó, từ giữa tháng 5-2018, đã có dấu hiệu khách hàng bắt đầu mua vào, và tăng mạnh vào cuối tháng". Theo ông Quang, dự kiến từ tháng 6 đến tháng 10, lượng hàng Minh Phú bán ra mỗi tháng sẽ tăng hơn từ 20-50% so với lượng hàng ký hợp đồng trong 5 tháng đầu năm.

+ Nhằm chia sẻ khó khăn cho người nuôi tôm trong thời điểm giá tôm thương phẩm đang giảm mạnh, Công ty TNHH Đầu tư và Thủy sản Nam Miền Trung (Tuy Phong – Bình Thuận) đã có quyết định giảm 10 giá tôm giống cho bà con nông dân.

+ Theo Phòng NN&PTNT huyện Tuy Phước (tỉnh Bình Định), đến tháng 6/2018, trên 80% diện tích tôm thẻ chân trắng nuôi vụ 1.2018 tại các xã khu Ðông của huyện đã thu hoạch xong. Tuy nhiên, niềm vui của người nuôi tôm không trọn vẹn vì tôm được mùa nhưng mất giá.

+ Theo thống kê của ngành chuyên môn, đến tháng 6/2018, toàn tỉnh Sóc Trăng đã thả nuôi được khoảng 20.000ha tôm nước lợ, trong đó, tôm thẻ 13.163,9ha, chiếm 66,9%, đạt 43,9% kế hoạch và thả nhiều hơn 14% so với cùng kỳ năm 2017, tỷ lệ thiệt hại khoảng 10% diện tích thả nuôi. Diện tích tôm thu hoạch hơn 2.564ha, sản lượng ước 16.811 tấn.

2. Sự kiện quốc tế

+ Bộ Nghề cá và Hàng hải Canada cho biết hạn ngạch tôm nước lạnh của nước này trong vụ khai thác năm 2018/2019 tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước đó mặc dù khu vực khai thác vùng 6 bị giảm hạn ngạch nhiều hơn. Hạn ngạch tôm nước lạnh Canada trong vụ 2018/2019 sẽ là 50.085 tấn so với mùa trước là 48.125 tấn.

+ Ngày 7/5, trong một thông báo được công bố trên Linkedin, Cơ quan Nuôi trồng thủy sản ven biển của Ấn Độ (CAA) đã cho biết các nhà cung cấp nước ngoài được phép cung cấp tôm thẻ chân trắng bố mẹ trước đó, giờ có thể cung cấp cả tôm sú bố mẹ. Tuy nhiên, để giảm nguy cơ nhập khẩu tôm bố mẹ mang bệnh, Ấn Độ chỉ cho phép các nhà cung cấp nước ngoài đã có chứng nhận được phép cung cấp. 

+ Chính quyền bang Andhra Pradesh, Ấn Độ, đã yêu cầu một cuộc họp với ngành nuôi trồng thủy sản vào ngày 10/5 tới đây để bàn về vấn đề đảm bảo một giá thu mua tôm hợp lý cho nông dân nuôi tôm, sau khi các nhà chế biến tôm ở bang này đã thất bại trong việc thực hiện nâng giá thu mua tôm tối thiểu trong đầu tháng 5.

+ Tập đoàn thủy sản Tây Ban Nha, Grupo Nueva Pescanova đã bán nhà máy ở Honduras và quyết định đầu tư 8 triệu euro để mở rộng sản xuất tôm tại các cơ sở ở Nicaragua. Với việc đầu tư vào Nicaragua, Pescanova có thể sẽ giúp tăng sản lượng tôm của Nicaragua lên 7.000 tấn.

+ Các nhà chức trách đánh bắt thủy sản ở Argentina cho biết, nước này sẽ bắt đầu áp dụng ngày mở và đóng cửa chính thức cho mùa vụ đánh bắt tôm, nhằm đảm bảo nguồn thủy sản không bị cạn kiệt. Argentina đã quyết định đóng cửa vụ mùa thủy sản cũ trong đầu tháng 4/2018, và mùa đánh bắt tôm mới sẽ bắt đầu vào ngày 19/5.

+ Sản lượng và giá tôm nước lạnh đánh bắt của Na Uy tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017 nhằm  thay thế lượng hàng tồn kho cho các nhà chế biến. Tính đến đầu tháng 5/2018, sản lượng khai thác tôm của Na Uy đã tăng 253%, và giá tôm tăng 41% so với cùng kỳ năm 2017. Theo ước tính, sản lượng tôm nước lạnh của Na Uy có thể đạt 20.000 tấn vào cuối năm 2018.

