Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 12/2018 - Nhu cầu sử dụng thịt gà tăng mạnh trong bối cảnh dịch LMLM trên heo lan rộng và khó kiểm soát đẩy giá gà miền Bắc tăng tốt trong những tuần cuối tháng

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 12/2018 - Nhu cầu sử dụng thịt gà tăng mạnh trong bối cảnh dịch LMLM trên heo lan rộng và khó kiểm soát đẩy giá gà miền Bắc tăng tốt trong những tuần cuối tháng

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 12/2018

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2018

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn.

- Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina.

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Trong tháng 12 vừa qua, dịch bệnh LMLM có diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh phía Bắc, đồng thời, tại 1 số địa phương khu vực miền Trung, miền Đông và miền Tây đều có thông tin về dịch bệnh này.
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 11/2018 đạt 6.13 triệu USD, tăng khá so với tháng trước với mức chênh lệch khoảng 29.1%, tương đương gần 1.4 triệu USD, và nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp gần 12 lần, tương đương 5.6 triệu USD.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 11/2018 giảm khá so với tháng trước với giá trị nhập khẩu còn 33.34 triệu USD, giảm 20.04%, tương đương 8.36 triệu USD; so với cùng kỳ năm 2017, mức nhập khẩu tháng 11 này lại cao hơn tương đối lớn, khoảng 51.5%, tương đương 11.33 triệu USD.

Thịt gà

-    Nhu cầu sử dụng thịt gà tăng mạnh trong bối cảnh dịch LMLM trên heo lan rộng và khó kiểm soát đẩy giá gà miền Bắc tăng tốt trong những tuần cuối tháng.

-  Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 11/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt hơn 19.66 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng 10, mức tăng khoảng 3%, tương đương gần 520 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch là khá lớn, tăng tới 67.2%, tương đương 7.9 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

-    Tại thị trường Trung Quốc, trong tháng 12, Bộ NN nước này tiếp tục công bố thêm các trường hợp dính dịch sốt heo châu Phi tại nhiều tỉnh thành.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

 Chỉ tính riêng 3 tuần kể từ cuối tháng 11 đến những tuần đầu tháng 12, Trung Quốc đã mua tổng cộng 17.000 tấn thịt heo từ Mỹ, trong đó có 7.500 tấn giao năm 2018 và 9.500 tấn giao 2019. Tin từ Bộ NN Mỹ cho biết, trong tuần kết thúc vào ngày 13/12, Mỹ xuất 2.200 tấn thịt lợn đi Trung Quốc, ghi nhận lô hàng xuất khẩu đầu tiên trong vòng 6 tháng gần đây kể từ khi Trung Quốc tăng thuế với thịt lợn Mỹ.

 

A.DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn. Trung Quốc vẫn là quốc gia có sản lượng thịt heo ước tính cao nhất thế giới năm 2018 với gần 54.2 triệu tấn, chiếm 47.94%, tuy nhiên, những phát hiện gần đây về dịch bệnh Sốt heo châu Phi (ASF) tại quốc gia này đã có ảnh hưởng đến giá cả và quy mô đàn heo. Sản lượng của EU ước tính trong năm 2018 tăng nhẹ so với 2017, đạt 24.1 triệu tấn (chiếm 21.34%) nhưng  dự báo sang năm 2019 sẽ giảm nhẹ do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn. Mỹ tiếp tục giữ vị trí thứ 3 với hơn 11.99 triệu tấn, chiếm 10.61%.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn gần 3% trong năm 2019. Liên minh Châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với lượng ước đạt 3.05 triệu tấn trong năm 2018.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

