Toàn cảnh thị trường thức ăn chăn nuôi tháng 4/2018 - Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại)

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường thức ăn chăn nuôi tháng 4/2018 - Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại)

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THÁNG 4/2018

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:

  • Cuối tháng 3 và đầu tháng 4 giá ngô Nam Mỹ nhập khẩu về cảng miền Nam ít nên xảy ra tình trạng khan hàng, thiếu hàng, đẩy giá lên cao, có thời điểm DNTM có hàng đã bán được với giá 5.750 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu, giao ngay. Tuy nhiên từ sau 10/04, giá ngô hạ nhiệt do hàng nhập khẩu về nhiều hơn. Cuối tháng 4, hàng về dồn dập, một số DNTM chịu áp lực giải phóng hàng chấp nhận bán ra với giá chỉ 5.400 đồng/kg xá cảng, giao ngay. Trung bình tháng 4, giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt 5.538 đồng/kg, không thay đổi nhiều so với trung bình tháng trước.
  • Mặc dù giá thế giới tiếp tục xu hướng tăng nhưng do nhu cầu tiêu thụ yếu nên giá khô đậu tương nội địa lại điều chỉnh giảm trong tháng 4. Trung bình tháng 4, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Vũng Tàu giảm nhẹ 0,2% so với tháng trước, xuống mức 10.571 đồng/kg. Tại cảng Cái Lân, giá khô đậu tương thậm chí còn giảm mạnh hơn, khi giảm tới hơn 1,7% so với tháng trước, xuống mức 10.400 đồng/kg.

TRIỂN VỌNG:

  • Sau khi giảm về mức 5.400 đồng/kg trong cuối tháng 4 và đầu tháng 5 thì đến tuần thứ hai của tháng 5 giá ngô miền Nam đã nhích nhẹ trở lại, lên mức 5.450-5.500 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu (hàng Argentina, giao ngay) do DNTM không còn phải chịu áp lực phải giải phóng hàng lớn như trước đó. Theo nhận định của AgroMonitor, giá ngô nhiều khả năng sẽ ổn định quanh mức này trong ngắn hạn. Sang tháng 6, nguồn cung ngô Nam Mỹ ít đi trong khi ngô Mỹ về nhiều thì giá ngô Nam Mỹ có thể sẽ tăng. Theo thống kê của AgroMonitor, trong tháng 6 nhập khẩu ngô Nam Mỹ về Việt Nam dự kiến đạt chưa đầy 100 nghìn tấn.
  • Tháng 5, dự kiến nhập khẩu khô đậu tương của Việt Nam đạt 350 nghìn tấn, lượng hàng về vẫn khá nhiều, tuy nhiên do năm nay tồn kho khô đậu tương của các DNTM không nhiều nên giá dễ biến động theo biến động của giá thế giới.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ: Tháng 4/2018 giá ngô CBOT tương đối ổn định, trung bình đạt 152 USD/tấn, so với cùng kỳ năm ngoái giá ngô CBOT tăng 6,3%. Giá ngô giao động ở mức cao, do: (1) Tiến độ gieo trồng ngô vụ mới của Mỹ chậm; (2) Sản lượng ngô Argentina giảm mạnh do ảnh hưởng của hạn hán.

DỰ BÁO USDA: Đối với đậu tương, sản lượng đậu tương thế giới niên vụ 2017/18 được điều chỉnh tăng 1,8 triệu tấn so với dự báo tháng 4 do sự gia tăng của Brazil (tăng 2 triệu tấn) và Paraguay (tăng 1 triệu tấn). Ngược lại sản lượng đậu tương Argentina tiếp tục bị cắt giảm 1 triệu tấn, xuống mức 39 triệu tấn.

SỰ KIỆN TRONG NƯỚC:

  • Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại).
  • 19/04: một số đơn vị Việt Nam có quan tâm đến việc mua lại các tàu lúa miến chuyển hướng từ Trung Quốc sau khi Trung Quốc tuyên bố tăng phí đặt cọc lên mức 178,6% giá trị lô hàng. Tuy nhiên theo các thương nhân, các lô lúa miến của Mỹ độ ẩm khoảng 14%, trong khi tiêu chuẩn của Việt Nam cho lúa miến nhập khẩu chỉ tối đa 12,5% nên có thể sẽ khó khăn trong việc nhập khẩu.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ:

  • 04/04: Bộ Tài chính Trung Quốc cho biết nước này sẽ áp đặt thêm thuế quan 25% đối với 106 mặt hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ bao gồm đậu tương, xe hơi, hóa chất, một số loại máy bay và các sản phẩm của ngô, ngoài ra còn một số mặt hàng nông nghiệp khác.
  • 17/04: Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết họ sẽ áp đặt phụ thu đối với nhập khẩu lúa miến Mỹ, một phần trong cuộc trả đũa thương mại với Washington của Bắc Kinh. Bộ này cho biết rằng họ sẽ yêu cầu các nhà nhập khẩu phải trả tiền đặt cọc lên tới 178,6% giá trị của lô hàng lúa miến của Hoa Kỳ. Bắc Kinh gọi đây là “biện pháp chống bán phá giá tạm thời” khi chính phủ vẫn tiếp tục điều tra về việc nhập khẩu loại ngũ cốc này.

PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC           

I. NGÔ HẠT

1. Diễn biến giá cả

Cuối tháng 3 và đầu tháng 4 giá ngô Nam Mỹ nhập khẩu về cảng miền Nam ít nên xảy ra tình trạng khan hàng, thiếu hàng, đẩy giá lên cao, có thời điểm DNTM có hàng đã bán được với giá 5.750 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu, giao ngay. Tuy nhiên từ sau 10/04, giá ngô hạ nhiệt do hàng nhập khẩu về nhiều hơn. Cuối tháng 4, hàng về dồn dập, một số DNTM chịu áp lực giải phóng hàng chấp nhận bán ra với giá chỉ 5.400 đồng/kg xá cảng, giao ngay. Trung bình tháng 4, giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt 5.538 đồng/kg, không thay đổi nhiều so với trung bình tháng trước.

Ngược lại với miền Nam, nguồn cung ngô nhập khẩu về miền Bắc đầu tháng 4 lại khá nhiều nên một số bên bán ra với giá chỉ 5.400-5.450 đồng/kg xá cảng Cái Lân, giao ngay. Tuy nhiên sau đó nhiều DNTM lớn mua gom vào, cộng với việc nguồn cung ngô Nam Mỹ nhập khẩu nửa cuối tháng 4 ít nên giá ngô miền Bắc đã tăng trở lại, lên mức 5.550-5.600 đồng/kg xá cảng Cái Lân. Do đó trung bình tháng 4, giá ngô Nam Mỹ giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 5.512 đồng/kg, giảm nhẹ 0,9% so với tháng trước.

Hình 1: Đồ thị giá ngô chào bán tại cảng miền Bắc và miền Nam 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Do giá ngô nhập khẩu về có xu hướng tăng bởi giá ngô thế giới đã bắt đầu tăng từ tháng 2/2018, do đó chênh lệch giữa giá nhập khẩu thực tế quy đổi và giá bán tại cảng đã bị thu hẹp. Tại miền Nam, mức chênh lệch chỉ còn 323 đồng/kg, tại miền Bắc chênh cao hơn, khoảng 594 đồng/kg. Như vậy chứng tỏ với mức giá ngô hiện nay thì DNTM vẫn đang có lãi.

Hình 2: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 3: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Triển vọng

Sau khi giảm về mức 5.400 đồng/kg trong cuối tháng 4 và đầu tháng 5 thì đến tuần thứ hai của tháng 5 giá ngô miền Nam đã nhích nhẹ trở lại, lên mức 5.450-5.500 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu (hàng Argentina, giao ngay) do DNTM không còn phải chịu áp lực phải giải phóng hàng lớn như trước đó. Theo nhận định của AgroMonitor, giá ngô nhiều khả năng sẽ ổn định quanh mức này trong ngắn hạn. Sang tháng 6, nguồn cung ngô Nam Mỹ ít đi trong khi ngô Mỹ về nhiều thì giá ngô Nam Mỹ có thể sẽ tăng. Theo thống kê của AgroMonitor, trong tháng 6 nhập khẩu ngô Nam Mỹ về Việt Nam dự kiến đạt chưa đầy 100 nghìn tấn.

Tại Argentina, thời tiết đang mưa khá nhiều, trước đó hạn hán đã khiến cho năng suất ngô không được tốt, nay lại mưa đúng vụ thu hoạch nên rất có thể ngô Argentina đầu vụ (dự kiến bắt đầu về Việt Nam trong đầu tháng 7) sẽ xấu, do đó ngô Mỹ có thể sẽ hút hàng hơn do giá rẻ và chất lượng ngô Mỹ năm nay cũng được đánh giá là đẹp hơn so với năm ngoái.

Bảng 1: Thông tin hàng tàu ngô dự kiến nhập khẩu về cảng Việt Nam trong tháng 5/2018:

Tên tàu

Xuất xứ

Chủ hàng

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Lượng (tấn)

PEPPINO BOTTIGLIERI

Arg

MARUBENI

23/03/18

02/05/18

24,200

MENARO

Arg

Cargill

26/03/18

02/05/18

47,240

STELLA BELINDA

Arg

Cargill

24/03/18

01/05/18

72,107

RB JORDANA

Arg

ADM

01/04/18

07/05/18

59,536

SAKIZAYA FUTURE

Arg

MARUBENI

07/04/18

12/05/18

73,606

CRIMSON ACE

Arg

COFCO

09/04/18

13/05/18

41,800

SEA GEMINI

Arg

MARUBENI

05/04/18

13/05/18

67,694

KYTHIRA I

Arg

CJ

10/04/18

20/05/18

73,178

STELLA ELLENA

Arg

LDC

10/04/18

18/05/18

22,022

SEADUTY

Mỹ

 

21/03/18

14/05/18

67,000

AOM MILENA

Mỹ

Bunge

04/04/18

06/05/18

67,000

 

Mỹ

 

 

 

113,200

ZHENG HENG

Arg

ADM

17/04/18

22/05/18

69,670

Taho Asia

Mỹ

Cargill

19/04/18

20/05/18

70,000

Majorca

Mỹ

 

19/04/18

20/05/18

69,100

Tổng

 