+ Ngày 16/5, Tổng giám đốc của EU về an toàn thực phẩm và sức khỏe đã công bố kết quả kiểm tra việc kiểm soát xuất khẩu tôm của Ấn Độ, được tiến hành từ ngày 20-30/11/2017. Kết luận của báo cáo khá tiêu cực về mức độ kiểm soát sản xuất, nhân lực tổng thể của các tổ chức Ấn Độ và mức độ hợp tác giữa các tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, EU chỉ đưa ra 3 khuyên nghị cho chính quyền Ấn Độ, chủ yếu tập trung vào việc các cơ quan của Ấn Độ cần hợp tác với nhau tốt hơn để đảm bảo kiểm soát chất lượng tôm hiệu quả.

+ Dịch bệnh EMS lây lan ​​sẽ làm giảm 11-18% sản lượng tôm của Mexico trong năm 2018. 3 bang sản xuất tôm lớn nhất Mexico là Sinaloa, Sonora và Baja California, chiếm 80% sản lượng tôm ở Mexico, đang có tỷ lệ tử vong tôm khoảng 20-30%. Năm 2017, sản lượng tôm của Mexico đạt 135.000 tấn và các nhà chức trách nước này chỉ hy vọng năm 2018 sản lượng đạt mức 110.000-120.000 tấn.

+ Trong cuối tháng 5/2018, giá thu mua tôm tại Ấn Độ đã giảm xuống còn 5,58 USD/kg so với mức 7,31 USD/kg cùng kỳ những năm trước. Các quan chức tại Ấn Độ đang chỉ đạo các cơ quan chức năng can thiệp để ổn định thị trường trong nước. Dự kiến Ấn Độ sẽ hỗ trợ tài chính cho nông dân nuôi tôm để tránh thiệt hại thêm.

+ Theo đơn kiện của Hiệp hội nuôi tôm Brazil (ABCC), ngày 24/5 tòa án Brazil đã đưa ra ý kiến ủng hộ đình chỉ nhập khẩu tôm của Ecuador. Bang Maranhão cũng đã yêu cầu cấm nhập khẩu. Phái tòa án Brazil cho rằng việc nhập khẩu tôm của Ecuador có thể gây ra rủi ro môi trường cho Brazil. Từ đầu năm 2018, phòng nuôi trồng thủy sản quốc gia Ecuador cùng với các đại diện của chính phủ Brazil, đã vận động để đẩy nhanh quá trình tự do hóa thị trường tôm ở Brazil, là cơ hội để thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ cho ngành. Tuy nhiên, ABCC liên tục phản đối tự do hóa thị trường. Họ cho rằng sản lượng tôm Brazil trong năm 2018 dự kiến ​​sẽ đạt khoảng 75.000-80.000 tấn, tăng khoảng 12% so với cùng kỳ năm 2017, nhờ các biện pháp kiểm soát nhập khẩu, ngăn chặn bệnh đốm trắng như đang được thực hiện.

+ Nông dân nuôi tôm ở Bangladesh đã bác bỏ tuyên bố của chính phủ Ấn Độ trong cuối tháng 2/2018 về một đợt bùng phát bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) - thường được gọi là hội chứng tử vong sớm (EMS) - ở nước này. Phía Bangladesh cho biết động thái của Ấn Độ có thể là hành vi “phá hoại”, vì nhiều thị trường đang chuyển sang mua tôm của Bangladesh.

+ Ngày 26/5, chính quyền bang Andhra Pradesh của Ấn Độ cho biết sẽ giảm một nửa tiền điện cho các hộ nuôi trồng thủy sản trong vòng 1 năm. Theo ước tính, với chương trình này, chính quyền bang sẽ gánh giúp 3,5 tỷ INR (51,5 triệu USD) cho nông dân.

+ Công ty tôm của Ecuador - Sociedad Nacional de Galapagos (SONGA) cho biết xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn mạnh. Công ty đã xuất khẩu 3,8 triệu pound tôm sang Trung Quốc trong tháng 4/2018, chiếm hơn 48% tổng doanh thu trong tháng 4. Trung Quốc là thị trường lớn nhất của SONGA và công ty này có rất nhiều đơn đặt hàng container sang Trung Quốc trong thời gian tới.

