Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 01/2017

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường Thịt tháng 01/2017

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 01/2017

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo năm 2016

- USDA dự báo sản lượng thịt heo toàn cầu năm 2017 đạt khoảng 111,0 triệu tấn, đứng đầu là Trung Quốc với 53,75 triệu tấn

- Sản lượng thịt bò/bê sản xuất năm 2017 được dự báo sẽ tăng khoảng 1,37% so với năm 2016, ước đạt 61,3 triệu tấn.

- Sản lượng thịt gà thế giới năm 2017 được dự báo tăng 1% so với năm trước, đạt trên 90,4 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

- Giá heo hơi nội địa xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, khi giá lợn hơi phổ biến chỉ dao động từ 30.000-33.000 đồng/kg, thậm chí có hộ chấp nhận bán dưới mức 30.000 đồng/kg để giải phóng đàn.

- Trong tháng 12 năm 2016, Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá 2,3 triệu USD, tăng 58,6% so với tháng 11 và tăng 53,3% so với cùng kỳ năm 2015.

Thịt bò

- Giá bò tuột về chợ Phạm Văn Hai (Hồ Chí Minh) giảm 5.000 đồng/kg, xuống mức 152.000 đồng/kg.

- Giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2016 là chỉ đạt 15,9 triệu USD, giảm nhẹ 0,2 triệu USD so với tháng trước nhưng lại giảm tới 64,6% so với cùng kỳ năm 2015.

Thịt gà

- Giá gà trắng và gà màu bán ra tại trại đều giảm mạnh trong nửa cuối tháng 1/2017 do nguồn cung ra thị trường tăng mạnh, trong khi đó nhu cầu mua lại tăng khá chậm.

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam trong tháng 12 năm 2016 lên tới 10,9 triệu USD, tăng 28,7% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2015.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá heo hơi tại Trung Quốc tăng mạnh trong 10 ngày đầu tháng 1/2017 do nhu cầu tăng mạnh. Nhưng giá có xu hướng chững lại trong tuần cuối tháng 1 khi mùa sản xuất thịt xông khói tại các tỉnh miền Nam kết thúc, nhu cầu mua ổn định trở lại.

DỰ BÁO CỦA USDA

Thịt heo

Báo cáo tháng 10/2016 của USDA dự báo sản lượng thịt heo toàn cầu năm 2017 đạt khoảng 111,0 triệu tấn. Trung Quốc là nước có sản lượng thịt heo sản xuất ra lớn nhất thế giới năm 2017 với gần 53,8 triệu tấn chiếm 48% tổng sản lượng thịt heo toàn cầu. Tiếp đến là khu vực EU với trên 23,3 triệu tấn và Mỹ sẽ sản xuất khoảng 11,7 triệu tấn, chiếm 10,5% tổng sản lượng. Sản lượng thịt heo của Việt Nam ước tính trong năm 2016 là 2.525 nghìn tấn và dự báo con số này sẽ tăng thêm 50 nghìn tấn trong năm 2017 và đạt mức 2.575 nghìn tấn.

Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2012 - 2017 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2012

106,873

106,390

6,858

7,263

2013

108,828

108,432

6,595

7,008

2014

110,566

109,896

6,333

6,962

2015

110,376

109,905

6,706

7,224

Ước tính 2016

108,201

108,001

8,314

8,538

Dự báo 2017

111,011

110,690

8,307

8,629

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2016-2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Mỹ

2,272

2,356

2,449

EU

2,389

3,300

3,300

Canada

1,239

1,350

1,300

Brazil

627

900

940

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2016-2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Trung Quốc

1029

2,400

2300

Nhật Bản

1,270

1,320

1,320

Mê-xi-cô

981

1,025

1,050

Hàn Quốc

599

610

630

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2016 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2017 sẽ tăng 1,37% so với năm 2016, ước đạt 61,3 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2017 sẽ đạt trên 11,8 triệu tấn, tiếp theo đó là Brazil 9,47 triệu tấn, EU 7,85 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng khoảng 6,95 triệu tấn thịt bò/bê sản xuất ra trong năm 2017.

Trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2017 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1,2 triệu tấn thịt bò/bê nhập khẩu trong năm 2017.

Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2012-2017 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2012

59,713

58,272

6,715

8,131

2013

60,785

59,122

7,448

9,122

2014

61,093

59,024

7,881

9,992

2015

60,022

58,164

7,647

9,537

Ước tính 2016

60,486

58,728

7,666

9,439

Dự báo 2017

61,318

59,401

7,763

9,696

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2016-2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Brazil

1,705

1,850

1,950

Ấn Độ

1,806

1,850

1,925

Úc

1,854

1,385

1,325

Mỹ

1,028

1,120

1,193

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2016-2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Mỹ

1,529

1,370

1,216

Nga

621

585

585

Nhật Bản

707

715

730

Trung Quốc

663

825

950

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2016 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2017 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, đạt trên 90,4 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,7 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, Trung Quốc và EU với sản lượng được dự báo trong năm 2017 lần lượt sẽ là 14,08 triệu tấn, 11,5 triệu tấn và 11,3 triệu tấn.

Nhật Bản là tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2017 với 920 nghìn tấn. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu của năm 2017 lại có sự suy giảm mạnh so với năm 2015  và 2016. Trong đó năm 2015 Nhật Bản đã nhập khẩu thịt gà lên tới 936 nghìn tấn và con số nhập khẩu của năm 2016 là 955 nghìn tấn.