110,422

109,941

6,719

7,237

2016

110,139

109,818

7,988

8,357

2017

110,038

110,584

7,890

8,297

Ước tính 2018

112,958

112,433

8,104

8,537

Dự báo 2019

114,585

114,211

8,397

8,790

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

EU

2,860

3,050

3,150

Mỹ

2,556

2,717

2,813

Canada

1,336

1,350

1,365

Brazil

786

685

735

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

1,620

1,750

1,875

Nhật Bản

1,475

1,510

1,525

Mê-xi-cô

1,083

1,175

1,235

Hàn Quốc

645

735

685

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng được dự báo trong năm 2019 sẽ đạt 12.72 triệu tấn, tiếp theo là Brazil với 10.2 triệu tấn, EU với 7.8 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng đạt 7.4 triệu tấn.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2019 được dự báo ở mức 10.6 triệu tấn. Trong đó, Brazil là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt2.2 triệu tấn, sau đó đến Ấn Độ với 1.62 triệu tấn và đứng thứ ba là Úc với 1.51 triệu tấn. Với nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2019 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1.4 triệu tấn, sau đó là đến Trung Quốc với 1.32 triệu tấn thịt.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2015-2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

59,710

57.812

7,654

9,586

2016

60,478

58,756

7,704

9,428

2017

61,624

59,674

7,953

9,967

Ước tính 2018

62,878

60,724

8,380

10,558

Dự báo 2019

63,623

61,734

8,688

10,576

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

1,856

2,100

2,200

Ấn Độ

1,849

1,665

1,625

Úc

1,485

1,630

1,510

Mỹ

1,297

1,435

1,472

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Mỹ

1,358

1,373

1,406

Trung Quốc

974

1,200

1,320

Nhật Bản

817

835

850

Hồng Kông

543

560

600

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2019 lần lượt sẽ là 13.8 triệu tấn, 12.47 triệu tấn và 12.0 triệu tấn.

Về xuất khẩu, xuất khẩu toàn cầu được dự báo tăng mạnh hơn 4% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 11.6 triệu tấn. Mặc dù không phải là quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng Brazil lại là quốc gia xuất khẩu thịt khẩu lớn nhất thế giới năm 2019 do lượng tiêu thụ nội địa của nước này thấp hơn nhiều so với khả năng sản xuất. Lượng xuất khẩu năm 2019 của Brazil được dự báo đạt gần 3.8 triệu tấn thịt.

Trong năm 2019, Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 1.18 triệu tấn. Tiếp theo là đến Mexico và Eu, với lượng nhập lần lượt đạt 850 nghìn tấn và 680 nghìn tấn thịt.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

91,337

89,587

8,641

10,308

2016

90,276

90,740

9,173

10,725

2017

93,779

92,034

9,351

11,039

Ước tính 2018

95,594

93,787

9,363

11,153

Dự báo 2019

97,802

95,974

9,775

11,619

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

3,847

3,685

3,775

Mỹ

3,140

3,158

3,248

EU

1,335

1,425

1,500

Thái Lan

757

850

900

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Nhật Bản

1,056

1,140

1,175

Mê-xi-cô

804

845

860

EU

693

650

680

Ả Rập Xê Út

790

575

675

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

B. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Trong tháng 12 vừa qua, dịch bệnh LMLM có diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh phía Bắc, đồng thời, tại 1 số địa phương khu vực miền Trung, miền Đông và miền Tây đều có thông tin về dịch bệnh này.