+ Theo seafoodsource, thị trường hải sản Đông Nam Á đang được định hình lại bởi khách du lịch Trung Quốc. Nguyên nhân là do giá hải sản trong nước cao hơn thúc đẩy người Trung Quốc tiêu thụ hải sản ở nước ngoài. Xu hướng này sẽ còn tiếp tục, khi người tiêu dùng Trung Quốc từ bỏ việc ăn uống đắt đỏ tại các nhà hàng trong nước và nguồn cung nội địa khan hiếm khi Trung Quốc đóng cửa đánh bắt cá để bảo tồn nguồn lợi thủy sản. Các nhà nhập khẩu và các nhà cung cấp hải sản ở Bangkok cho rằng du lịch Trung Quốc là động lực thúc đẩy tiêu thụ thủy sản trong những năm gần đây.

+ Bangladesh vẫn sẽ tập trung vào sản xuất tôm sú, ngay cả khi láng giềng của mình, Ấn Độ, phấn đấu đạt 1 triệu tấn tôm thẻ.

+ Ecuador cho biết sẵn sàng trả đũa nếu Brazil không gỡ bỏ quyết định đưa ra lệnh cấm nhập khẩu tôm Ecuador. Hôm 1/6, tòa án liên bang tối cao của Brazil đã khôi phục lệnh cấm nhập khẩu tôm của Ecuador vào nước này, theo quyết định của thẩm phán liên bang. Ecuador cho biết quyết định này là "bất hợp pháp", vi phạm luật thương mại quốc tế. Các nhà sản xuất tôm Ecuador sẽ cố gắng đàm phán lại với chính quyền Brazil và sẽ kháng cáo lệnh cấm của tòa án.

+ Bộ trưởng Thủy sản và các vấn đề nghề cá Indonesia, Susi Pudjiastuti trong đầu tháng 6 đã gặp gỡ Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Taro Kono để thảo luận về thương mại thủy sản giữa hai nước. Bà Pudjiastuti kêu gọi người đồng cấp Nhật Bản giảm hoặc thậm chí xóa bỏ mức thuế nhập khẩu 7% áp dụng đối với các sản phẩm thủy sản Indonesia. Bà dẫn chứng thuế ưu đãi mà Nhật Bản đang trao cho thủy sản từ Thái Lan và Việt Nam. Sự phân biệt đối xử này đang khiến các sản phẩm thủy sản Indonesia trở nên kém cạnh tranh hơn. Bà Susi Pudjiastuti cũng đưa ra đề xuất đối tác với Nhật Bản để xây dựng 6 trung tâm thủy sản khép kín tại Nhật Bản.

+ Việc Trung Quốc siết chặt nhập khẩu tôm tại biên giới Việt Nam đã khiến Iran tìm cách xuất khẩu tôm thẳng sang Trung Quốc. Hiệp hội các nhà xuất khẩu thủy sản của Iran cho biết, họ đang đàm phán với các cơ quan liên quan để xuất khẩu tôm trực tiếp sang Trung Quốc. Iran đã sản xuất 20.000 tấn tôm trong năm tài khóa 2017-2018 và dự kiến ​​đạt 30.000 tấn trong năm tài khóa 2018-2019, trong đó Trung Quốc chiếm 70% thị phần xuất khẩu tôm của Iran.

+ Tổ chức Nông nghiệp nước ngoài của Liên Hợp Quốc (FAO) dự đoán sản lượng tôm của Ấn Độ sẽ tăng 10% trong năm 2018. Điều này ngược với các dự báo của ngành tôm Ấn Độ rằng sản lượng tôm của nước này sẽ giảm 20% trong năm 2018. Báo cáo của FAO cũng lưu ý rằng hàng tồn kho tôm của Mỹ vẫn duy trì ở mức cao trong đầu năm 2018 cùng với việc các nhà nhập khẩu nên thận trọng với kinh tế Mỹ. Trong khi đó tại châu Âu, các nhà nhập khẩu sẽ chờ đợi giá tôm thấp hơn với việc sản lượng ở các nước sản xuất dự kiến​​ tăng, còn nhập khẩu của Nhật Bản sẽ thấp theo mùa nhưng tiêu thụ tôm dự kiến ​​sẽ tăng trong mùa lễ hội xuân.

+ Các nhà xuất khẩu tôm Ấn Độ, bao gồm Devi Sea Foods, Nekkanti Sea Foods và Sandhya Marines đã phải trì hoãn kế hoạch IPO do Mỹ đã tăng thuế chống bán phá giá đối với tôm Ấn Độ từ 0,84% lên 2,34% vào tháng 3/2018. Ngoài ra, giá tôm cả toàn cầu giảm và biến động trên thị trường chứng khoán Ấn Độ cũng đã khiến 3 công ty tạm ngừng chào bán IPO.

 

[1] Giá tôm thẻ trong báo cáo nếu không được ghi chi tiết sẽ được hiểu là giá tôm thẻ ao đất, không kiểm kháng sinh.