Tôm 4/2018 - Giá tôm thẻ thế giới liên tục giảm và hiện chưa có dấu hiệu chạm đáy

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Tôm 4/2018 - Giá tôm thẻ thế giới liên tục giảm và hiện chưa có dấu hiệu chạm đáy

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 4

Thị trường thế giới

  • Giá tôm thẻ thế giới liên tục giảm và hiện chưa có dấu hiệu chạm đáy - giá vẫn đang giảm ở Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Ecuador và Trung Quốc.
  • Các doanh nghiệp tôm tại Ấn Độ kỳ vọng giá tôm sẽ tăng trở lại từ cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 do hiện nay giá nguyên liệu đã giảm xuống mức dưới giá thành nên người dân có thể hạn chế thả nuôi vụ mới làm sản lượng có thể sẽ giảm từ tháng 8-10.
  • Từ ngày 4/5 đến 30/6, công ty CP Foods Thái Lan cho biết sẽ giảm giá thức ăn tôm và giá tôm giống nhằm “giải cứu” giá tôm đang xuống rất thấp, hỗ trợ giảm chi phí sản xuất cho nông dân nuôi tôm Thái Lan.
  • Chính quyền bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) đã yêu cầu một cuộc họp với ngành nuôi trồng thủy sản vào ngày 10/5 để bàn về vấn đề đảm bảo một giá thu mua tôm hợp lý cho nông dân nuôi tôm.

Thị trường Việt Nam

  • Thị trường tôm thẻ nguyên liệu tại Việt Nam nửa đầu tháng 5 vẫn chưa chạm đáy tuy nhiên tốc độ giảm giá đã chậm lại so với cuối tháng 4.
  • Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 sản lượng tôm thẻ của Việt Nam đã tăng 33% so với cùng kỳ năm 2017 trong đó tính riêng ĐBSCL thì sản lượng tôm thẻ đã tăng 28%.
  • Trong 4 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản sụt giảm trong khi đó xuất khẩu sang Hàn Quốc; Trung Quốc tăng đặc biệt xuất khẩu tôm thẻ sang EU tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm 2017.

 

PHẦN 1: BÌNH LUẬN THỊ TRƯỜNG

Giá tôm thẻ thế giới liên tục giảm trong hơn 2 tháng qua và hiện chưa có dấu hiệu chạm đáy - giá vẫn đang giảm ở Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Ecuador và Trung Quốc. Giá tôm trên thị trường đang giảm dần về mức của năm 2013 – trước khi dịch bệnh EMS xảy ra.

Sự sụt giảm giá tôm toàn cầu liên tục trong thời gian qua được cho là do nhu cầu tại Mỹ sụt giảm bởi tồn kho cao (nhập khẩu tôm của Mỹ năm 2017 tăng 15% so với năm 2016 đã làm tồn kho tăng 10%); ngoài ra Trung Quốc tăng cường kiểm soát tình trạng buôn lậu tôm trong khi nguồn cung tại các nước sản xuất chính tăng do thu hoạch tốt càng làm gia tăng cung và gây áp lực lên giá.

Tại Indonesia, nơi giá nguyên liệu thường cao hơn các khu vực khác, giá tôm sú 50 con/kg HOSO tại đầm đầu tháng 5 ở mức 68.000-70.000 IDR/kg (tương đương 4,89 - 5,04 USD/kg). Theo Arianto Yohan, giám đốc của Central Proteina Prima (CP Prima), các nhà nhập khẩu Mỹ đang yêu cầu giảm giá 10-20%.

Tại Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam giá tôm thẻ đều sụt giảm nghiêm trọng từ cuối tháng 3. Tại Ấn Độ, Durai Balasubramanian - thư ký Hiệp hội Nông dân nuôi tôm Pattukottai ở Tamil Nadu cho biết, nông dân ở Andhra Pradesh gần đây đã đồng ý “nghỉ mùa” sau khi các nhà chế biến tôm ở Andhra Pradesh đã thất bại trong việc thực hiện nâng giá thu mua tôm tối thiểu, sau khi cam kết nâng mức giá từ 30 INR lên 100 INR hôm 12/4. Trung tuần tháng 5, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại đầm của Ấn Độ ở mức 180-190 INR/kg (tương đương 2,67-2,82 USD/kg); tại Thái Lan ở mức 100 Baht/kg (tương đương 3,14 USD/kg); tại Việt Nam ở mức 75000-77000 VND/kg (3,3-3,38 USD/kg); tại Trạm Giang (Quảng Đông, Trung Quốc) ở mức 24 CNY/kg (3,78 USD/kg).

Mới đây, tại hội chợ triển lãm Brussels, các nhà xuất khẩu rất quan ngại về thị trường hiện tại, với giá cả toàn cầu được đánh giá có thể chưa chạm đáy và sẽ gây tổn thất đáng kể cho người nuôi. Tuy nhiên, trên một góc độ tích cực khác, khi giá toàn cầu giảm, sản lượng vụ tôm tiếp theo cũng được dự kiến ​​sẽ giảm. Các doanh nghiệp tôm tại Ấn Độ kỳ vọng giá tôm sẽ tăng trở lại từ cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 do hiện nay giá nguyên liệu đã giảm xuống mức dưới giá thành nên người dân có thể hạn chế thả nuôi vụ mới làm sản lượng có thể sẽ giảm từ tháng 8-10. Trong khi đó, từ tháng 10 các nhà máy thường tăng mua để chuẩn bị cho dịp Lễ cuối năm nên nguồn cung giảm sẽ làm giá tăng trở lại.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg tại trang trại Ấn Độ từ tuần 52/2017-tuần 14/2018, INR/kg

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg và 100 con/kg tại trang trại Thái Lan năm 2017-2018, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 100 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Thị trường tôm thẻ Việt Nam nửa đầu tháng 5 vẫn chưa chạm đáy tuy nhiên tốc độ giảm giá đã chậm lại so với cuối tháng 4. Một số nhà máy nhỏ và thương lái Trung Quốc giảm thu mua tôm thẻ cỡ 60-80 con/kg; chủ yếu thu mua tôm cỡ 100-130 con/kg cũng ảnh hưởng đáng kể đến giá và tình hình thu hoạch. Một số nhà máy lớn vẫn thu mua tôm thẻ cỡ lớn nhưng chào mua với giá rẻ. Nguồn cung các nước sản xuất khác nhiều nên cạnh tranh vào thị trường Trung Quốc khó khăn hơn, bị ép giá. Giá tôm thẻ liên tục sụt giảm ngay trong giai đoạn bắt đầu thả nuôi chính vụ 1 nên càng gây lo ngại cho hộ nuôi. Một số khu vực bị nhiễm mặn thả nuôi muộn đang cân nhắc chuyển sang thả nuôi tôm sú hoặc giảm mật độ thả nuôi vì lo ngại giá sẽ tiếp tục sụt giảm trong thời gian tới. Từ tháng 4-8 hàng năm nguồn cung tôm thẻ tại các khu vực sản xuất chính của Việt Nam thường liên tục gia tăng do các hộ nuôi thả nuôi liên tục. Ngoài ra từ tháng 4-8 cũng là giai đoạn thu hoạch tôm của các nước sản xuất tôm trong khu vực nên càng gây áp lực lên nguồn cung.