Tình hình dịch bệnh lở mồm long móng có diễn biến phức tạp tại miền Bắc trong tháng 12 vừa qua, đặc biệt, ở 2 tuần giữa tháng, thời tiết lạnh và mưa khiến dịch bệnh càng có điều kiện lây lan nhanh hơn. Nếu như ở tuần đầu tháng, có 3 địa phương phát hiện có dịch là Sóc Sơn (Hà Nội), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, thì ở những tuần tiếp theo, có thêm nhiều địa phương phát hiện dịch bệnh như Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hoá, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình.  Dịch bệnh lan rộng hơn cũng khiến lượng heo dịch lẫn heo chạy dịch được bán mạnh ra thị trường với giá bán khá thấp, thấp nhất có 30.000 đồng/kg khiến cho heo đẹp trở nên khó bán. Dịch bệnh khiến giá heo dân tại miền Bắc giao dịch ở nhiều quãng giá, từ 30.000-46.000 đồng/kg, tùy từng thời điểm, tình hình dịch bệnh và thị trường mà heo được vận chuyển đến tiêu thụ. Dịch LMLM khiến đàn heo tại một số tỉnh bị thiệt hại khá nặng như Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nam. Ở Hà Nam, trong khoảng tuần thứ 2 của tháng, dịch LMLM được đánh giá bị khá nặng khi nổ dịch ở nhiều huyện, người chăn nuôi bán chạy dịch từ heo biểu nhỏ, 60-70 kg.  Ngoài ra, dịch LMLM cũng có diễn biến phức tạp tại Bắc Giang- tỉnh có quy mô đàn vào loại lớn nhất của miền Bắc, tập trung nhiều trại lớn của các công ty. Theo đó, hai huyện chăn nuôi lớn nhất của Bắc Giang là Hiệp Hòa và Tân Yên đều đã có dịch lở mồm long móng, không chỉ ở các trại tư nhân mà cả với trại của các công ty. Theo ghi nhận của thương nhân hồi tuần cuối tháng 12, khi bị dịch, dân có xu hướng bán đàn do lo ngại dịch sẽ ảnh hưởng tới các con heo khỏe mà ít chữa nên lượng heo từ 60-80 kg/con ra thị trường giai đoạn này tăng mạnh. Heo biểu này xuất ra từ cả trại dân lẫn công ty trong vùng dịch được gom đưa về khu vực Huế, Đà Nẵng và Bình Định để tiêu thụ do khu vực này thích tiêu thụ heo biểu nhỏ. Dịch LMLM cũng ảnh hưởng tới một số trại nuôi của công ty khiến các công ty hạ giá để đẩy tăng lượng bán ra do lo ngại dịch bùng phát. Các công ty lớn miền Bắc bị ảnh hưởng dịch LMLM từ 10-60% tổng đàn. Trước diễn biến dịch LMLM lan rộng và khó kiểm soát trong việc vận chuyển/tiêu thụ heo bệnh nên một số bếp ăn tập thể tạm thời ngừng đưa thịt heo vào trong thực đơn, chuyển sang dùng thịt gà hoặc các loại thịt khác. Giá heo công ty miền Bắc cũng có điều chỉnh giảm so với tháng trước, tính đến tuần cuối tháng giá bán ra còn dao động 42.000-43.500 đồng/kg, thấp hơn 2.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn 9.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017.

