Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 1/2019 - Tại thị trường nội địa, giá heo hơi có những điều chỉnh trái chiều trong nửa đầu và nửa cuối tháng 1 vừa qua
 

Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 1/2019 - Tại thị trường nội địa, giá heo hơi có những điều chỉnh trái chiều trong nửa đầu và nửa cuối tháng 1 vừa qua

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 1/2019

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2018

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn.

- Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina.

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Tại thị trường nội địa, giá heo hơi có những điều chỉnh trái chiều trong nửa đầu và nửa cuối tháng 1 vừa qua.
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 12/2018 đạt 4.17 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức chênh lệch khoảng 31.9%, tương đương thấp hơn 1.96 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp hơn 4.5 lần, tương đương 3.26 triệu USD..

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2018 đạt 43.93 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước, với mức tăng khoảng 31.8% tương đương với gần 10.6 triệu USD; tương tự, nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì mức tăng cũng khá mạnh, tăng 30.2%, tương đương 10.2 triệu USD.

Thịt gà

-    Các bếp ăn tập thể bước vào thời gian nghỉ Tết khiến nhu cầu tiêu thụ thịt gà giảm kéo giá gà trắng tại thị trường miền Nam rớt mạnh trong tuần cuối tháng 1.

-  Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 19.2 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng 11, mức giảm 2.3%, tương đương gần 464 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch lại cao hơn, với mức tăng đạt 18.43%, tương đương gần 3 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

-    Nguồn cung heo ra thị trường dịp cận Tết dồi dào kéo giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc liên tục rớt giá trong tháng 1 vừa qua.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

Trong bối cảnh dịch tả châu Phi diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, trong tuần đầu tháng 1, Malaysia đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu nhập khẩu thịt heo và các sản phẩm của thịt heo từ 6 nước, trong đó có Trung Quốc. Ngoài ra, Malaysia cũng tuyên bố không nhập khẩu các loại bột protein có nguồn gốc từ heo của Trung Quốc sau khi virus tả châu Phi được phát hiện trên một số mẫu bột huyết heo được sản xuất tại tỉnh Thiên Tân.

A.DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn. Trung Quốc vẫn là quốc gia có sản lượng thịt heo ước tính cao nhất thế giới năm 2018 với gần 54.2 triệu tấn, chiếm 47.94%, tuy nhiên, những phát hiện gần đây về dịch bệnh Sốt heo châu Phi (ASF) tại quốc gia này đã có ảnh hưởng đến giá cả và quy mô đàn heo. Sản lượng của EU ước tính trong năm 2018 tăng nhẹ so với 2017, đạt 24.1 triệu tấn (chiếm 21.34%) nhưng  dự báo sang năm 2019 sẽ giảm nhẹ do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn. Mỹ tiếp tục giữ vị trí thứ 3 với hơn 11.99 triệu tấn, chiếm 10.61%.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn gần 3% trong năm 2019. Liên minh Châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với lượng ước đạt 3.05 triệu tấn trong năm 2018.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

110,422

109,941

6,719

7,237

2016

110,139

109,818

7,988

8,357

2017

110,038

110,584

7,890

8,297

Ước tính 2018

112,958

112,433

8,104

8,537

Dự báo 2019

114,585

114,211

8,397

8,790

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

EU

2,860

3,050

3,150

Mỹ

2,556

2,717

2,813

Canada

1,336

1,350

1,365

Brazil

786

685

735

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

1,620

1,750

1,875

Nhật Bản

1,475

1,510

1,525

Mê-xi-cô

1,083

1,175

1,235

Hàn Quốc

645

735

685

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng được dự báo trong năm 2019 sẽ đạt 12.72 triệu tấn, tiếp theo là Brazil với 10.2 triệu tấn, EU với 7.8 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng đạt 7.4 triệu tấn.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2019 được dự báo ở mức 10.6 triệu tấn. Trong đó, Brazil là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt2.2 triệu tấn, sau đó đến Ấn Độ với 1.62 triệu tấn và đứng thứ ba là Úc với 1.51 triệu tấn. Với nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2019 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1.4 triệu tấn, sau đó là đến Trung Quốc với 1.32 triệu tấn thịt.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2015-2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

59,710

57.812

7,654

9,586

2016

60,478

58,756

7,704

9,428

2017

61,624

59,674

7,953

9,967

Ước tính 2018

62,878

60,724

8,380

10,558

Dự báo 2019

63,623

61,734

8,688

10,576

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

1,856

2,100

2,200

Ấn Độ

1,849

1,665

1,625

Úc

1,485

1,630

1,510

Mỹ

1,297

1,435

1,472

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Mỹ

1,358

1,373

1,406

Trung Quốc

974

1,200

1,320

Nhật Bản

817

835

850

Hồng Kông

543

560

600

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2019 lần lượt sẽ là 13.8 triệu tấn, 12.47 triệu tấn và 12.0 triệu tấn.