Giá tôm tại Việt Nam giảm liên tục trong 2 tháng qua (cũng là giai đoạn trái vụ) một phần do cuối năm 2017-đầu năm 2018 giá tôm thẻ nội địa giữ ở mức cao nên người dân tăng thả nuôi vụ đông do đó nguồn cung tôm trong những tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước. Cùng với sự gia tăng nguồn cung tôm thế giới trong đầu năm 2018 thì áp lực bán hàng càng gia tăng, một số nhà nhập khẩu yêu cầu giảm giá. Tính đến trung tuần tháng 5/2018, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Tây Nam Bộ đã giảm xuống mức 75000-78000 đ/kg – mức thấp nhất trong vòng hơn 3 năm qua; tại Nam Trung Bộ cũng giảm xuống mức 90.000 đ/kg; Bắc Trung Bộ ở mức 105.000 đ/kg; tại khu vực cửa khẩu phía Bắc còn 115.000 đ/kg.

Mặc dù giá tôm thẻ vẫn giảm liên tục trong 2 tháng gần đây nhưng xuất khẩu tôm thẻ của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018 vẫn tăng 21% về lượng so với cùng kỳ năm 2017. Tính trong Top 6 thị trường thì xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản sụt giảm trong khi đó xuất khẩu sang Hàn Quốc; Trung Quốc tăng đặc biệt xuất khẩu tôm thẻ sang EU tăng trưởng mạnh. Theo một số thương nhân, giá tôm nguyên liệu giảm có thể kích cầu từ các nhà nhập khẩu tuy nhiên với những hợp đồng dài hạn có thể bị ép giá. Giá tôm thẻ được kỳ vọng tăng trở lại từ tháng 8 khi nhu cầu cuối năm của các nhà nhập khẩu tăng và sản lượng tôm vụ 2 có thể điều chỉnh giảm khi người dân hạn chế thả nuôi hoặc chuyển đổi sang thả nuôi tôm sú do sự sụt giảm giá trong những tháng đầu năm.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Sóc Trăng từ 1/2015-5/2018, đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp (tháng 5/2018: tính đến 9/5)

Xuất khẩu tôm thẻ của Việt Nam từ 1/2014-4/2018, tấn

Nguồn: AgroMonitor tính trên số liệu TCHQ

Xuất khẩu tôm thẻ của Việt Nam trong giai đoạn 4 tháng đầu năm của các năm 2014-2018, tấn

Nguồn: AgroMonitor tính trên số liệu TCHQ

 

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Thị trường tôm Thái Lan
1.1. Diễn biến giá

Sau khi tăng trong 2 tháng đầu năm 2018, giá tôm Thái Lan đã liên tục quay đầu giảm mạnh trong tháng 3 và tháng 4 đối với mọi kích cỡ. Giá giảm do nước này bước vào kì nghỉ lễ Songkran. Các nhà máy giảm thu mua thậm chí còn nghỉ sớm, trong khi việc nuôi trồng bị chậm tiến độ do nông dân đang trong giai đoạn làm sạch ao.

Trong khi đó các thương nhân tại Thái Lan lo ngại sản lượng tôm năm 2018 của nước này có thể giảm từ mức 350 nghìn tấn xuống 310 nghìn tấn do người dân hạn chế thả nuôi khi giá tôm liên tục giảm trong thời gian qua.

Trước tình đó, từ ngày 4/5 đến 30/6, công ty CP Foods Thái Lan cho biết sẽ giảm giá thức ăn tôm và giá tôm giống nhằm “giải cứu” giá tôm đang xuống rất thấp, hỗ trợ giảm chi phí sản xuất cho nông dân nuôi tôm Thái Lan. Công ty đã giảm giá tôm giống từ 0,19 THB, xuống còn 0,16 THB, trong khi một túi 25 kg thức ăn cho tôm đã được giảm giá xuống còn 25 THB (0,79 USD).

Tính trung bình tháng 4/2018, giá tôm thẻ Thái Lan cỡ 100 con/kg đạt 108 baht/kg, giảm 20 bath/kg, trong khi giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg có mức 124 baht/kg, giảm 37 bath/kg so với trung bình tháng 3/2018.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 80 con/kg và 100 con/kg tại trang trại Thái Lan năm 2017-2018, baht/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Thương mại

Theo số liệu hải quan Thái Lan, xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan trong 3 tháng năm 2018 đạt 12.876 tấn, trị giá 3,51 tỷ baht. Trong đó xuất khẩu sang Mỹ; Nhật Bản lớn nhất đạt 1,21 tỷ baht và 726,14 triệu baht.

Xuất khẩu tôm sú trong 3 tháng năm 2018 đạt 3.124 tấn, trị giá 748,16 triệu baht. Trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc; Nhật Bản lớn nhất trong 3 tháng năm 2018 đạt 415,26 triệu baht và 133,94 triệu baht.

Ngày 27/4, Chính phủ Thái Lan cho biết vẫn chưa quyết định liệu có cho phép nối lại nhập khẩu tôm từ Ấn Độ và từ Malaysia hay không. Do đó việc tạm ngừng cấp giấy phép nhập khẩu 5 loại tôm từ 2 quốc gia này của Thái Lan trong năm 2017 vẫn có hiệu lực.