 

 

 

937,353

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Thương mại

Bảng 2: Lượng nhập khẩu ngô từ 01/2017 đến 4/2018 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2017

2018

2017

2018

1

      227.061

314.991

363.297

647.493

2

      476.725

244.754

154.245

298.738

3

      108.476

194.731

183.875

249.129

4

      384.481

284.805

379.161

516.736

5

      381.782

 

      490.192

 

6

      316.071

 

      227.704

 

7

      244.679

 

      284.284

 

8

      276.405

 

      313.876

 

9

      378.632

 

      398.158

 

10

      424.168

 

      446.448

 

11

      352.268

 

      439.681

 

12

      254.517

 

      232.200

 

Tổng

3.825.266

1.039.280

3.913.121

1.712.096

Nguồn: AgroMonitor

Bảng 3: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT TNHH DV NN Văn Sơn

                             22,7

TM

CT CP hóa chất CN Tân Long

                                20,9

TM

TĐ T&T

                                18,1

TM

CT TNHH New Hope VN

                                  5,0

SX

CT TNHH TACN & NN EH VN

                                  2,9

SX

CT TNHH Việt Phương Hà Nam

                                  1,8

SX

CT CP Appe Jv VN

                                  1,8

SX

CT TNHH Minh Hiếu - Hưng Yên

                                  1,7

SX

CT TNHH HIệP HạNH

                                  1,7

TM

CT CP Greenfeed VN

                                  1,7

SX

CT TNHH Cj Vina Agri

                                  1,7

SX

CT CP Nam Việt

                                  1,6

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

                                  1,5

SX

CT TNHH ANT

                                  1,3

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

                                  1,1

SX

CT CP ABC VN

                                  1,1

SX

CT TNHH Sunjin Vina

                                  1,0

SX

CT CP Đại Hữu

                                  1,0

SX

CT CP Austfeed VN

                                  1,0

SX

CT TNHH Cargill VN

                                  1,0

SX

Khác

                                  9,4

 

Tổng

                             100,0

DNSX chiếm 36%

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 4: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng 4: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT TNHH TM XNK Khai Anh - Bình Thuận

21,1

TM

TĐ T&T

16,6

TM

CT CP hóa chất CN Tân Long

13,8

TM

CT TNHH TM - DV XNK Miền Tây

6,6

TM

CT TNHH ARCHER DANIELS MIDLAND VN

4,4

TM

CT TNHH XNK Vi Na Đại Việt

4,3

TM

CT CP Việt Pháp Proconco

3,6

SX

CT TNHH DE HEUS

2,9

SX

CT CP XNK Nhất Thành

2,8

TM

CT CP Greenfeed VN

2,6

SX

CT TNHH EMIVEST FEEDMILL VN

2,6

SX

CT TNHH Cargill VN

2,4

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

2,0

SX

CT TNHH ANT

1,8

SX

CT TNHH Sunjin Vina

1,6

SX

CT CP Anova Feed

1,1

SX

CT TNHH Nhà Nước MTV TM & XNK Viettel

1,0

TM

CT TNHH USFEED

0,9

SX

CT TNHH TM Hồng Nga Sài Gòn

0,9

TM

CT CP Austfeed VN

0,7

SX

Khác

6,2

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 28% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 5: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

II. KHÔ ĐẬU TƯƠNG

1. Diễn biến giá cả

Mặc dù giá thế giới tiếp tục xu hướng tăng nhưng do nhu cầu tiêu thụ yếu nên giá khô đậu tương nội địa lại điều chỉnh giảm trong tháng 4. Trung bình tháng 4, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Vũng Tàu giảm nhẹ 0,2% so với tháng trước, xuống mức 10.571 đồng/kg. Tại cảng Cái Lân, giá khô đậu tương thậm chí còn giảm mạnh hơn, khi giảm tới hơn 1,7% so với tháng trước, xuống mức 10.400 đồng/kg.

Miền Bắc sản lượng thức ăn thành phẩm của các nhà máy giảm mạnh, nhiều nhà máy giảm tới hơn 50%, một số nhà máy còn phải đóng cửa tại một số khu vực. Nhiều nhà máy tồn kho khô đậu tương từ 2-3 tháng, thậm chí hơn do đó nhu cầu khô đậu tương của nhà máy gần như không có.

Hình 6: Đồ thị giá khô đậu tương chào bán tại cảng miền Bắc và miền Nam 2014-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor

Cũng giống như ngô, giá của các lô hàng khô đậu tương nhập khẩu về Việt Nam cũng đã bắt đầu tăng khiến cho chênh lệch giữa giá nhập khẩu thực tế và giá bán tại cảng bị thu hẹp dần. Tháng 4, mức chênh lệch tại cảng Cái Lân là 913 đồng/kg còn tại cảng Vũng Tàu là 1.084 đồng/kg, giảm hơn 500 đồng/kg so với tháng trước. 

Hình 7: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 8:: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Triển vọng

Hiện tồn kho khô đậu tương của các nhà máy rất nhiều, tập trung vào các nhà máy lớn, nhập khẩu trực tiếp, nhiều nhà máy tồn kho tới hơn 3 tháng, do đó nhu cầu mua khô đậu tương của các nhà máy sẽ vẫn yếu ít nhất cho hết quý 2.