Về xuất khẩu, xuất khẩu toàn cầu được dự báo tăng mạnh hơn 4% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 11.6 triệu tấn. Mặc dù không phải là quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng Brazil lại là quốc gia xuất khẩu thịt khẩu lớn nhất thế giới năm 2019 do lượng tiêu thụ nội địa của nước này thấp hơn nhiều so với khả năng sản xuất. Lượng xuất khẩu năm 2019 của Brazil được dự báo đạt gần 3.8 triệu tấn thịt.

Trong năm 2019, Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 1.18 triệu tấn. Tiếp theo là đến Mexico và Eu, với lượng nhập lần lượt đạt 850 nghìn tấn và 680 nghìn tấn thịt.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

91,337

89,587

8,641

10,308

2016

90,276

90,740

9,173

10,725

2017

93,779

92,034

9,351

11,039

Ước tính 2018

95,594

93,787

9,363

11,153

Dự báo 2019

97,802

95,974

9,775

11,619

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

 

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

3,847

3,685

3,775

Mỹ

3,140

3,158

3,248

EU

1,335

1,425

1,500

Thái Lan

757

850

900

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Nhật Bản

1,056

1,140

1,175

Mê-xi-cô

804

845

860

EU

693

650

680

Ả Rập Xê Út

790

575

675

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

B. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Tại thị trường nội địa, giá heo hơi có những điều chỉnh trái chiều trong nửa đầu và nửa cuối tháng 1 vừa qua.

Tại thị trường miền Bắc, tình hình dịch bệnh LMLM vẫn tiếp diễn và có diễn biến phức tạp tại một số tỉnh bị muộn như Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định và Thanh Hóa khiến dân vẫn tiếp tục đổ heo ra bán với cả heo dịch và heo chạy dịch. Tuy nhiên, tại những vùng khác, thực chất nguồn cung heo dân đã khan hơn do heo đẹp tới lứa xuất chuồng ít và heo có biểu từ 70-80kg đã bán nhiều trước đó, cộng với việc heo từ công ty cũng có chiều hướng khan, thậm chí có thời điểm còn có thông tin toàn bộ các công ty chăn nuôi lớn tại miền Bắc phải tiến hành chia heo với lượng bán giảm từ 20-30% so với nhu cầu đặt mua của thương lái do biểu heo nhỏ trong khi nhu cầu tăng mạnh nên giá heo tại khu vực này liên tiếp có điều chỉnh tăng trong những tuần đầu tháng. Mức cao nhất đạt 48.000-48.500 đồng/kg. Tuy nhiên, sang đến tuần cuối tháng, để hạn chế lượng heo tồn trong 9 ngày thị trường nghỉ giao dịch (nghỉ Tết nguyên đán) cùng với đó thời tiết ấm áp hơn khiến tiêu thụ heo vẫn khá chậm và dịch LMLM vẫn lai rai tại các vùng nên giá heo công ty miền Bắc có điều chỉnh giảm lại, còn quanh mức 46.500-47.000 đồng/kg, cá biệt có công ty vẫn giữ giá 48.000 đồng/kg nhưng lượng bán có xu hướng giảm. Với mức giá 48.000 đồng/kg, giá heo miền Bắc cao hơn 5.500-6.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 14.000-14.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Với heo dân miền Bắc, do ảnh hưởng của dịch LMLM nên giá heo dân bán ra vẫn có quãng giá khá rộng, heo dịch và heo chạy dịch dao động từ 40.000-45.000 đồng/kg, thậm chí có cả mức dưới 40.000 đồng/kg, còn với heo khỏe, đẹp có thể được giá 45.000-48.000 đồng/kg, cá biệt có thể được trả 50.000-52.000 đồng/kg ở một số vùng nhưng lượng cũng không nhiều.