Xuất khẩu tôm sú của Thái Lan theo thị trường trong 3 tháng năm 2018, baht

Thị trường

3 tháng năm 2018

China

415,259,820

Japan

133,938,548

Canada

42,799,216

Hong Kong

38,057,088

Vietnam

35,082,914

Myanmar

24,042,150

United States

22,055,018

Korea,Republic Of

11,572,545

Malaysia

7,430,224

Taiwan, Province Of China

6,668,733

Khác

11,258,773

Tổng

748,165,029

Nguồn: TCHQ Thái Lan

Xuất khẩu tôm thẻ của Thái Lan theo thị trường trong 3 tháng năm 2018, baht

Thị trường

3 tháng năm 2018

United States

1,207,884,794

Japan

726,139,127

Hong Kong

252,378,342

China

188,552,288

Malaysia

186,145,760

Vietnam

174,070,937

Canada

164,541,017

United Kingdom

144,366,143

Korea,Republic Of

142,840,133

Australia

85,925,849

Khác

239,466,826

Tổng

3,512,311,216

Nguồn: TCHQ Thái Lan

2. Thị trường tôm Trung Quốc
2.1. Diễn biến giá

Tại thị trường nội địa Trung Quốc, sau khi tăng mạnh trong quí 1/2018, giá tôm thẻ thu mua nội địa đã quay đầu giảm trong tháng 4/2018. Trung bình tháng 4/2018, giá tôm cỡ 80 con/kg tại Chương Châu (Phúc Kiến) đạt mức 35,5 NDT/kg, giảm 3,625 NDT/kg so với trung bình tháng 3/2018. Trong khi giá tôm cỡ 100 con/kg tại Trạm Giang (Quảng Đông) ở mức 25 NDT/kg, giảm 4,5 NDT/kg so với trung bình tháng 3/2018.

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 100 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá tôm thẻ nguyên liệu nội địa Trung Quốc cỡ 80 con/kg, NDT/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2.2. Thương mại

Trong 3 tháng năm 2018, xuất khẩu tôm sú tươi và đông lạnh của Trung Quốc đạt 3.475 tấn giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tôm đông lạnh còn vỏ của nước này trong 3 tháng năm 2018 đạt 13.657 tấn giảm 38,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 3/2018, (tấn, 1000 USD)

 

T3/2018

3T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

6,923

52,112

17,955

132,260

Frozen fish or fish fillet

120,000

365,460

460,000

1,533,255

Fresh or frozen prawns

435

4,619

3,475

37,097

Frozen shelled shrimps

3,055

37,820

13,657

157,318

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 3/2018, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T3/2018

3T 2018

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

200

358,347

500

872,718

Fish flour for animal feeding

80

115,589

180

254,522

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

3. Thị trường tôm Mỹ
3.1 Thương mại

Ngày 23/4, Cơ quan Khí quyển Đại dương Quốc gia (NOAA) đã xác nhận rằng tôm nước ngoài sẽ được bổ sung vào Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản (SIMP) bắt đầu từ ngày ngày 31/12/2018.

Theo NOAA, nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 3/2018 đạt 45,98 nghìn tấn tăng 12,52% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế nhập khẩu tôm của Mỹ trong 3 tháng năm 2018 đạt 155,13 nghìn tấn tăng 16,25% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó Ấn Độ xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ đạt 48,46 nghìn tấn tăng 34,22% so với cùng kỳ 2017. Indonesia xếp thứ 2 và Ecuador xếp vị trí thứ 3 với lượng lần lượt đạt tương ứng 34,31 nghìn tấn (tăng 18,4%); 19,76 nghìn tấn (tăng 17,46%). Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn thứ 6 vào Mỹ trong 3 tháng năm 2018.

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong tháng 3/2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

T3/2018

T3/2017

% thay đổi

India

14,950

11,506

29.93

Indonesia

10,908

9,132

19.45

Ecuador

6,243

5,744

8.69

Vietnam

3,191

3,246

-1.69

Thailand

2,643

4,630

-42.92

China

1,903

1,378

38.10

Mexico

1,723

1,442

19.49

Argentina

981

823

19.20

Guyana

958

839

14.18

Peru

712

631

12.84

Khác

1,767

1,492

18.43

Tổng

45,979

40,863

12.52

 Nguồn: NOAA

Nhập khẩu tôm đông lạnh của Mỹ trong 3 tháng năm 2018 (tấn, so với cùng kỳ 2017)

Thị trường

3T 2018

3T 2017

% thay đổi

India

48,456

36,101

34.22

Indonesia

34,310

28,979

18.40

Ecuador

19,756

16,820

17.46

Thailand

11,305

15,099

-25.13

China

11,285

7,857

43.63

Vietnam

10,567

10,702

-1.26

Mexico

5,968

5,397

10.58

Guyana

2,601

2,856

-8.93

Argentina

2,514

2,410

4.32

Peru

2,257

2,105

7.22

Khác

6,113

5,117

19.46

Tổng

155,132

133,443

16.25

Nguồn: NOAA

 

PHẦN 3: HỘI NHẬP – THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ – RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TÔM VIỆT NAM
1. Trong tháng 4/2018, FDA đã từ chối 3 đơn hàng tôm nhập khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn

Ngày 07/05/2018, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công bố thông tin về các đơn hàng bị từ chối nhập khẩu trong tháng 4/2018. Trong số 116 đơn hàng nhập khẩu thủy sản bị từ chối thì tôm chiếm 2,6% với 3 đơn hàng do các vấn đề liên quan đến dư lượng thuốc kháng sinh.

Công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 4/2018 đến từ Trung Quốc (1 đơn hàng), Ấn Độ (1 đơn hàng), Mexico (1 đơn hàng).

Các công ty có dòng sản phẩm bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ trong tháng 4/2018

Nước

Tên công ty

Trung Quốc

Rao Ping Le Ja Seafood Development (China) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Ấn Độ

M/S. Milesh Marine Exports (India) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Mexico

Llaos Acuacultura SA de CV (Mexico) (1 đơn hàng nhiễm dư lượng thuốc thú y)

Nguồn: shrimpalliance

Cũng trong báo cáo tháng 4, FDA đã thông báo tiếp tục từ chối 10 đơn hàng tôm do nhiễm khuẩn Salmonella, tất cả số đơn hàng này đều xuất xứ từ Ấn Độ. Như vậy tính chung trong quý 4 tháng đầu năm 2018, FDA đã từ chối tổng cộng 46 đơn hàng tôm do nhiễm khuẩn Salmonella xuất xứ từ Ấn Độ.