Tại miền Trung, khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh dịch LMLM cũng xuất hiện rải rác nhưng do mật độ nuôi không dày như miền Bắc nên việc dập dịch cũng dễ hơn. Tại Bình Định, dịch cũng xuất hiện tại một số trại nhỏ trong dân nhưng chưa nhiều, giá bán ra cao nhất tại Bình Định dao động 46.000-47.000 đồng/kg. Tại Lâm Đồng và Đắc Lắc, cũng đã ghi nhận có dịch. Tại một số huyện chăn nuôi lớn như Eakar và Madrak dịch LMLM cũng đã xuất hiện kéo giá heo dân giảm. Nếu như thời điểm trước giá heo dân Đắc Lắc vẫn được giao dịch 48.000 đồng/kg thì đến thời điểm phát hiện dịch còn 47.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá heo công ty cũng có điều chỉnh giảm trong tháng 12 vừa qua, theo đó, giá heo công ty tính đến tuần cuối tháng còn ở mức 49.500 đồng/kg, giảm 1.500 đồng/kg so với hồi đầu tháng, thấp hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước, nhưng cao hơn 18.500-19.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tại Đồng Nai- thủ phủ chăn nuôi heo của miền Nam, dịch LMLM cũng được phát hiện trên một số trại khu vực Dầu Giây và Thống Nhất hồi gần cuối tháng. Heo dân từ Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh cũng được xả ra khá mạnh. Ở thời điểm này, giá heo dân tại Đồng Nai dao động từ 47.000-50.000 đồng/kg, thấp hơn 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn 19.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Tại miền Tây, ở tuần đầu tháng, do nguồn cung heo dân lẫn công ty khan hiếm nhưng do được bổ sung heo từ miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đưa về nên giá heo miền Tây không có nhiều biến động. Theo thông tin từ thương nhân cho hay, do heo từ miền Bắc đóng vào miền Tây tiêu thụ trong giai đoạn miền Bắc đang có dịch lở mồm long móng nên một số tỉnh như Vĩnh Long, Tiền Giang, Long An và Bến Tre cũng dính dịch bệnh này. Lo ngại dịch bệnh nên các trại nuôi dân cũng đẩy bán ra mạnh gồm cả biểu heo nhỏ, với trọng lượng từ 80kg trở lên, trong đó biểu 80-90kg bán rất nhiều. Điều này khiến lượng heo về các bến trung chuyển tăng mạnh, đạt 400-500 con/ngày, kéo giá mua từ nhà vườn giảm. Như tại Bến Tre, giá heo tính đến ngày cận cuối tháng còn dao động từ 45.000-48.000 đồng/kg, thấp hơn 3.000-5.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn 17.000-19.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhìn chung, sau một thời gian đẩy mạnh đóng heo từ khu vực Nam miền Trung đưa về miền Tây tiêu thụ thì heo khu vực Nam miền Trung giảm lại. Trong khi đó, do lo ngại dịch bệnh sẽ khiến heo bị chết nhiều trong quá trình vận chuyển nên heo từ miền Bắc đóng vào miền Nam giảm mạnh. Heo miền Tây vẫn khan hiếm nên cánh thương lái phải bắt thêm heo từ miền Đông đưa về. Cùng với đó, trong bối cảnh heo từ khu vực miền Bắc bị dịch khá nặng thì các thương lái cũng chuyển hướng đóng heo từ Nghệ An đổ vào để đưa vào Nam tiêu thụ do chênh lệch giá vẫn tương đối tốt.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình từ năm 2016-12/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 11/2018 đạt 6.13 triệu USD, tăng khá so với tháng trước với mức chênh lệch khoảng 29.1%, tương đương gần 1.4 triệu USD, và nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp gần 12 lần, tương đương 5.6 triệu USD. Brazil tiếp tục là quốc gia xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ nhiều nhất sang Việt Nam trong tháng 11 này với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2.63 triệu USD, chiếm 42.9% thị phần. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam sang các thị trường khác trong tháng 11 đạt gần 3.89 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng trước với mức giảm 17%, tương đương 791 nghìn USD; so với cùng kỳ năm trước thì mức xuất khẩu lại tăng nhẹ, khoảng 6.4%, tương đương 234 nghìn USD. Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 11 với kim ngạch nhập khẩu đạt 3.24 triệu USD, chiếm 83.46% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2018 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

 

3

1.48

4.13

 

4

0.80

2.31

 

5

0.84

3.49

 

6

1.03

3.57

 

7

2.02

3.09

 

8

2.10

4.67

 

9

4.50

3.06

 

10

4.75

4.68

 

11

6.13    

3.89

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2018 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 11/2018 giảm khá so với tháng trước với giá trị nhập khẩu còn 33.34 triệu USD, giảm 20.04%, tương đương 8.36 triệu USD; so với cùng kỳ năm 2017, mức nhập khẩu tháng 11 này lại cao hơn tương đối lớn, khoảng 51.5%, tương đương 11.33 triệu USD. Trong tháng 11, Úc tiếp tục là quốc gia giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu từ nước này đạt 26.03 triệu USD, chiếm 78.1% thị phần.

- Với thịt trâu/bò đã qua giết mổ, giá trị nhập khẩu trong tháng 11 lại tăng nhẹ so với tháng trước, với mức nhập khẩu đạt 23.77 triệu USD, tăng gần 2%, tương đương giá trị tuyệt đối là 424 nghìn USD; tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm ngoái thì mức tăng là khá mạnh, cao hơn 61.5%, tương đương 9.05 triệu USD. Mỹ là quốc gia giữ vị trí đầu tiên trong danh sách các quốc gia xuất khẩu thịt với thịt trâu/bò đã qua giết mổ vào Việt Nam trong tháng 11, với kim ngạch xuất khẩu đạt 10.21 triệu USD, chiếm 43% thị phần. Theo sau đó là Ấn Độ, chiếm 24.5% và Úc chiếm 23.9%.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