Tại thị trường miền Nam, nguồn cung heo ra thị trường ít do heo từ công ty có biểu nhỏ khiến giá heo hơi có điều chỉnh tăng trong tháng 1 vừa qua. Theo đó, tính đến ngày cuối tháng, giá heo hơi miền Nam lên quanh mức 51.000-51.500 đồng/kg, cao hơn 2.000-2.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 19.500-20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Với heo dân, dịch LMLM cũng có xu hướng nổ mạnh tại hầu hết các huyện chăn nuôi lớn của Đồng Nai, heo từ 80-90kg được đẩy bán ra thị trường nhiều. Biểu heo công ty nhỏ nên các lái cũng chuyển hướng sang bắt heo dân nhiều hơn, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch bệnh nên giá heo dân cũng dao động trong quãng rộng, từ 45.000-52.000 đồng/kg, trong đó, giá heo khỏe tại Đồng Nai dao động từ 48-52.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá heo dân Đồng Nai cao hơn 1.000-2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 17.000-18.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Tại miền Trung, nếu như ở tuần đầu tháng, lượng heo dân bán ra thị trường tăng mạnh, bao gồm cả heo 70-80kg do lo ngại dịch bệnh kéo giá heo bán ra còn quanh mức 48.000-49.000 đồng/kg, thì sang đến nửa cuối tháng, giá heo lại đảo chiều bật tăng lại do nguồn cung heo dân bắt đầu khan hiếm trong khi nhu cầu tiêu thụ thịt dịp cuối năm tăng, cộng thêm lực hút heo, đi khu vực miền Tây và đi Campuchia tăng. Theo đó, giá heo bán ra được đẩy lên mức phổ biến 49.500-50.000 đồng/kg, cao nhất heo công ty có giá 51.500 đồng/kg. Tại miền Tây, nguồn cung khan hiếm trong khi nhu cầu đóng hàng đi Cam khá tốt khiến cả heo công ty lẫn heo dân đều có điều chỉnh tăng trong nửa cuối tháng 1. Theo đó, giá heo công ty miền Tây lên mức 50.000 đồng/kg, tăng 500 đồng so với tuần đầu tháng, cao hơn 500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 22.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Có cùng xu hướng, heo dân cũng được đẩy tăng lên phổ biến ở mức 50.000 đồng/kg ở thời điểm cuối tháng, cao hơn 2.000-4.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 21.000-23.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tin từ thương lái cho biết, có tới 90% số trại heo tại miền Tây bị dính dịch, gây thiệt hại lớn cho đàn heo của khu vực này. Trong đợt dịch lần này, số lượng heo nái mang đi tiêu hủy cũng khá nhiều do giá hỗ trợ tiêu hủy với heo nái được 38.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với việc bán cho thương lái (khoảng 4-4.5 triệu/con tầm 2.5-3 tạ).

Theo đánh giá của cán bộ thú y, dịch LMLM năm nay độc lực cao, ảnh hưởng tới gần như tất cả các tỉnh, có thể gây chết 100% với heo con mới sinh và làm heo choai, heo nhỡ bị bệnh hàng loạt cho dù làm phòng dịch tốt.

Theo thông tin từ thương nhân cho biết, chênh lệch giá heo giữa 2 miền Bắc Nam ở thời điểm cuối tháng vào khoảng 5.000 đồng/kg, giúp heo miền Bắc có thể đưa vào Nam tiêu thụ nhưng do dịch LMLM vẫn còn lai rai, cộng thêm thú y kiểm soát chặt nên heo từ miền Bắc chủ yếu đưa vào miền Trung tiêu thụ còn heo từ Đắc Lắc, Nha Trang, Bình Định được gom đưa vào miền Nam tiêu thụ.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình từ năm 2016-1/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 12/2018 đạt 4.17 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức chênh lệch khoảng 31.9%, tương đương thấp hơn 1.96 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức chênh lệch là khá cao, cao gấp hơn 4.5 lần, tương đương 3.26 triệu USD. Brazil tiếp tục là quốc gia xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ nhiều nhất vào Việt Nam trong tháng 12, với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2.03 triệu USD, chiếm 48.8% thị phần. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam sang các thị trường khác trong tháng 12 đạt gần 5 triệu USD, tăng 28.5% so với tháng trước, tương đương 1.11 triệu USD; so với cùng kỳ năm trước, mức xuất khẩu cũng có biến động tăng nhưng mức tăng là rất nhẹ, chỉ khoảng 7.1%, tương đương hơn 330 nghìn USD. Hong Kong tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 12 với kim ngạch nhập khẩu đạt 4.06 triệu USD, chiếm 81.33% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2018 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