Số đơn hàng tôm và hải sản bị từ chối nhập khẩu vào Mỹ theo tháng trong năm 2017-2018

Tháng/năm

Số đơn hàng tôm bị từ chối

Số đơn hàng hải sản bị từ chối

5/2017

3

113

6/2017

0

-

7/2017

0

129

8/2017

1

170

9/2017

3

76

10/2017

4

63

11/2017

1

62

12/2017

1

105

1/2018

1

116

2/2018

3

156

3/2018

5

135

4/2018

3

116

Nguồn: shrimpalliance

Số lượng đơn hàng tôm bị FDA từ chối nhập khẩu vào Mỹ từ 2002 -2018

Nguồn: shrimpalliance

 

PHẦN 4:  SẢN XUẤT

Theo báo cáo tháng 4/2018 của Bộ NN&PTNT thì các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích và sản lượng tôm nước lợ cụ thể như sau:

  • Đối với tôm sú: Trong 4 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 504,54 nghìn ha giảm 1%, sản lượng ước đạt 46,68 nghìn tấn tăng 1% so với cùng kỳ năm 2017.
  • Đối với tôm thẻ: Trong 4 tháng năm 2018 diện tích ước đạt 26,64 nghìn ha tăng 11%, sản lượng ước đạt 51,55 nghìn tấn tăng 28% so với cùng kỳ năm 2017.

Diện tích và sản lượng tôm tại ĐBSCL trong 4 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017

 

 4 tháng năm 2018

So sánh năm 2018 với năm 2017 (%)

 

Tôm sú

Tôm thẻ

Tôm sú

Tôm thẻ

Đơn vị

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích (Ha)

Sản lượng (Tấn)

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Tổng số

 

56,929

 

62,862

 

105

 

133

ĐBSCL

504,542

46,682

26,638

51,547

99

101

111

128

Long An

300

229

1,500

3,922

102

123

119

321

Tiền Giang

2,322

1,795

1,021

2,900

80

17,950

119

1,933

Bến Tre

320

140

2,490

2,000

160

9

86

72

Trà Vinh

14,721

1,538

3,152

6,054

94

111

129

199

Kiên Giang

107,000

3,600

950

4,000

101

98

142

116

Sóc Trăng

2,729

2,091

6,324

7,749

112

81

117

118

Bạc Liêu

115,440

10,389

3,029

3,622

103

83

120

90

Cà Mau

261,710

26,900

8,172

21,300

97

112

101

112

 Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo báo cáo của TCTK, trong tháng 4 năm 2018 sản lượng tôm sú ước tính đạt 20 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 22,8 nghìn tấn, tăng 9,1%.

Tiến độ sản xuất tôm trong tháng 4/2018

 

Sản lượng và % thay đổi

 

Sản lượng T4 2018, nghìn tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Tôm thẻ

22.8

9.1

Tôm sú

20

4.7

Nguồn: TCTK

 

PHẦN 5:  GIÁ TÔM SÚ, TÔM THẺ NGUYÊN LIỆU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM - GIÁ TÔM XUẤT KHẨU
1. Giá tôm sú, tôm thẻ nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Giá tôm thẻ tại Tây Nam Bộ

Thị trường tôm thẻ Việt Nam trong tháng 4 diễn biến cùng xu hướng với thị trường tôm thế giới. Giá tôm thẻ tại Đồng bằng sông Cửu Long đã giảm liên tục trong hơn 2 tháng qua. Cùng với tác động của thị trường thế giới thì sự gia tăng mạnh của nguồn cung tại Việt Nam trong những tháng đầu năm trong khi nhu cầu tăng chậm hơn đã làm giá liên tục sụt giảm. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018 sản lượng tôm thẻ của Việt Nam đã tăng 33% so với cùng kỳ năm 2017 trong đó tính riêng ĐBSCL thì sản lượng tôm thẻ đã tăng 28%.

Đầu tháng 5, giá tôm thẻ tại Đồng bằng sông Cửu Long giảm chậm lại nhưng chưa có dấu hiệu chạm đáy. Cùng xu hướng, giá tôm thẻ tại miền Trung, miền Bắc cũng sụt giảm mạnh, người dân gần như không bán tôm đá mà bán tôm oxy để tiêu thụ nội địa. Giá tôm thẻ sống tại miền Trung mặc dù cũng giảm nhưng so với giá tôm đá vẫn đang khá tốt.

Trung bình tháng 4, giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 85.740 đ/kg giảm 9079 đ/kg so với trung bình tháng 3. Tính trung bình nửa đầu tháng 5, giá tôm thẻ Tây Nam Bộ tiếp tục giảm xuống mức 78000 đ/kg giảm 7684 đ/kg so với trung bình tháng 4.

Diễn biến giá tôm nguyên liệu và cung cầu tôm tại Việt Nam nửa đầu tháng 5

 

 

Giá, đ/kg

Nhu cầu

Sản lượng

Việt Nam

Tây Nam Bộ

 

Giá tôm thẻ tại Tây Nam Bộ nửa đầu tháng 5 ở mức thấp nhất trong vòng hơn 3 năm qua

Thương lái vẫn thu mua nhưng giá thấp nên người dân cân nhắc bán. Một số ao neo lại đợi giá lên.

Nguồn cung tôm thẻ và tôm sú tăng.

Dịch gan tụy trên tôm tăng nhưng chưa bùng phát.

Giá tôm sú oxy vẫn giữ ở mức cao. Tôm sú đá cũng sụt giảm nhưng người dân chủ yếu bán tôm sống.

Miền Trung

Giá tôm thẻ đá tại Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ giảm mạnh; tôm sống giảm nhẹ.

Mặc dù thương lái vẫn hỏi mua tôm đá nhưng do giá tôm đá giảm mạnh nên người dân bán tôm sống đi chợ.

Tôm thẻ vụ 1 thả được trên 50% diện tích, dịch bệnh không đáng kể.

Quảng Ninh/biên mậu

Giá tôm thẻ giảm

Nhà máy nhỏ bên Trung Quốc ngừng thu mua tôm thẻ cỡ 60-80 con/kg; chủ yếu thu mua tôm cỡ 100-130 con/kg. Một số nhà máy lớn vẫn thu mua tôm thẻ cỡ lớn nhưng chào mua với giá rẻ.

Tôm thẻ vụ 1 đã thả nuôi được khoảng 1 tháng, thu hoạch lai rai các ao thả sớm.