21.35

-28.15

2

31.7

21.96

18.92

-13.83

3

25.1

6.52

28.06

+330.37

4

42.0

22.65

33.58

+48.26

5

37.6

45.09 

32.70

-27.48

6

16.3

54.29 

24.47

-54.95

7

26.8

26.68 

26.84

+0.6

8

22.9

13.18

33.67

+155.5

9

29.9

18.26 

17.08

-6.5

10

31.9

 27.84

41.70

+49.7

11

16.1

 22.00

33.34

+51.5

12

15.9

33.74 

 

 

Tổng

350.1

321.82

311.70

 

 
Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ

3.1.Gà trắng

Nhu cầu sử dụng thịt gà tăng mạnh trong bối cảnh dịch LMLM trên heo lan rộng và khó kiểm soát đẩy giá gà miền Bắc tăng tốt trong những tuần cuối tháng.

Thị trường gà trắng ở cả miền Bắc và miền Nam đều có những điều chỉnh trái chiều trong tháng 12 vừa qua. Tại thị trường miền Bắc, nếu như ở tuần đầu tháng, do 1 số trại bị dính dịch cúm gia cầm nên có xu hướng đẩy bán sớm ra thị trường, kéo giá giao dịch gà giảm tới 5000 đồng/kg, cao nhất còn 21.000 đồng/kg. Ở tuần thứ 2, giá có điều chỉnh tăng lại lên quanh mức 25.500-26.000 đồng/kg. Những ngày sau đó, dù có thêm những diễn biến tăng nhưng tính đến cuối tuần thứ 3 giá gà trắng bán ra vẫn về mức cao nhất được 26.000 đồng/kg. Sang đến tuần cuối tháng, giá giao dịch gà trắng lại có chiều hướng bật tăng mạnh lên quanh mức 29.500-30.000 đồng/kg và duy trì mức này cho đến cuối tháng. Nguyên nhân khiến giá gà trắng miền Bắc tích cực như vậy là do tình hình dịch LMLM lan rộng và khó kiểm soát trong việc vận chuyển/tiêu thụ heo bệnh nên một số bếp ăn tập thể tạm ngừng đưa thịt heo vào trong thực đơn, có chiều hướng chuyển sang dùng thịt gà hoặc các loại thịt khác thay thế. Cộng với việc, nguồn cung gà to trên thị trường khan hiếm nên dân cũng có xu hướng ém lại không bán ra, chờ giá. Bên cạnh đó, theo thông tin từ giới thương nhân cho hay, cùng thời điểm này, lượng gà đóng đưa vào các tỉnh miền Trung như Đà Nẵng tiêu thụ do giá gà tại khu vực này ở mức khá cao.

Có diễn biến trái ngược với miền Bắc, tại thị trường miền Nam, trong tuần đầu tháng, nguồn cung gà từ các công ty ít, gà size to hiếm khiến giá bật tăng mạnh với mức tăng đạt 7.000 đồng/kg, đẩy giá gà lên 31.000-33.000 đồng/kg. Tiếp theo, ở tuần thứ 3 của tháng, do nhiều công ty lớn ngưng bán gà ta thị trường khiến nguồn cung có chiều hướng thiếu hụt đẩy giá gà liên tiếp có điều chỉnh tăng, giá gà size to cao nhất được 39.000 đồng/kg. Ở thời điểm này do chênh lệch đủ hấp dẫn và nguồn cung gà của miền Nam thiếu hụt nên các lái miền Bắc gom hàng đưa vào tiêu thụ. Tuy nhiên, từ cuối tuần thứ 3 cho đến cuối tháng, giá gà bán ra quay đầu giảm trở lại, còn quanh mức 35.000-36.000 đồng/kg, vẫn cao hơn 8.500-9.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 5.000-6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gà giống (1 ngày tuổi) ở mức 11.000 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-12/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