 

3

1.48

4.13

 

4

0.80

2.31

 

5

0.84

3.49

 

6

1.03

3.57

 

7

2.02

3.09

 

8

2.10

4.67

 

9

4.50

3.06

 

10

4.75

4.68

 

11

6.13    

3.89

 

12

4.17

5.00

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2018 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2018 đạt 43.93 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước, với mức tăng khoảng 31.8% tương đương với gần 10.6 triệu USD; tương tự, nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì mức tăng cũng khá mạnh, tăng 30.2%, tương đương 10.2 triệu USD. Trong tháng 12, Úc tiếp tục là quốc gia giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu từ nước này đạt 34.99 triệu USD, chiếm 79.65% thị phần.

- Với thịt trâu/bò đã qua giết mổ, giá trị nhập khẩu trong tháng 12 lại giảm nhẹ so với tháng trước, với mức nhập khẩu giảm còn 22.3 triệu USD, giảm 6.2% so với tháng trước, tương đương 1.47 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức nhập khẩu lại bật tăng khá mạnh với chênh lệch là 26%, tương đương 4.6 triệu USD. Mỹ là quốc gia giữ vị trí đầu tiên trong danh sách các quốc gia xuất khẩu thịt với thịt trâu/bò đã qua giết mổ vào Việt Nam trong tháng 12, với kim ngạch xuất khẩu đạt 8.71 triệu USD, chiếm 39% thị phần. Theo sau đó là Úc, chiếm 29.03% và Ấn Độ chiếm 25.15%.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

21.35

-28.15

2

31.7

21.96

18.92

-13.83

3

25.1

6.52

28.06

+330.37

4

42.0

22.65

33.58

+48.26

5

37.6

45.09 

32.70

-27.48

6

16.3

54.29 

24.47

-54.95

7

26.8

26.68 

26.84

+0.6

8

22.9

13.18

33.67

+155.5

9

29.9

18.26 

17.08

-6.5

10

31.9

 27.84

41.70

+49.7

11

16.1

 22.00

33.34

+51.5

12

15.9

33.74 

43.93

+30.20

Tổng

350.1

321.82

355.62

 

 
Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Các bếp ăn tập thể bước vào thời gian nghỉ Tết khiến nhu cầu tiêu thụ thịt gà giảm kéo giá gà trắng tại thị trường miền Nam rớt mạnh trong tuần cuối tháng 1.

Thị trường gà trắng trong tháng 1 có nhiều biến động do những biến động về cung-cầu trong giai đoạn trước Tết nguyên đán. Tại thị trường miền Bắc, nếu như ở 2 tuần đầu tháng, nguồn cung gà ở trại công ty lẫn trại dân khan hiếm đẩy giá gà bật tăng mạnh lên quanh mức 42.500-43.000 đồng/kg, tăng từ 14.500-15.000 đồng/kg so với ngày đầu tháng. Nguyên nhân khiến giá gà trắng miền Bắc bật tăng mạnh là do nguồn cung gà khan hiếm khi ở thời điểm trước đó, thời tiết tại miền Bắc lạnh giá, các lò sưởi không đủ ấm cho gà nên lượng gà non được các trại dân đẩy bán ra thị trường khá nhiều. Tuy nhiên, sang đến những tuần cuối tháng, sau khi có điều chỉnh giảm khá với mức giảm là 8.000 đồng/kg ở tuần thứ 3, kéo giá gà bán ra còn 34.500-35.000 đồng/kg, giá gà duy trì mức giá này cho đến tận cuối tháng. Với mức giá này, giá gà trắng tại miền Bắc vẫn cao hơn 5.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 3.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Tại thị trường miền Nam, nếu như ở 2 tuần đầu tháng, giá gà có biến động không đáng kể, điều chỉnh tăng 2.000 đồng/kg ở tuần thứ nhất nhưng ngay sau đó lại giảm lại mức tương đương kéo giá gà về mức 35.000-36.000 đồng/kg. Tuy nhiên, sang đến 2 tuần cuối tháng, giá gà lại có biến động khá mạnh khi nhích tăng thêm từ 4.000-5.000 đồng/kg lên 40.000 đồng/kg ở tuần thứ 4 rồi lại quay đầu giảm mạnh ở tuần cuối. Nguyên nhân giảm là do các bếp ăn tập thể bước vào thời gian nghỉ Tết khiến nhu cầu tiêu thụ thịt gà giảm, kéo giá gà bán ra rớt mạnh, tới 14.000 đồng/kg, còn 26.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá gà trắng miền Nam thấp hơn 9.000-12.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 4.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá gà giống (1 ngày tuổi) ở mức 11.000 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-1/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