Một số ao xảy ra tình trạng tôm chậm lớn.

Thế giới

 

Giá tôm tại Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Ecuador giảm

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg trung bình tại Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu năm 2016-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

1.2. Giá tôm sú tại Tây Nam Bộ

Tại Tây Nam Bộ, giá tôm sú đá cũng sụt giảm từ nửa cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 tuy nhiên chậm hơn giá tôm thẻ. Mặc dù giá tôm sú đá giảm nhưng giá tôm sú sống vẫn ở mức cao đặc biệt trong giai đoạn nghỉ Lễ 30/4-1/5 do nhu cầu nội địa cao. Do đó người dân chủ yếu bán tôm sống tiêu thụ nội địa hoặc bán cho thương lái xuất đi Campuchia qua cửa khẩu Hà Tiên.

Trung bình tháng 4, giá tôm sú cỡ 30 con/kg tại Tây Nam Bộ ở mức 217000 đ/kg tăng 22000 đ/kg so với trung bình tháng 3 tuy nhiên trung bình nửa đầu tháng 5 giảm xuống 187500 đ/kg. Trung tuần tháng 5, giá tôm sú cỡ 20 con/kg có mức 250.000-260.000 đ/kg (tôm đá), 340.000 (tôm sống); cỡ 30 con/kg có mức 185.000-190.000 đ/kg (tôm đá), 270.000 đ/kg (tôm sống).

Diễn biến giá tôm sú cỡ 30 con/kg; 40 con/kg tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá tôm thẻ tại khu vực miền Trung

Tại Bắc Trung Bộ, nguồn cung tôm thẻ cỡ lớn trên 70 con/kg hiện không nhiều; tôm chủ yếu cỡ nhỏ. Tính đến trung tuần tháng 5 thả nuôi vụ 1 được khoảng 60% diện tích, dịch bệnh không nhiều. Khu vực Quỳnh Lưu, Nghệ An có một số ao bị bệnh đốm trắng, nhưng diện tích không nhiều. Mặc dù thương lái vẫn hỏi mua tôm đá nhưng do giá tôm đá giảm mạnh nên người dân bán tôm sống đi chợ. Giá tôm sống mặc dù giảm nhưng vẫn cao hơn nhiều so với tôm đá. Tính đến trung tuần tháng 5, giá tôm thẻ đá cỡ 100 con/kg ở mức 105.000 đ/kg tương đương mức giá trong tháng 4 ngoại trừ các ngày cuối tháng 4-đầu tháng 5 giá tăng lên mức 112000-113000 đ/kg do nghỉ Lễ nên nhu cầu tăng.

Tại Nam Trung Bộ, dịch bệnh trên tôm thả vụ 1 chiếm 50% diện tích thả nuôi nhưng không nghiêm trọng; một số ao nuôi xảy ra tình trạng chậm lớn. Nguồn cung tôm thấp trong khi giá tôm đá chưa có dấu hiệu tăng. Giá tôm thẻ đá cỡ 100 con/kg giảm từ mức 98.000-100.000 đ/kg trong tháng 4 xuống mức 86.000-89.000 đ/kg đầu tháng 5.

Giá tôm oxy tại một số khu vực đầu tháng 5:

  • Tại Hà Tĩnh, giá tôm thẻ sống cỡ 100 con/kg có mức 115.000 đ/kg, cỡ 80 con/kg có mức 127.000 đ/kg, cỡ 70 con/kg có mức 135.000 đ/kg.
  • Tại Quảng Bình, Quảng Trị, giá tôm thẻ sống cỡ 50 con/kg có mức 170.000 đ/kg.

Diễn biến giá tôm thẻ cỡ 100 con/kg tại Ninh Thuận năm 2017-2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá tôm nguyên liệu khu vực biên giới Việt- Trung

Theo thương lái thu mua tôm tại Việt Nam xuất đi Trung Quốc, hiện nay nhà máy nhỏ bên Trung Quốc ngừng thu mua tôm thẻ cỡ 60-80 con/kg; chủ yếu thu mua tôm cỡ 100-130 con/kg. Một số nhà máy lớn vẫn thu mua tôm thẻ cỡ lớn nhưng chào mua với giá rẻ. Nguồn cung các nước sản xuất khác nhiều nên cạnh tranh vào thị trường Trung Quốc khó khăn hơn, bị ép giá. Trung bình nửa đầu tháng 5, giá tôm thẻ đá 100 con/kg tại Quảng Ninh ở mức 115.000 đ/kg giảm so với mức 120.000-125.000 đ/kg trong tháng 4 ngoại trừ cuối tháng 4-đầu tháng 5 giá tăng lên mức 130000 đ/kg để xuất Trung Quốc dịp nghỉ Lễ.

Diễn biến giá tôm thẻ nguyên liệu (ướp đá) tại khu vực Đầm Hà (Quảng Ninh), đ/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá xuất khẩu tôm sú

Trong tháng 4 năm 2018 xuất khẩu tôm sú có mức giá trung bình đạt 14.002 USD/tấn tăng 0,28% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean, Bắc Mỹ và EU đều tăng, còn xuất khẩu sang Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm sú chế biến giảm với các điều kiện giao hàng chính như CFR và FOB. Trong khi đó, xuất khẩu tôm sú đông lạnh đối với điều kiện giao hàng C&F và CFR tăng lần lượt 1,5% và 0,59%.

Đơn giá xuất khẩu tôm sú đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 4 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T4/2018 (sơ bộ)

T4/2017

T4/2018 (sơ bộ)

T4/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

10,090

7,174

14,255

12,005

40.65

18.74

 

Bắc Mỹ

16,089

12,865

19,488

17,853

25.06

9.16

 

EU

9,915

9,153

12,951

14,457

8.32

-10.42

 

Trung Đông

   

14,538

12,790

 

13.67

 

Khác

20,308

13,615

14,055

13,991

49.16

0.45

 

Chung

12,735

12,560

14,565

14,349

1.40

1.50

CFR

Asean

 

13,750

14,909

12,751

-100.00

16.93

 

Bắc Mỹ

19,301

20,281

20,772

16,809

-4.83

23.58

 

EU

10,808

13,861

14,858

13,083

-22.03

13.57

 

Trung Đông

12,090

 

12,706

12,633

 

0.57

 

Khác

12,405

13,445

13,852

14,986

-7.74

-7.57

 

Chung

14,056

14,708

14,295

14,211

-4.43

0.59

FOB

Asean

 

8,444

13,068

14,132

-100.00

-7.53

 

Bắc Mỹ

 

16,094

 

20,025

-100.00

-100.00

 

EU

16,913

21,632

17,107

15,624

-21.81

9.49

 

Trung Đông

 

13,745

13,000

14,557

-100.00

-10.69

 

Khác

13,348

11,603

8,926

11,692

15.03

-23.66

 

Chung

15,518

17,753

11,313

12,844

-12.59

-11.92

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

5. Giá xuất khẩu tôm thẻ

Trong tháng 4 năm 2018 xuất khẩu tôm thẻ có mức giá trung bình đạt 9.939 USD/tấn giảm 3,12% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó giá xuất khẩu sang các khu vực Asean và Bắc Mỹ đều tăng, trong khi xuất khẩu sang EU và Trung Đông giảm.