Giá heo đã tăng tương đối trong hơn một tháng qua, tính đến đầu tháng 5 giá heo hơi tại cả miền Nam và miền Bắc lên cao nhất 43.000 đồng/kg do nguồn cung heo to không có nhiều. Tâm lý của người chăn nuôi vẫn chưa dám tái đàn bởi lo sợ giá heo sẽ giảm trở lại. Vì vậy mà nhu cầu tiêu thụ cám công nghiệp vẫn chưa tăng được nhiều. Các nhà máy và thương mại đều rất e ngại nên không dám ký mua hàng nhập khẩu.

Tháng 5, dự kiến nhập khẩu khô đậu tương của Việt Nam đạt 350 nghìn tấn, lượng hàng về vẫn khá nhiều, tuy nhiên do năm nay tồn kho khô đậu tương của các DNTM không nhiều nên giá dễ biến động theo biến động của giá thế giới.

Bảng 5: Thông tin hàng tàu khô đậu tương dự kiến cập cảng Việt Nam trong tháng 5/2018

Tên tàu

Xuất xứ

Chủ hàng

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Lượng (tấn)

PEPPINO BOTTIGLIERI

Arg

Marubeni

23/03/18

02/05/18

          50,105

DARYA KIRTHI

Arg

Cargill

26/03/18

04/05/18

          62,240

PEDHOULAS LEADER

Brazil

CJ

28/03/18

04/05/18

          63,792

OCEAN FORTE

Arg

Marubeni

03/04/18

09/05/18

          49,483

CRIMSON ACE

Brazil

CJ

09/04/18

13/05/18

          25,000

STELLA ELLENA

Arg

Glencore

10/04/18

18/05/18

          46,924

KM WEIPA

Mỹ

 

22/04/18

16/05/18

          52,500

Tổng

 

 

 

 

350,044

Nguồn: AgroMonitor

3. Thương mại

Bảng 6: Lượng nhập khẩu khô đậu tương từ 01/2017 đến 4/2018 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2017

2018

2017

2018

1

62.373

177.785

247.312

281.252

2

353.180

151.098

201.864

194.542

3

99.441

178.746

236.576

280.290

4

217.885

139.545

166.070

347.229

5

76.666

 

273.372

 

6

177.995

 

411.485

 

7

115.240

 

214.701

 

8

66.772

 

289.776

 

9

134.214

 

247.789

 

10

66.125

 

280.777

 

11

107.209

 

239.940

 

12

52.636

 

195.606

 

Tổng

1.524.148

647.174

3.018.747

1.103.313

Nguồn: AgroMonitor

Bảng 7: Tỷ trọng nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT CP hóa chất CN Tân Long

14,9

TM

CT TNHH Cargill VN

6,1

SX

CT CP ABC VN

4,8

SX

CT TNHH JAPFA COMFEED VN

4,3

SX

CT TNHH DV NN Văn Sơn

3,3

TM

CT TNHH Cj Vina Agri

3,1

SX

CT TNHH New Hope VN

2,7

SX

CT CP DD Hồng Hà

2,7

SX

CT TNHH Việt Phương Hà Nam

2,6

SX

CT CP Việt Pháp

2,0

SX

CT TNHH ANT

2,0

SX

TĐ Dabaco VN

2,0

SX

CT TNHH TACN Hoa Kỳ

1,9

SX

CT CP DD Quốc Tế Đài Loan

1,6

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

1,6

SX

CT TNHH Tân Phương Đông

1,6

SX

CT TNHH Lạc Hồng

1,4

SX

CT TNHH HAID HảI DươNG

1,4

SX

CT TNHH SX - TM Sao Mai

1,4

TM

CT TNHH Nhà Nước MTV TM & XNK Viettel

1,4

TM

Khác

37,1

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 76% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 9: Nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng 8: Tỷ trọng nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT CP Chăn nuôi C.P. VN

16,4

SX

CT TNHH TM XNK Khai Anh - Bình Thuận

13,4

TM

TĐ T&T

10,3

TM

CT CP hóa chất CN Tân Long

4,4

TM

CT TNHH ANT

4,2

SX

CT TNHH Cargill VN

3,5

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

3,4

SX

CT TNHH Khoa Kỹ SV TL

2,6

SX

CT CP XNK Nhất Thành

2,5

TM

CT CP TACN PILMICO VN

2,5

SX

CT TNHH Cj Vina Agri

2,3

SX

CT TNHH UNI - PRESIDENT VN

2,1

SX

CT TNHH TAGS Lái Thiêu

2,1

SX

CT TNHH New Hope VN

2,0

SX

CT TNHH XNK Vi Na Đại Việt

1,9

TM

CT TNHH USFEED

1,7

SX

CT TNHH Dachan (Vn)

1,6

SX

CT TNHH Nhà Nước MTV TM & XNK Viettel

1,6

TM

CT TNHH EMIVEST FEEDMILL VN

1,4

SX

CT CP TACN Vina

1,4

SX

Khác

18,7

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 61% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 10: Nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

III. Cám gạo

1. Diễn biến giá cả và triển vọng

Trong tháng 4/2018 giá cám gạo nội địa bình quân  tại kho ở khu vực Sa Đéc, Cái Bè (cám khô, xơ dưới 7%, kho gạo bán ra) quanh mức 4.805 đ/kg, tiếp tục giảm 2,3% so với tháng trước. Nguyên nhân khiến giá cám gạo sụt giảm là do nhu cầu của các nhà máy TACN yếu.