3.2. Gà tam hoàng

Giá gà màu 2 miền trong tháng 12 vừa qua cũng có những diễn biến khá sôi động. Theo đó, tại thị trường miền Bắc, sau 2 tuần giữ ổn định ở mức giá 40.000 đồng/kg-tương đương với tuần cuối tháng 11, tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng, khi cung vượt cầu, kéo giá gà điều chỉnh giảm trở lại. Tính đến ngày cuối tháng, giá gà còn ở mức 38.000 đồng/kg, giảm 2.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, thấp hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn giá bình quân cùng kỳ năm trước 2.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại thị trường miền Nam, nếu như ở 3 tuần đầu tháng, giá gà liên tiếp có điều chỉnh giảm, kéo giá gà còn dao động 32.000-33.000 đồng/kg, thì sang đến tuần cuối tháng, sự thiếu hụt nguồn cung đẩy giá gà bật tăng mạnh trở lại với mức tăng đạt 6.000 đồng/kg, lên 38.000-39.000 đồng/kg. Mức giá này cao hơn 500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn thấp hơn 6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gà giống (1 ngày tuổi)giữ ở mức 8.400 đồng/con.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 12/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 11/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt hơn 19.66 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng 10, mức tăng khoảng 3%, tương đương gần 520 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch là khá lớn, tăng tới 67.2%, tương đương 7.9 triệu USD. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 11 này với tổng kimngạch đạt gần 8.11 triệu USD, chiếm 41.23% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.30

+168.1

2

5.3

7.5 

8.82

+17.2

3

10.0

8.1 

15.35

+89.98

4

9.0

7.6 

11.31

+49.63

5

10.7

11.74 

17.21

+46.6

6

10.1 

9.31

15.36

+64.97

7

13.2

9.44 

14.67

+55.5

8

10.7

8.93 

14.76

+65.4

9

6.8

7.64 

14.33

+87.66

10

6.7

9.12 

19.14

+109.83

11

8.5

11.76 

19.66

+67.2

12

10.9

16.21 

 

 

Tổng

99.4

113.38

166.89

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Tại thị trường Trung Quốc, trong tháng 12, Bộ NN nước này tiếp tục công bố thêm các trường hợp dính dịch sốt heo châu Phi tại nhiều tỉnh thành.

Phát hiện ổ dịch đầu tiên hồi đầu tháng 8, dịch sốt heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp tại Trung Quốc trong tháng 12 vừa qua. Những ổ dịch được công bố trong tháng 12:

STT

Ngày

Địa phương có dịch

Thiệt hại

1

1/12

Thiên Tân

67/361 con heo chết

2

3/12

Huyện Tongzhou, Bắc Kinh

17/9835 con heo bị chết và 85 con khác bị nhiễm bệnh

3

Tây An-thủ phủ chăn nuôi của tỉnh Thiểm Tây

79/205 con heo bị chết

4

Hắc Long Giang

77/375 con heo chết

5

5/12

Bắc Kinh, Thiểm Tây và Tứ Xuyên

158 con heo bị chết trên tổng số hơn 3000 con

6

6/12

Quận Yaodu, thành phố Linfen, tỉnh Sơn Tây

35 con heo bị chết và 45 con khác đã nhiễm virus.

7

10/12

Thành phố Shenmu, Thiểm Tây

1933 con heo bị chết

8

Thành phố Quý Dương, tỉnh Quý Châu

526 con heo chết.

9

12/12

Thành phố Bazhong, Tứ  Xuyên

19/117 con heo bị chết

10

Thành phố Xining, Thanh Hải

14/69 con heo chết.

11

17/12

Tứ Xuyên, Hắc Long Giang

50/294 con bị chết.

12

18/12

Trung Khánh

23 con heo bị chết

13

19/12

Quảng Đông

trong 1 lò mổ làm 11/50 con heo bị chết

14

20/12

Thành phố Sanming, Phúc Kiến

27/11.950 con heo bị chết

15

21/12

Quý Châu

42/156 con heo bị chết.

16

22/12

Quảng Châu, Quảng Đông

9/6027 con bị chết.