Xét theo điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh tăng với điều kiện giao hàng FOB. Tuy nhiên, giá xuất khẩu tôm thẻ chế biến đối với điều kiện giao hàng chính như C&F, CFR và FOB lại giảm lần lượt 12,64%, 2,49% và 2,62%.

Đơn giá xuất khẩu tôm thẻ đông lạnh và chế biến sang một số khu vực trong tháng 4 năm 2018 so với cùng kỳ năm trước, USD/tấn

 

 

Tôm chế biến (mã HS 1604)

Tôm đông lạnh (mã HS 0306)

% thay đổi

ĐKGH

Khu vực

T4/2018 (sơ bộ)

T4/2017

T4/2018 (sơ bộ)

T4/2017

Tôm chế biến

Tôm đông lạnh

C&F

Asean

10,864

13,016

7,208

8,519

-16.54

-15.39

 

Bắc Mỹ

11,382

10,735

10,411

9,570

6.03

8.79

 

EU

9,568

10,335

8,402

9,031

-7.42

-6.97

 

Trung Đông

8,179

9,442

8,336

6,800

-13.38

22.58

 

Khác

9,062

12,065

9,540

10,009

-24.89

-4.69

 

Chung

9,926

11,362

9,234

9,569

-12.64

-3.50

CFR

Asean

14,237

10,459

8,440

8,408

36.12

0.37

 

Bắc Mỹ

12,134

11,970

10,873

11,377

1.37

-4.43

 

EU

10,218

10,109

8,709

8,833

1.07

-1.40

 

Trung Đông

9,679

7,883

8,156

8,300

22.78

-1.74

 

Khác

10,370

11,039

9,952

10,286

-6.06

-3.25

 

Chung

10,700

10,973

9,453

9,892

-2.49

-4.44

FOB

Asean

13,980

12,930

7,832

9,206

8.13

-14.93

 

Bắc Mỹ

13,289

13,273

11,262

11,476

0.12

-1.86

 

EU

10,560

11,535

9,078

10,032

-8.46

-9.51

 

Trung Đông

9,133

8,913

8,096

9,672

2.47

-16.30

 

Khác

10,286

12,309

10,932

9,452

-16.44

15.66

 

Chung

11,280

11,584

9,951

9,708

-2.62

2.50

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

PHẦN 6: XUẤT KHẨU TÔM CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam tháng 4/2018

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu tôm trong tháng 4 năm 2018 đạt 22.694 tấn, kim ngạch 268,52 triệu USD tăng 2,46% về lượng nhưng giảm 1,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Trong cuối tháng 4, Việt Nam và Indonesia đã đồng ý một thỏa thuận về quy định hoạt động khai thác thủy sản tại biển Đông trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực để chống lại khai thác thủy sản trái phép sau khi Ủy ban châu Âu giơ thẻ vàng hồi năm 2017.

Lượng (tấn) và kim ngạch (triệu USD) xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2017-2018

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp. (*) sơ bộ

2. Xuất khẩu tôm theo chủng loại tháng 4/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo chủng loại tháng 4 năm 2018 so với cùng kỳ 2017 (sơ bộ)

 Chủng loại

 ĐL/CB

 T4/2018

 T4/2017

 tỷ trọng lượng, %

 % thay đổi về

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 T4/2018

 T4/2017

 lượng

 trị giá

 Tôm thẻ

 CB

7,157

86,874,114

6,206

73,959,531

31.54

28.02

15.32

17.46

 ĐL

7,821

82,941,620

8,066

84,436,992

34.46

36.42

-3.05

-1.77

 Tổng

14,978

169,815,734

14,272

158,396,522

66.00

64.44

4.94

7.21

 Tôm sú

 CB

279

6,342,286

347

7,312,993

1.23

1.57

-19.56

-13.27

 ĐL

4,957

66,232,729

5,150

77,396,387

21.84

23.25

-3.74

-14.42

 Tổng

5,236

72,575,015

5,497

84,709,380

23.07

24.82

-4.74

-14.32

 Tôm khác

 CB

1,373

12,071,691

1,507

12,912,778

6.05

6.81

-8.95

-6.51

 ĐL

1,107

14,058,494

872

16,316,009

4.88

3.94

26.91

-13.84

 Tổng

2,479

26,130,185

2,380

29,228,787

10.93

10.74

4.19

-10.60

 Tổng

 

22,694

268,520,934

22,149

272,334,689

100.00

100.00

2.46

-1.40

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu tôm theo thị trường và theo khu vực tháng 4/2018

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường từ 1/4-30/4/18

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

China

3,893

38,287,636

USA

3,244

38,271,445

Japan

3,031

48,933,293

Korea

2,379

25,540,888

Netherlands

1,471

15,887,730

UK

1,026

12,033,661

Germany

807

10,043,741

Singapore

797

10,296,881

HongKong

714

8,158,484

Australia

695

7,473,148

Belgium

649

8,635,825

France

584

6,812,541

Taiwan

497

4,883,226

Canada

447

5,868,431

UAE

279

3,438,400

Switzerland

263

3,983,738

Denmark

237

2,872,639

Philippines

236

1,585,234

Italy

186

1,400,766

Sweden

90

1,196,958

Khác

1,168

12,916,270

Tổng

22,694

268,520,934

Xuất khẩu tôm của Việt Nam theo thị trường trong tháng 3-4/2018

 