Đầu tháng 5, giá cám có xu hướng tăng khá mạnh, tính đến giữa tháng 5 giá cám khô bán ra tại kho khu vực Sa Đéc, Cái Bè đã lên mức 5.300 đồng/kg do nhu cầu của các nhà máy cám cá tăng cao. Cá đang giai đoạn lớn, chuẩn bị xuất ao nhiều nên nhu cầu cám công nghiệp ở mức cao. Tuy nhiên, theo các thương nhân, đến cuối tháng 6 cá sẽ xuất ao khá nhiều, do đó nhu cầu cám gạo cũng sẽ theo đó giảm mạnh trở lại.

Hình 11: Đồ thị giá cám gạo tại Sa Đéc, Cái Bè (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thương mại

Bảng 9: Lượng nhập khẩu cám gạo từ tháng 01/2017–4/2018 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2017

2018

2017

2018

1

         10.882

     32.510

       9.990

   25.689

2

         15.039

     26.109

     15.791

   17.221

3

         16.169

     29.294

       9.080

   21.251

4

         17.345

     13.512

     12.210

   19.269

5

         18.848

 

       7.106

 

6

           6.325

 

       9.516

 

7

         13.782

 

           813

 

8

           7.397

 

       7.865

 

9

         15.480

 

     11.220

 

10

         14.896

 

       8.320

 

11

         14.706

 

     11.377

 

12

           9.823

 

     16.738

 

Tổng

       160.693

  101.424

   120.026

   83.430

Nguồn: AgroMonitor

IV. Lúa mỳ

Đối với lúa mỳ, giá lúa mỳ TACN tháng 4/2018 giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt trung bình 5.623 đồng/kg và khoảng 5.643 đồng/kg tại cảng Cái Lân, tương ứng tăng 1,9% và 1,5% so với tháng trước.

Giá sắn lát tăng cao, cộng với nhu cầu từ mảng cám cá đã hỗ trợ giá lúa mỳ TACN tiếp tục xu hướng tăng trong tháng 4. Đầu tháng 5, hai tàu lúa mì Nga nhập khẩu về khu vực Vũng Tàu (tàu TOPAZ và ANNAMARIA) và 1 tàu lúa mỳ Nga (tàu OSLO VENTURE) về cảng Cái Lân đều phát hiện nhiễm cỏ dại Cirsium Arvense, thuộc đối tượng kiểm dịch thực vật nhóm I của Việt Nam cần được kiểm duyệt gắt gao. Tuy Cục Thực vật – Bộ NN & PTNT không buộc tái xuất lô hàng này, đồng ý kiểm soát chặt chẽ tránh lây lan cỏ dại nhưng đồng thời Bộ NN & PTNT cũng đang trình Chính phủ cấm nhập khẩu lúa mỳ Nga và dự kiến cuối tháng này sẽ có hiệu lực.

Hình 12: Đồ thị giá lúa mỳ TACN bán tại cảng miền Bắc và miền Nam (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thương mại

Bảng 10: Lượng nhập khẩu lúa mỳ TACN từ 01/2017 đến 4/2018 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2017

2018

2017

2018

1

30.427

   122.583

70.282

   278.814

2

76.464

     20.235

203.979

     61.639

3

374.898

     69.310

366.936

     93.171

4

67.527

     70.839

54.384

   372.936

5

165.664

 

83.869

 

6

123.471

 

130.937

 

7

103.625

 

126.298

 

8

44.220

 

211.273

 

9

51.377

 

60.988

 

10

75.721

 

115.818

 

11

54.541

 

74.862

 

12

119.730

 

199.829

 

Tổng

1.287.665

   282.967

1.699.454

   806.561

Nguồn: AgroMonitor

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

I. DỰ BÁO CUNG – CẦU NGŨ CỐC THẾ GIỚI

- Hôm 10/05, Bộ NN Mỹ đã ra báo cáo cung-cầu ngũ cốc và hạt thế giới, theo đó, sản lượng ngô thế giới niên vụ 2018/19 được kỳ vọng sẽ tăng mạnh trở lại, với mức tăng gần 20 triệu tấn so với niên vụ trước, lên mức 1,056 tỷ tấn. Tuy nhiên do nhu cầu tăng mạnh nên tồn kho cuối kỳ cũng giảm gần 36 triệu tấn so với niên vụ trước, xuống mức 159,1 triệu tấn.

+ Đối với niên vụ 2017/18, USDA điều chỉnh tăng nhẹ sản lượng ngô thế giới thêm 600 nghìn tấn so với dự báo tháng 4 do sự gia tăng từ một số nước nhỏ. Tuy nhiên sản lượng ngô của Brazil lại bị cắt giảm 5 triệu tấn so với dự báo tháng trước, xuống mức 87 triệu tấn bởi ảnh hưởng của hạn hán.