17

24/12

Thành phố Nanping, tỉnh Phúc Kiến

1 trang trại có 5.776 con, trong đó có 11 con đã chết và 35 con nhiễm bệnh.

18

25/12

Quảng Đông

11/90 con bị chết

 
 

Cùng với những công bố về các ổ dịch mới thì một số địa phương thuộc tỉnh Hồ Nam và Sơn Tây cũng được rút khỏi danh sách vùng dịch do không phát hiện thêm ổ dịch trong thời gian 6 tuần. Việc dịch tả heo châu Phi được phát hiện ở tỉnh Quảng Đông khiến Ma Cao và Hồng Kông cấp tập thực hiện các biện pháp để hạn chế sự lây lan dịch bệnh bởi 2 vùng này đều có giao dịch với các trang trại heo thuộc Quảng Đông. Tại Đài Loan, Uỷ ban nông nghiệp cũng đang tiến hành các biện pháp khẩn cấp để phòng tránh sự lây lan của dịch tả châu Phi, trong đó có việc phạt nặng các hành vi buôn lậu các sản phẩm thịt từ khu vực có dịch. Trong thông báo hôm 21/12, một du khách người Trung Quốc đã bị phạt 200.000 đài tệ (tương đương 6.500 USD) khi mang 1.2kg thịt heo viên và xúc xích vào Đài Loan do không biết quy định cấm mang các sản phẩm thịt từ các nước có dịch vào Đài Loan.

Liên quan tới dịch bệnh sốt heo châu Phi, trong bối cảnh dịch bệnh lây lan rộng khắp, chính phủ Trung Quốc tiếp tục chú trọng triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát dịch bệnh, trong đó, theo tuyên bố ngày 10/12, Bộ NN nước này ban hành lệnh cấm chăn nuôi heo ở những khu vực có heo rừng bởi đây được coi là môi trường khá thuận lợi cho dịch bệnh phát triển. Bên cạnh đó, trong thông báo ngày 18/12, Bộ NN Trung Quốc cho biết, Bộ đang tiến hành 1 chiến dịch dài hơi, kéo dài từ tháng 12/2018-5/2019 nhằm trấn áp các hoạt động giết mổ heo bất hợp pháp và xây dựng các lò giết mổ có quy mô lớn. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã triển khai nhiều biện pháp để kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, trong đó có việc cấm sử dụng các thức ăn thừa từ nhà bếp hoặc cấm sử dụng máu heo để làm thức ăn cho heo nhưng hôm qua hải quan Trung Quốc phát hiện virus tả châu Phi trên một số loại protein được làm từ huyết heo có nguồn gốc từ 12 lò mổ tại Thiên Tân.

Trong một động thái tích cực, hồi đầu tháng 12, theo thông tin từ Bộ NN Trung Quốc, nhằm hỗ trợ giá heo cho những vùng bị hạn chế vận chuyển do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi, Bộ tuyên bố sẽ tiến hành mua heo vào trữ đông. Tuy nhiên, thời gian bắt đầu và khối lượng mua bao nhiêu thì cho đến ngày cuối tháng vẫn chưa được công bố.

Với giao dịch quốc tế, theo reuters, trong năm 2018, Brazil ước tính đã xuất khẩu khoảng 1.6 triệu tấn thịt bò vào Trung Quốc và dự kiến con số này sẽ còn cao hơn trong năm tới, đạt khoảng 1.8 triệu tấn để thay thế cho nguồn protein từ thịt lợn-ngành chăn nuôi chủ đạo nhưng đang có những diễn biến phức tạp của dịch bệnh ASF tại quốc gia này.