Tháng 4/2018

Tháng 3/2018

 % thay đổi về

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

3,893

38,287,636

4,533

40,519,727

-14.12

-5.51

USA

3,244

38,271,445

3,898

45,400,090

-16.79

-15.70

Japan

3,031

48,933,293

3,329

50,129,757

-8.95

-2.39

Korea

2,379

25,540,888

2,937

38,361,622

-18.99

-33.42

Netherlands

1,471

15,887,730

1,850

19,907,201

-20.48

-20.19

UK

1,026

12,033,661

1,360

17,418,191

-24.53

-30.91

Germany

807

10,043,741

1,066

11,614,359

-24.27

-13.52

Singapore

797

10,296,881

206

2,414,499

286.43

326.46

HongKong

714

8,158,484

609

7,856,263

17.30

3.85

Australia

695

7,473,148

996

11,064,691

-30.20

-32.46

Belgium

649

8,635,825

557

5,784,323

16.40

49.30

France

584

6,812,541

405

5,615,188

44.11

21.32

Taiwan

497

4,883,226

384

3,430,314

29.36

42.36

Canada

447

5,868,431

781

11,119,404

-42.75

-47.22

UAE

279

3,438,400

226

2,442,922

23.26

40.75

Switzerland

263

3,983,738

155

2,702,575

70.42

47.41

Denmark

237

2,872,639

135

2,089,122

75.91

37.50

Philippines

236

1,585,234

144

1,117,320

63.74

41.88

Italy

186

1,400,766

293

2,486,782

-36.50

-43.67

Sweden

90

1,196,958

169

1,652,852

-46.36

-27.58

Khác

1,168

12,916,270

1,286

13,753,961

-9.20

-6.09

Tổng

22,694

268,520,934

25,319

296,881,162

-10.37

-9.55

Nguồn: TCHQ sơ bộ

Lượng (tấn) và giá trị (USD) xuất khẩu tôm Việt Nam theo khu vực trong tháng 4 năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 (sơ bộ)

Khu vực

T4/2018

T4/2017

% thay đổi

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

 Lượng, tấn

 Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Asean

1,136

13,181,094

489

4,570,408

132.30

188.40

Bắc Mỹ

3,691

44,139,876

4,513

52,802,925

-18.21

-16.41

EU

5,777

68,075,542

4,650

53,919,925

24.24

26.25

Trung Đông

531

5,713,206

548

5,981,461

-3.20

-4.48

Khác

11,558

137,411,217

11,948

155,059,971

-3.27

-11.38

Tổng

22,694

268,520,934

22,149

272,334,689

2.46

-1.40

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

PHẦN 7: THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG THÁNG 4/2018
1. Sự kiện trong nước

+ Ngày 6/4, Tổng cục Thủy sản phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ ký kết Quy chế phối hợp quản lý giống tôm nước lợ giữa các tỉnh sản xuất con giống (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) và các tỉnh tiêu thụ con giống (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau).

+ Theo ghi nhận của ngành chức năng, diện tích bị thiệt hại do bệnh đốm trắng và gan tụy trên tôm nuôi tại xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời tính đến đầu tháng 4/2018 lên đến 250 ha. Đáng lo ngại hơn bệnh đốm trắng, gan tụy không chỉ xuất hiện trên loại hình nuôi tôm quảng canh truyền thống, quảng canh cải tiến mà còn xuất hiện cả trên tôm nuôi thâm canh và siêu thâm canh.

+ Theo báo cáo của Sở NN và PTNT tỉnh Ninh Thuận, tính đến đầu tháng 4/2018 có 498 cơ sở, với 1.200 trại giống sản xuất được 8,5 tỷ post, dự báo quý II này sản lượng tăng hơn. Tỉnh đặt kế hoạch sản xuất 25 tỷ con tôm post trong năm 2018, nhưng với lượng khách hàng đặt mua tôm giống nhiều như hiện nay, nhu cầu thị trường dự báo lên tới 30 tỷ post, do đó các trại giống lên kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất tăng sản lượng là cần thiết.

+ Tính đến tháng 4/2018, trên địa bàn huyện Tân Phú Đông (tỉnh Tiền Giang) có hơn 6.000 ha diện tích nuôi thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm, diện tích tăng đáng kể so với trước khi thành lập huyện.

+ Ngày 11/4, công ty Điện lực tỉnh Bến Tre thông tin tại buổi giám sát của HĐND tỉnh ở huyện Ba Tri cho biết, ngành điện tỉnh Bến Tre đã tái khởi động Dự án cấp điện nuôi tôm công nghiệp tỉnh đến năm 2020.

+ Ngày 20/4, Phòng NN&PTNT huyện Tuy Phước (tỉnh Bình Định) cho biết, tính đến trung tuần tháng 4 trên địa bàn huyện đã có 1,62 ha tôm nuôi trong vụ 1 năm 2018 của bà con ngư dân thôn Nhân Ân, xã Phước Thuận bị nhiễm vi rút đốm trắng.

+ Vụ xuân hè năm 2018, toàn huyện Thái Thụy nuôi thả 1.200ha tôm, chủ yếu là tôm sú và tôm thẻ chân trắng, tập trung ở các xã ven biển như Thái Thượng, Thụy Hải, Thụy Xuân, Thụy Trường, Thái Đô.

+ Ngày 1/5, Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (MPC) đã công bố báo cáo tài chính công ty mẹ quý I/2018. Theo đó, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của MPC đạt 1.922 tỷ đồng; lợi nhuận gộp đạt hơn 620 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt 195,3 tỷ đồng, gấp 5,7 lần so với quý I/2017 (33,8 tỷ đồng).

+ Ngày 2/5, Tập đoàn Cargill đã khánh thành Trung tâm Ứng dụng công nghệ (TAC) ngành tôm tại tỉnh Bạc Liêu. Trung tâm rộng 1,2ha với 15 ao nuôi, thực hiện nhiều thử nghiệm để tìm ra công thức nguyên liệu thức ăn tốt nhất, cải tiến chế độ dinh dưỡng cho tôm, giảm thiểu tác động tới môi trường. Đây là trung tâm ứng dụng công nghệ thứ 2 của Tập đoàn Cargill tại Việt Nam, sau trung tâm tại Tiền Giang (năm 2017) phục vụ người nuôi cá.

+ Ngày 24/4/2018, VASEP đã gửi Công văn số 68/2018/CV-VASEP tới Cục Thú y kiến nghị giải quyết vướng mắc về quy định yêu cầu các lô hàng thủy sản xuất khẩu phải có giấy chứng nhận kiểm dịch.