+ Tồn kho ngô Mỹ cuối niên vụ 2017/18 dự kiến đạt 55,4 triệu tấn, cao hơn so với mức 55,3 triệu tấn ước tính trung bình của thị trường.

Bảng 11: Cung - cầu ngô thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

1009.0

127.8

977.6

206.2

2015/16

959.7

136.7

958.6

209.3

2016/17

1074.7

141.8

1062.6

226.5

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

1036.0

150.2

1069.2

197.8

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

1036.6

150.2

1069.3

194.8

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

1056.0

157.5

1091.7

159.1

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

- Báo cáo cung-cầu tháng 5, Bộ NN Mỹ giảm nhẹ ước tính sản lượng lúa mỳ thế giới niên vụ 2017/18, xuống mức 758,3 triệu tấn, giảm 1,4 triệu tấn so với dự báo tháng trước. Theo đó, xuất khẩu giảm 600 nghìn tấn, trong đó các nước ghi nhận sự sụt giảm mạnh là Úc (giảm 1 triệu tấn, do cạnh tranh từ khu vực biển Đen), Mỹ (giảm 500 nghìn tấn do tốc độ giao hàng chậm, giá cao).

+ Tồn kho lúa mỳ Mỹ cuối niên vụ 2017/18 dự kiến đạt 29,1 triệu tấn, cao hơn so với con số 29 triệu tấn ước tính trung bình của thị trường.

+ Sang năm 2018/19, dự kiến sản lượng lúa mỳ toàn cầu sẽ giảm tới hơn 10 triệu tấn so với niên vụ trước do sự sụt giảm từ Nga (giảm gần 13 triệu tấn), EU (giảm 1,1 triệu tấn) nên mặc dù một số nước ghi nhận sự tăng trưởng như Mỹ (tăng hơn 2 triệu tấn), Argentina (tăng 1,5 triệu tấn), Úc (tăng 2,5 triệu tấn)… thì cũng khong đủ bù đắp lượng sụt giảm. Ngược lại với nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ vẫn tiếp tục xu hướng tăng do dân số mở rộng, vì vậy, tồn kho lúa mỳ thế giới cuối niên vụ 2018/19 dự kiến chỉ đạt 264,3 triệu tấn, giảm hơn 6 triệu tấn so với niên vụ trước.

+ Năm 2018/19, USDA dự báo nhập khẩu lúa mỳ của Việt Nam đạt 4,5 triệu tấn, tăng 300 nghìn tấn so với năm trước đó.

Bảng 12: Cung - cầu lúa mỳ thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

725.9

161.4

705.4

214.5

2015/16

734.8

170.8

709.0

241.9

2016/17

753.8

182.2

739.6

255.6

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

759.7

184.2

743.1

271.2

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

758.3

183.6

743.8

270.4

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

747.7

187.5

753.9

264.3

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

- Đối với đậu tương, sản lượng đậu tương thế giới niên vụ 2017/18 được điều chỉnh tăng 1,8 triệu tấn so với dự báo tháng 4 do sự gia tăng của Brazil (tăng 2 triệu tấn) và Paraguay (tăng 1 triệu tấn). Ngược lại sản lượng đậu tương Argentina tiếp tục bị cắt giảm 1 triệu tấn, xuống mức 39 triệu tấn.

+ Tồn kho đậu tương Mỹ cuối niên vụ 2017/18 ước đạt 11,4 triệu tấn, thấp hơn so với mức 14,7 triệu tấn dự đoán của thị trường.

+ Sang niên vụ 2018/19, sản lượng đậu tương thế giới được kỳ vọng tăng 18 triệu tấn so với niên vụ trước nhờ sự tăng trưởng trở lại của Argentina (tăng 17 triệu tấn), Ấn Độ (tăng 1,8 triệu tấn) và một số nước khác. Trong khi đó, sản lượng đậu tương Mỹ lại giảm hơn 3 triệu tấn do diện tích có thể bị thu hẹp bởi nhu cầu đậu tương Mỹ từ Trung Quốc giảm do căng thẳng thương mại giữa hai nước.

Bảng 13: Cung - cầu đậu tương thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Chế biến

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2014/15

318.8

125.9

122.2

262.7

77.1

2015/16

312.7

132.8

131.9

278.6

73.0

2016/17

351.2

147.6

144.6

288.5

96.2

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

334.8

150.4

151.7

299.2

90.8

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

336.6

151.2

152.6

299.4

92.1

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

354.5

161.8

159.5

313.3

86.7

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

- Do sản lượng đậu tương ép dầu tăng nên sản lượng khô đậu tương thế giới niên vụ 2017/18 cũng tăng nhẹ 200 nghìn tấn so với dự báo trước, tuy nhiên do nhu cầu tiêu thụ nội địa của một số nước xuất khẩu lớn như Mỹ, Brazil đều tăng nên sản lượng thương mại lại giảm. Argentina – nước xuất khẩu khô đậu tương lớn nhất thế giới được kỳ vọng chỉ xuất khẩu 29 triệu tấn khô đậu tương trong năm 2017/18, giảm thêm 500 nghìn tấn so với dự báo tháng trước do sản lượng sụt giảm mạnh bởi hạn hán.