3.2. Gà tam hoàng

Không có diễn biến sôi động như gà trắng, giá gà màu tại thị trường miền Bắc có giao dịch tương đối ổn định trong tháng 1 vừa qua. Theo đó, sau khi có điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg ở đầu tháng, kéo giá gà về mức 37.000 đồng/kg-duy trì cho đến tận cuối tháng. Với mức giá này, giá gà màu miền Bắc thấp hơn 1.000 đồng/kg so với cuối tháng trước nhưng lại cao hơn 1.000 đồng/kg so với mức giá trung bình ở cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, tại thị trường miền Nam, nếu ở tuần đầu tháng, giá gà giao dịch ở mức 38.000-39.000 đồng/kg thì sang tuần sau đó, nguồn cung gà ra thị trường nhiều kéo giá gà xuống còn quanh mức 35.000-36.000 đồng/kg. Sau khi duy trì mức này trong những ngành giữa tháng, giá gà màu lại bật tăng lại từ 1.000-2.000 đồng/kg, lên 37.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá gà màu miền Nam thấp hơn 1.000-2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 7.000-8.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá gà giống (1 ngày tuổi) nửa cuối tháng giảm 1.000 đồng/con, còn 7.400 đồng/con.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 1/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 19.2 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng 11, mức giảm 2.3%, tương đương gần 464 nghìn USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch lại cao hơn, với mức tăng đạt 18.43%, tương đương gần 3 triệu USD. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 12 này với tổng kim ngạch đạt 8.36 triệu USD, chiếm 43.6% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.30

+168.1

2

5.3

7.5 

8.82

+17.2

3

10.0

8.1 

15.35

+89.98

4

9.0

7.6 

11.31

+49.63

5

10.7

11.74 

17.21

+46.6

6

10.1 

9.31

15.36

+64.97

7

13.2

9.44 

14.67

+55.5

8

10.7

8.93 

14.76

+65.4

9

6.8

7.64 

14.33

+87.66

10

6.7

9.12 

19.14

+109.83

11

8.5

11.76 

19.66

+67.2

12

10.9

16.21 

19.20

+18.43

Tổng

99.4

113.38

186.10

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Nguồn cung heo ra thị trường dịp cận Tết dồi dào kéo giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc liên tục rớt giá trong tháng 1 vừa qua.

Theo tin từ Reuters, vào hồi cuối tháng 12/2018, Bộ NN Trung Quốc tuyên bố sẽ nới lỏng các quy tắc về vận chuyển heo thịt và heo con để đảm bảo nguồn cung cấp thịt heo cho dịp Tết nguyên đán sắp tới. Theo đó, heo từ những vùng có dịch sẽ được vận chuyển với những vùng có dịch khác và heo từ những vùng không có dịch sẽ được vận chuyển tới những vùng không có dịch khác nhằm giúp cho việc lưu thông heo tốt hơn. Cùng với đó, trong thông báo phát đi hồi đầu năm 2019, Bộ NN Trung Quốc yêu cầu các cơ sở giết mổ cần phải tiến hành các thử nghiệm virus ASF cho thịt lợn sau giết mổ trước khi bán ra thị trường. Động thái này nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh sốt heo châu Phi đang có diễn biến phức tạp tại nước này. Bộ yêu cầu, nếu cơ sở phát hiện virus thì phải tiêu hủy tất cả số heo tại lò và dừng hoạt động trong ít nhất 48 giờ. Quy định này sẽ có hiệu lực từ 1/2/2019

Trong tháng 1 vừa qua, dù không còn nhiều ổ dịch được phát hiện như những tháng trước nhưng việc xuất hiện dịch trong những trang trại có quy mô lớn vẫn làm dấy lên lo ngại về tình hình kiểm soát dịch bệnh tại thị trường này. Những ổ dịch được công bố trong tháng 1/2019:

STT

Ngày

Địa phương có dịch

Thiệt hại

1

01-01-19

Sơn Tây

Làm 7/8016 con bị chết

2

02-01-19

Hắc Long Giang

Virus được phát hiện tring trang trại có quy mô 73.000 con, làm chết 3.766 con và gần 5.000 con nhiễm bệnh

3

12-01-19

Giang Tô

Trong 1 trang trại gần 70.000 con làm 2.452 con bị bệnh và 1.369 con bị chết

4

13-01-19

Cam Túc

Trong 1 trang trại gần 70.000 con làm 2.452 con bị bệnh và 1.369 con bị chết

5

20-01-19

Ninh Hạ

Trong 1 trang trại có 57 con làm 13 con chết và 26 con khác nhiễm bệnh

 
 

 Ngoài ra, dịch sốt heo châu phi cũng được phát hiện tại 4 tỉnh của Mông Cổ-nước có đường biên giới giáp với tỉnh Cam Túc của Trung Quốc, làm hàng ngàn con heo bị chết. Liên quan đến ổ dịch được phát hiện có quy mô tới 73.000 con tại tỉnh Hắc Long Giang, theo Reuters, trang trại này thuộc sở hữu của Heilongjiang Asia-Europe Animal Husbandry, có sự góp vốn của một quỹ đầu tư đến từ Đan Mạch. Theo website của công ty, trang trại này có 15.000 heo nái và sản xuất 385.000 heo thịt/năm. Đây cũng là trang trại có quy mô lớn nhất từ trước tới nay tại Trung Quốc được phát hiện có dịch tả châu Phi. Theo thống kê của Bộ NN Trung Quốc, tính từ thời điểm dịch bệnh bùng phát đầu tiên hồi tháng 8/2018 cho đến tháng 1/2019, nước này đã tiêu hủy gần 1 triệu con heo. Tuy nhiên, giới thương nhân cho rằng con số tiêu hủy có thể còn lớn hơn nhiều do dịch đã xuất hiện tại 25 tỉnh trên toàn Trung Quốc và trên cả những trang trại có quy mô rất lớn. Ngoài ra, theo đánh giá của Rabobank, dịch tả châu Phi có thể khiến cho đàn heo của Trung Quốc sụt giảm tới 20% do thống kê của Bộ NN không chi tiết về số lượng heo nái, heo thịt hay heo con bị tiêu hủy. Theo một quan chức từ Bộ NN Trung Quốc, tổng đàn nái của Trung Quốc đã giảm khoảng 8% do dịch bệnh và nguồn cung heo sống ra thị trường trong nửa cuối năm 2019 sẽ giảm mạnh. Trong nỗ lực nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, trong thông báo phát đi hôm 4/1, Bộ NN Trung Quốc cho biết sẽ tiến hành điều tra hình sự với những trường hợp không báo cáo dịch, bán heo bị bệnh hoặc đã chết ra thị trường. Đồng thời với những hộ nuôi có báo cáo về dịch bệnh sẽ được bồi thường 1.200 tệ (tương đương 175 USD hay 4 triệu VND) cho mỗi con heo bị tiêu huỷ.

 Theo tin từ Taiwan news cho biết, Cơ quan bảo vệ bờ biển của Đài Loan hôm 4/1 phát hiện thêm 1 con heo bị chết tại bờ biển Kinmen sau khi 1 con heo khác bị chết hồi cuối tháng 12 được xác định dương tính với virus tả châu Phi. Hiện chưa rõ những con heo này thuộc đàn heo của Kinmen hay trôi dạt từ Trung Quốc đến bởi Đài Loan gần với Phúc Kiến – tỉnh vốn đang bị dịch tả châu Phi tại Trung Quốc. Giới chức Đài Loan cho biết sẽ mở rộng xét nghiệm đến tất cả 68 trang trại hiện có tại Kinmen với tổng số khoảng 11.000 con heo. Ngoài ra cơ quan thú y cũng ra lệnh cấm vận chuyển các sản phẩm thịt heo từ Kinmen đến các vùng khác của Đài Loan trong vòng 14 ngày. Thịt lợn vốn là loại thịt được tiêu thụ phổ biến nhất tại Đài Loan và nước này có thể tự sản xuất được hơn 5 triệu con lợn mỗi năm. Trong một động thái mới nhất, Singapore tuyên bố đình chỉ nhập khẩu các sản phẩm thịt heo từ các khu vực của Trung Quốc đã phát hiện có dịch tả châu Phi và chỉ cho phép nhập các sản phẩm thịt heo đã qua xử lý nhiệt triệt để. Tính đến cuối tháng 1, có 17 con lợn chết được tìm thấy trên đường phố và các hòn đảo kể từ giữa tháng 12 khiến Đài Loan cho rằng Trung Quốc không chia sẻ các thông tin chính xác về tình hình dịch bệnh. Trong một diễn biến khác, theo tin từ Nhật Báo Hoa Nam buổi sáng, một con heo chết đã được tìm thấy trên bãi biển Cheung Chau, thuộc Hồng Kong vào hôm 17/1 gây lo ngại về việc xuất hiện dịch tả châu Phi tại Hồng Kong. Mặc dù kết quả xét nghiệm trên thân con heo cho kết quả âm tính với virus tả châu Phi nhưng giới chức Hồng Kong lo ngại những con heo bệnh bị vứt xuống biển có thể trôi dạt vào các hòn đảo của khu vực này.