+ 4 tháng đầu năm 2018, sản lượng nuôi trồng thủy sản của huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hóa) ước đạt 530 tấn, năng suất bình quân khoảng 1,8 tấn/ha. Riêng vụ xuân hè năm 2018, huyện đưa vào thả nuôi khoảng hơn 800 vạn con tôm sú.

2. Sự kiện quốc tế

+ Văn phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA) – tổ chức đại diện cho ngành nuôi trồng thủy sản Ecuador cùng với Hiệp hội đối tác nuôi tôm bền vững (SSP) ủng hộ động thái gần đây đưa tôm vào danh sách Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản (SIMP) của Mỹ. CNA và SSP cho rằng đây sẽ là một cột mốc quan trọng giúp cho người tiêu dùng được trao quyền lựa chọn tôm sản xuất theo tiêu chuẩn cao.

+ Theo Economic Times, trong đầu tháng 4, Ấn Độ đang khuyến khích các nông dân nuôi tôm cỡ nhỏ và tăng thu hoạch. Lý do là bởi chi phí nuôi tôm cơ nhỏ sẽ ít hơn, sản lượng tăng do bệnh dịch giảm. 

+ Giá tôm tại Ấn Độ bị sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn cuối tháng 3 và đầu tháng 4 của năm 2018. Tại Ấn Độ, giá tôm đi xuống chủ yếu do nhu cầu yếu từ thị trường Mỹ, và dự báo về nhu cầu từ Trung Quốc tăng sau tháng 2 chưa xảy ra.

+ Hôm 12/4, các nhà máy thu mua tôm bang Andhra Pradesh của Ấn Độ đã đồng ý nâng mức giá tối thiểu lên 100 INR cho mỗi kg tôm thu hoạch, so với mức 30 INR trong đầu tháng 4, nhằm hỗ trợ cho những nông dân nuôi tôm của bang này.

+ Giá tôm Ecuador trong cuối tháng 3 và đầu tháng 4 tiếp tục giảm nhẹ theo xu hướng giảm trên toàn cầu, trong khi tổng xuất khẩu của nước này tăng. Lượng xuất khẩu tôm của Ecuador sang  Việt Nam và Hoa Kỳ giảm so với cùng kỳ năm 2017, nhưng bù lại xuất khẩu sang Trung Quốc và các thị trường Nam Âu lại gia tăng. Trong tháng 2/2018, xuất khẩu tôm Ecuador tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017 lên mức 76.478.433 pound (34.690 tấn) và tăng 10% về giá trị lên khoảng 226 triệu USD.

+ Các công ty thủy sản của Argentina, Bộ trưởng thủy sản của nước này và đại diện của hội đồng các công ty đánh bắt thủy sản Argentina đã tổ chức cuộc họp tại Brasilia trong trung tuần tháng 4 với các quan chức Brazil, nhằm gỡ bỏ rào cản tư pháp đối với một số công ty Argentina bị cấm xuất khẩu tôm đến Brazil trong năm 2013 và đưa tôm Argentina trở lại thị trường Brazil.

+ Theo báo cáo của Citywire, thuế chống bán phá giá của Mỹ đối với tôm Ấn Độ sẽ không ảnh hưởng đến việc nhập khẩu tôm từ thị trường này do như cầu tôm của Mỹ liên tục tăng, trong khi các trang trại nuôi của Ấn Độ cũng thay đổi về kỹ thuật nuôi trồng để cải thiện chất lượng và sản lượng tôm.

+ Tập đoàn sản xuất tôm CP Prima của Indonesia lo ngại về giá tôm thế giới giảm trong năm 2018. Giá tôm dự kiến tiếp tục giảm ít nhất trong 6 tháng tới.

+ Trong cuối tháng 4/2018, các tuyến vận chuyển tôm theo đường biển từ Ecuador và Peru đang bị tắc nghẽn nhiêm trọng, dẫn đến chậm trễ lịch trình giao hàng, đặc biệt là tới các cảng tại châu Âu và các điểm đến khác, bao gồm Mỹ và châu Á. Vấn đề này dự kiến sẽ kéo dài tới ít nhất giữa hoặc cuối tháng 5.

+ Ngày 27/4, EU đã hoàn thành đợt kiểm tra thứ 2 ngành thủy sản Ấn Độ, tập trung cụ thể vào lượng kháng sinh và dư lượng vi sinh trong chuỗi cung ứng tôm. Sẽ mất thêm 2-4 tháng để hoàn thành báo cáo đợt kiểm tra này. Trong khi đó báo cáo từ đợt kiểm tra trong tháng 11/2017 sẽ được công bố trong đầu hoặc giữa tháng 5/2018.

+ Các nhà chế biến tôm ở Andhra Pradesh, Ấn Độ đã thất bại trong việc thực hiện nâng giá thu mua tôm tối thiểu, sau khi cam kết nâng mức giá từ 30 INR lên 100 INR hôm 12/4. Tại triển lãm Brussels, các nhà xuất khẩu rất quan ngại về thị trường hiện tại, với giá cả toàn cầu vẫn chưa chạm đáy và sẽ gây tổn thất đáng kể cho người nuôi.

+ Các doanh nghiệp tôm tại Ấn Độ kỳ vọng giá tôm sẽ tăng trở lại từ cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 do trong cuối tháng 4, giá nguyên liệu đã giảm xuống mức dưới giá thành nên người dân có thể hạn chế thả nuôi vụ mới làm sản lượng có thể sẽ giảm từ tháng 8-10. Trong khi đó, từ tháng 10 các nhà máy thường tăng mua để chuẩn bị cho dịp Lễ cuối năm nên nguồn cung giảm sẽ làm giá tăng trở lại.

+ Tại hội chợ thủy sản Brussles có công bố một nghiên cứu quy mô lớn vừa được thực hiện tại Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Italia và Anh với các yếu tố tác động đến người tiêu dùng khi chọn mua hải sản cá tôm. Nghiên cứu cho thấy trước một sản phẩm được gắn nhãn nêu rõ nguồn gốc và cách thức đánh bắt thì người Châu Âu ít do dự hơn thậm chí sẵn sàng mua với giá cao hơn. Các nhà phân phối bán lẻ nắm được tâm lý đó, đến lượt mình cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn về việc chọn lựa hải sản nhập về bán.