+ Về nhập khẩu, dự kiến nhập khẩu khô đậu tương của Việt Nam giảm xuống mức 4,8 triệu tấn, gairm 250 nghìn tấn so với dự báo tháng 4 bởi nhu cầu tiêu thụ yếu khi mà chăn nuôi heo gặp nhiều khó khăn.

Bảng 14: Cung - cầu khô đậu tương thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Tiêu
thụ

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2014/15

207.2

63.6

60.1

202.0

12.2

2015/16

218.6

67.6

63.9

215.8

11.5

2016/17

226.4

65.0

60.7

222.4

12.2

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

235.1

65.4

61.8

232.2

11.8

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

235.3

64.8

60.8

232.9

11.5

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

246.3

65.8

62.5

243.2

11.4

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

 (Ghi chú: màu đỏ/xanh thể hiện xu hướng giảm/tăng)

II. GIÁ CẢ THẾ GIỚI

Tháng 4/2018 giá ngô CBOT tương đối ổn định, trung bình đạt 152 USD/tấn, so với cùng kỳ năm ngoái giá ngô CBOT tăng 6,3%. Giá ngô giao động ở mức cao, do: (1) Tiến độ gieo trồng ngô vụ mới của Mỹ chậm; (2) Sản lượng ngô Argentina giảm mạnh do ảnh hưởng của hạn hán.

Hình 14: Diễn biến giá ngô CBOT, 2016-4/2018 (USD/tấn, FOB)

Nguồn: IMF

Đối với lúa mỳ, sau khi tăng liên tục trong 3 tháng đầu năm thì đến tháng 4 giá lúa mỳ CBOT đã quay đầu giảm trở lại, khi giảm 3,3% (tương đương giảm 6 USD/tấn) so với tháng trước, xuống còn 174 USD/tấn. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước thì tháng 4 giá lúa mỳ CBOT vẫn tăng hơn 12,2% (tương đương tăng 19 USD/tấn). Thời tiết cải thiện tại Mỹ và triển vọng nguồn cung dồi dào tại khu vực biển Đen là nguyên nhân chính đẩy giá lúa mỳ CBOT đi xuống trong tháng này.

Hình 15: Diễn biến giá lúa mỳ CBOT, 2016-4/2018 (USD/tấn)

Nguồn: IMF

Biến động cùng chiều với lúa mỳ, tháng 4, giá đậu tương CBOT cũng quay đầu giảm trở lại, khi giảm 1,6% so với tháng trước (tương đương giảm 6 USD/tấn), xuống mức 381 USD/tấn do thông tin Trung Quốc sẽ áp thuế 25% đối với đậu tương nhập khẩu từ Mỹ để trả đũa việc Mỹ áp thuế 25% đối với 1.300 sản phẩm công nghệ, vận chuyển và dược phẩm của Trung Quốc.

Ngược lại với đậu tương, giá khô đậu tương CBOT vẫn tiếp tục tăng nhẹ 0,5% bởi thị trường cho rằng nếu Trung Quốc áp thuế cao đối với đậu tương nhập khẩu từ Mỹ, khi đó các nhà nhập khẩu của nước này sẽ chuyển hướng sang mua hàng từ Nam Mỹ nhiều hơn, khi đó nguồn cung khô đậu tương Argentina có thể sẽ bị ảnh hưởng do các nhà xuất khẩu nước này và các nước láng giềng sẽ xuất đậu tương thô nhiều hơn thay vì ép dầu. Giá khô đậu tương CBOT trung bình tháng 4 đạt 420 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn so với trung bình tháng 3.

Hình 16: Diễn biến giá đậu tương và khô đậu tương CBOT, 2016-4/2018 (USD/tấn)

Nguồn: IMF

PHỤ LỤC

I. SỰ KIỆN TRONG NƯỚC

- Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại).

- 05/04: tại Sơn La, hai huyện Mộc Châu, Phù Yên đã bắt đầu gieo trồng ngô vụ 1, huyện Thuận Châu dự kiến đầu tuần sau sẽ bắt đầu, các huyện khác dự kiến giữa tháng 4 sẽ gieo hạt. Theo tham vấn của AgroMonitor đối với một số thương nhân, diện tích ngô Sơn La năm nay có thể giảm khoảng 30%, diện tích ngô của khu vực miền Bắc (từ Nghệ An đổ ra) giảm khoảng 20-25% so với năm ngoái do nông dân chuyển đổi sang trồng sắn và cây ăn quả.

- 10/04: một nhà máy TACN lớn đấu thầu mua 1.500 tấn khô dầu cọ, hỏi mua cả nhập khẩu và nội địa, trong đó 1.100 tấn về cảng HCM và 400 tấn giao tại cảng Hải Phòng. Thời gian xếp hàng 15/4-15/5 tại cảng xuất, tương đương giao 01-31/05 tại cảng đến.

- 10/04: một nhà máy TACN lớn đấu thầu mua 1.000 tấn khô dầu dừa, hỏi mua song song cả nhập khẩu và nội địa, cụ thể như sau:

+ Miền Nam mua 750 nghìn tấn, trong đó 400 tấn giao 15/4-15/5 tại cảng xuất (tương đương giao 01-31/05 tại cảng HCM) và 350 tấn giao 01-31/05 tại cảng xuất (tương đương giao 25/05-15/06 tại cảng HCM.