Liên quan đến giao dịch thương mại Mỹ-Trung, theo báo cáo của Bộ NN Mỹ, trong tuần gần cuối tháng 11, Trung Quốc đã mua tổng cộng 12.700 tấn thịt heo từ Mỹ, trong đó có 3.300 tấn giao năm 2018 và 9.400 tấn giao năm 2019. Đây là đơn hàng mua lớn nhất của Trung Quốc với thịt heo từ Mỹ từ trước đến nay cho dù Trung Quốc đang áp thuế lên tới 62% cho thịt heo Mỹ. Sau đó, Trung Quốc tiếp tục mua 2.500 tấn thịt heo từ Mỹ trong đó có 2.400 tấn giao năm 2018 và 100 tấn giao năm 2019. Trong báo cáo hôm 13/12, Bộ NN Mỹ cho biết Trung Quốc tiếp tục mua 1.800 tấn thịt heo từ Mỹ cho hàng giao 2018. Như vậy chỉ riêng 3 tuần kể từ cuối tháng 11, Trung Quốc đã mua tổng cộng 17.000 tấn thịt heo từ Mỹ, trong đó có 7.500 tấn giao năm 2018 và 9.500 tấn giao 2019. Các doanh nghiệp Trung Quốc dường như đã được bật đèn xanh về khả năng gỡ bỏ thuế sau cuộc gặp Mỹ Trung hồi cuối tháng 11. Cũng theo thống kê từ Bộ NN Mỹ cho thấy, kể từ tháng 7/2018 đến nay, Trung Quốc không nhập bất kỳ một con heo giống cụ kị nào từ Mỹ do lo ngại dịch bệnh trong khi 6 tháng đầu năm 2018 nhập hơn 4.300 con. Tin từ Bộ NN Mỹ cho biết, trong tuần kết thúc vào ngày 13/12, Mỹ xuất 2.200 tấn thịt lợn đi Trung Quốc, ghi nhận lô hàng xuất khẩu đầu tiên trong vòng 6 tháng gần đây kể từ khi Trung Quốc tăng thuế với thịt lợn Mỹ. Lô hàng này dự kiến sẽ về tới Trung Quốc vào tháng 1/2019, do đó giới thương nhân kỳ vọng các mức thuế mà Trung Quốc áp lên hàng nông sản Mỹ sẽ được dỡ bỏ từ đầu năm 2019.

Ở một diễn biến khác, theo tờ Myanmar Times, trong tuyên bố ngày 7/12, Bộ Thương mại Myanmar tạm thời đình chỉ việc nhập khẩu các sản phẩm thịt lợn đông lạnh từ Trung Quốc trong bối cảnh dịch bệnh ASF bùng phát tại quốc gia này, đặc biệt khi dịch bệnh này xuất hiện tại tỉnh Vân Nam-tỉnh có đường biên giới chung với Myanmar. Đồng thời Myanmar cũng nỗ lực hạn chế hoạt động buôn bán thịt lợn lậu qua cửa khẩu Muse để ngăn chặn dịch bệnh xâm nhập vào nước này.

Với giao dịch heo hơi, giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc có những điều chỉnh trái chiều trong tháng 12 vừa qua. Nguyên nhân dẫn tới những biến động này là do: (i) Thời tiết lạnh giá khắp các vùng miền của Trung Quốc khiến tiêu thụ thịt heo tăng mạnh; (ii) Nhu cầu mua thịt heo vào trữ cho các dịp lễ Tết cuối năm khiến lượng mua tăng; (iii) Tác động của các lệnh cấm vận chuyển liên tỉnh gây dư cung cục bộ. Nếu tuần đầu tháng giá bình quân đạt 47.500 đồng/kg thì đến tuần cuối tháng giá heo bình quân chỉ còn gần 13.8 tệ/kg, tương đương 46.400 đồng/kg.

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 12 năm 2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 

Sự kiện quốc tế

Chỉ tính riêng 3 tuần kể từ cuối tháng 11 đến những tuần đầu tháng 12, Trung Quốc đã mua tổng cộng 17.000 tấn thịt heo từ Mỹ, trong đó có 7.500 tấn giao năm 2018 và 9.500 tấn giao 2019. Tin từ Bộ NN Mỹ cho biết, trong tuần kết thúc vào ngày 13/12, Mỹ xuất 2.200 tấn thịt lợn đi Trung Quốc, ghi nhận lô hàng xuất khẩu đầu tiên trong vòng 6 tháng gần đây kể từ khi Trung Quốc tăng thuế với thịt lợn Mỹ.