Trong bối cảnh dịch tả châu Phi diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, trong tuần đầu tháng 1, Malaysia đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu nhập khẩu thịt heo và các sản phẩm của thịt heo từ 6 nước, trong đó có Trung Quốc. Ngoài ra, Malaysia cũng tuyên bố không nhập khẩu các loại bột protein có nguồn gốc từ heo của Trung Quốc sau khi virus tả châu Phi được phát hiện trên một số mẫu bột huyết heo được sản xuất tại tỉnh Thiên Tân. Sau Malaysia, Philippine là quốc gia tiếp theo thuộc châu Á cấm nhập khẩu thịt heo và sản phẩm thịt heo từ 8 nước có dịch tả châu Phi gồm Bỉ, Trung Quốc, Hungary, Latvia, Ba Lan, Romania, Nga và Ucraina. Theo đó, kể từ 31/12, thịt heo và các sản phẩm từ thịt heo đến từ 8 quốc gia này khi nhập vào Philippine sẽ bị cho tiêu huỷ trong vòng 24 giờ. Tại Thái Lan, trong thông báo được phát đi vào hôm 22/1, Bộ NN Thái Lan cho biết, sản phẩm xúc xích được thu giữ từ một du khách Trung Quốc từ sân bay Chengdu Tứ Xuyên tới Phuket Thái Lan vào hôm thứ 4 tuần trước được kết luận có virus tả châu Phi, làm dấy lên những lo ngại về việc lây lan dịch thông qua đường hàng không. Trong bối cảnh giá heo tại Thái Lan đang ở mức khá cao, có lời cho người chăn nuôi thì việc phát hiện có virus tả châu phi trong sản phẩm xúc xích từ khách du lịch Trung Quốc cùng những cảnh báo của Tổ chức thú y thế giới về việc bùng phát dịch tại Trung Quốc và Mông Cổ thì Thái Lan cho biết sẽ xiết chặt hơn các hoạt động kiểm tra đối với các sản phẩm thịt heo được khách du lịch mang theo khi nhập cảnh vào nước này.

Theo số liệu từ hải quan Trung Quốc, nhập khẩu thịt heo của nước này năm 2018 đạt gần 1,2 triệu tấn, giảm nhẹ 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu 6 tháng đầu năm tăng còn 6 tháng cuối năm giảm do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi.

Với diễn biến giao dịch heo hơi tại thị trường Trung Quốc, nhu cầu tiêu thụ yếu cộng với việc nguồn cung hoe ra thị trường tăng mạnh dịp cận Tết nguyên đán do lệnh kiểm soát vận chuyển được nới lỏng kéo giá heo hơi bình quân liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 1 vừa qua. Theo đó, tính đến cuối tháng, giá heo hơi bình quân tại Trung Quốc giảm còn 11.75 tệ/kg, giảm gần 2.4 tệ/kg do với hồi đầu tháng.

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 1 năm 2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện quốc tế

Trong bối cảnh dịch tả châu Phi diễn biến phức tạp tại Trung Quốc, trong tuần đầu tháng 1, Malaysia đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu nhập khẩu thịt heo và các sản phẩm của thịt heo từ 6 nước, trong đó có Trung Quốc. Ngoài ra, Malaysia cũng tuyên bố không nhập khẩu các loại bột protein có nguồn gốc từ heo của Trung Quốc sau khi virus tả châu Phi được phát hiện trên một số mẫu bột huyết heo được sản xuất tại tỉnh Thiên Tân.