+ Miền Bắc mua 250 tấn, trong đó 150 tấn giao 15/04-15/05 tại cảng xuất (tương đương giao 01-31/05 tại cảng Hải Phòng) và 100 tấn giao 01-31/05 tại cảng xuất (tương đương giao 25/05-15/06 tại cảng Hải Phòng).

- 19/04: một số đơn vị Việt Nam có quan tâm đến việc mua lại các tàu lúa miến chuyển hướng từ Trung Quốc sau khi Trung Quốc tuyên bố tăng phí đặt cọc lên mức 178,6% giá trị lô hàng. Tuy nhiên theo các thương nhân, các lô lúa miến của Mỹ độ ẩm khoảng 14%, trong khi tiêu chuẩn của Việt Nam cho lúa miến nhập khẩu chỉ tối đa 12,5% nên có thể sẽ khó khăn trong việc nhập khẩu.

II. SỰ KIỆN QUỐC TẾ

- 04/04: Bộ Tài chính Trung Quốc cho biết nước này sẽ áp đặt thêm thuế quan 25% đối với 106 mặt hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ bao gồm đậu tương, xe hơi, hóa chất, một số loại máy bay và các sản phẩm của ngô, ngoài ra còn một số mặt hàng nông nghiệp khác.

- 05/04: Sàn giao dịch ngũ cốc Buenos Aires tiếp tục cắt giảm dự báo sản lượng đậu tương Argentina niên vụ 2017/18 thêm 1,5 triệu tấn so với dự báo trước đó, xuống mức 38 triệu tấn, giảm 34% so với niên vụ trước.

- 17/04: Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết họ sẽ áp đặt phụ thu đối với nhập khẩu lúa miến Mỹ, một phần trong cuộc trả đũa thương mại với Washington của Bắc Kinh. Bộ này cho biết rằng họ sẽ yêu cầu các nhà nhập khẩu phải trả tiền đặt cọc lên tới 178,6% giá trị của lô hàng lúa miến của Hoa Kỳ. Bắc Kinh gọi đây là “biện pháp chống bán phá giá tạm thời” khi chính phủ vẫn tiếp tục điều tra về việc nhập khẩu loại ngũ cốc này.

- 19/04: Một số tàu chở lúa miến của Hoa Kỳ đến Trung Quốc đã thay đổi điểm đến sau khi Trung Quốc tuyên bố biện pháp chống bán phá giá mạnh tay. Theo Cơ quan kiểm tra ngũ cốc liên bang của USDA, 20 tàu đang trên đường chở hơn 1,2 triệu tấn lúa miến Mỹ cho Trung Quốc. Ít nhất 5 tàu trong đó đã chuyển hướng trong vòng vài giờ kể từ khi công bố các mức thuế nhập khẩu lúa miến của Mỹ vào ngày 17/04.

III. LƯỢNG NHẬP KHẨU CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU TACN TRONG THÁNG 4/2018

Bảng 15: Lượng và kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu TACN trong tháng 4/2018

Nguyên liệu

Lượng (tấn)

Loại DN

Ngô hạt

                       801,541

              162,196,757

Khô đậu tương

                       486,774

              193,375,907

Lúa mỳ TACN

                       443,775

                95,605,945

Đậu tương

                       163,218

                71,914,860

Lúa mỳ thực phẩm

                          81,051

                21,231,520

DDGS

                          79,736

                17,179,881

Cám gạo

                          32,780

                  5,463,034

Bột xương thịt

                          30,562

                12,733,579

Cám mỳ

                          30,495

                  5,785,168

Phụ gia TACN

                          24,422

                37,122,912

Gluten ngô

                          23,223

                  4,463,230

Khô dầu cọ

                          22,179

                  3,065,281

Bã cải ngọt

                          20,275

                  6,489,930

Khô dầu khác

                          14,074

                  3,297,208

Bột cá

                          12,392

                17,488,532

Bột gia cầm

                          11,127

                  8,340,624

Khô dầu dừa

                          10,391

                  1,908,487

Bã cải đắng

                            5,763

                  1,526,650

Bột gan mực

                            4,361

                  3,980,898

Bột lông vũ thủy phân

                            1,625

                      831,554

Khác

                          17,652

                11,863,943

Tổng

                    2,317,415

              685,865,899

Nguồn AgroMonitor tổng hợp từ TCHQ

Bảng 16: Sản lượng TACN cho gia súc, gia cầm và thủy sản (nghìn tấn)

 

Tháng

Gia súc và gia cầm

Thủy sản

 

1

1617.0

237.3

2

1350.0

243.9

3

1320.0

267.4

4

1262.1

280.7

5

1296.0

318.4

6

1365.0

332.5

7

1472.0

340.0

8

1516.2

375.6

9

1548.8

363.6

10

1595.2

371.4

11

1675.0

351.3

12

1758.8

360.8

2018

1

-

447.8

2

-

417.3

3

-

464.7

4

-

476.4

Nguồn: Sản lượng thức ăn thủy sản AgroMonitor tổng hợp từ Tổng cục Thống kê; Sản lượng TAGS&GC là con số AgroMonitor ước tính.