Mặc dù không phải là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng do lượng tiêu thụ nội địa của nước này thấp hơn rất nhiều so với khả năng sản xuất nên Brazil là nước xuất khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2017 với gần 4,4 triệu tấn thịt gà.

Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2012 -2017 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2012

83,267

81,624

8,546

10,088

2013

84,399

82,883

8,692

10,274

2014

86,555

84,945

8,902

10,477

2015

88,694

86,956

8,626

10,254

Ước tính 2016

89,548

87,638

8,906

10,793

Dự báo 2017

90,448

88,410

9,296

11,372

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Brazil

3,841

4,110

4,385

Mỹ

2,867

2,978

3,128

EU

1,177

1,250

1,275

Thái Lan

622

670

710

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2015

Ước tính 2016

Dự báo 2017

Nhật Bản

936

955

920

Ả-Rập-Xê-Út

863

850

840

Mê-xi-cô

790

820

850

EU

728

750

760

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2016

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Trong tháng 1/2017, người chăn nuôi lợn của nước ta rơi vào tình cảnh lao đao khi giá liên tục giảm mạnh và xuống mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Nguyên nhân là do nguồn cung trong nước quá lớn, trong khi đó phía Trung Quốc lại tiến hành kiểm soát rất chặt, bắt giữ và tiêu hủy nhiều xe chở lợn sống từ Việt Nam cố tình đưa qua biên giới nước này. Tình trạng cấm biên đã kéo dài từ cuối tháng 11 khiến cho lượng heo tiêu thụ sang Trung Quốc giảm mạnh. Áp lực nguồn cung ngày càng lớn khi số lượng heo quá lứa tại các trại không ngừng tăng lên. Tính đến thời điểm cuối tháng 1 (cận Tết nguyên đán) các trại đành phải chấp nhận bán ra với giá rất thấp nhằm giải phóng đàn và cắt lỗ vì không thể chờ thêm được nữa.

Tại Thái Bình, giá heo hơi bán ra dao động ở mức 29.000-33.000 đồng/kg. Trong đó, heo to xuất đi Trung Quốc được mua với giá 32.000-33.000 đồng/kg,còn hàng heo nhỏ/heo mỡ bán nội địa giá chỉ từ 29.000-31.000 đồng/kg. Tại Bắc Giang giá bán cao hơn 1 chút, dao động từ 32.000-35.000 đồng/kg. Trong đó với hàng heo to trên 120 kg/con xuất đi Trung Quốc bán ra với giá cao nhất là 35.000 đồng/kg còn lại phổ biến bán ở mức 32.000-33.000 đồng/kg. Do tâm lý các trại đều muốn bán ra trước tết để giải phóng trại và thu hồi vốn nên lượng heo xuất bán trong tuần cuối của tháng 1 là rất lớn, phần nào làm giảm ấp lực nguồn cung cho khu vực này. Hy vọng sau tết giá sẽ tăng trở lại.

Tương tự tại khu vực miền Nam, cụ thể là vùng chăn nuôi lợn lớn nhất nước ta-tỉnh Đồng Nai. Theo ước tính, đàn heo tại khu vực này năm nay tăng mạnh, cao hơn nửa triệu con so với cùng kỳ năm ngoái khiến áp lực về đầu ra tại đây là rất lớn. Trong suốt tháng 1/2017, giá heo hơi bán ra tại các trại ở Đồng Nai chỉ dao động từ 30.000-33.000 đồng/kg. Với heo quá lứa trên 120 kg/con, tỷ lệ thịt mỡ cao chuyên để xuất đi Trung Quốc và rất khó tiêu thụ tại thị trường nội địa, giá có thời điểm bị ép xuống chỉ còn 26.000-27.000 đồng/kg, thậm chí có trại chấp nhận bán với giá thấp hơn: 23.000 đồng/kg do càng nuôi càng thì càng nỗ nặng.

Mặc dù chủ động hơn về TACN và công nghệ nhưng các công ty đầu tư chăn nuôi heo quy mô lớn của nước ta cũng rơi vào tình cảnh khó khăn do không có đầu ra. Giá bán ra của các công ty với hàng heo đực và heo 3 máu cũng liên tục giảm từ 2.000-4.000 đồng/kg trong tháng 1, xuống mức 31.500-33.500 đồng/kg (tại kho Đồng Nai) và dao động từ 33.500-36.000 đồng/kg (tại kho Hòa Bình). Thậm chí, để kích thích nhu cầu mua dịp cuối năm trong bối cảnh nhu cầu lấy heo đi biên rất chậm, các công ty còn có những chính sách khuyến mại ở cả kho miền Nam và miền Bắc. Trong đó, tại kho Đồng Nai, giá heo đực và heo 3 máu khuyến mại chỉ còn 27.000-30.500 đồng/kg và 30.000-34.500 đồng/kg tại kho Hòa Bình.

Hình 1: Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, trong tháng 12/2016 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá trên 2,3 triệu USD, tăng 58,6% so với tháng 11 và tăng 53,3% so với cùng kỳ năm 2015. Tính chung 12 tháng năm 2016, tổng giá trị nhập khẩu thịt heo qua giết mổ của nước ta đạt 18,8 triệu USD, tăng 1,6 triệu USD so với kim ngạch nhập khẩu của năm 2015, tương đương 9,1%. Có xu hướng trái ngược, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam trong tháng 12/2016 chỉ đạt 9,0 triệu USD, giảm 0,6 triệu USD so với tháng trước và giảm tới 10,9% so với cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, tính chung 12 tháng năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu thịt lợn qua giết mổ của nước ta đạt tới con số 91,3 triệu USD, tăng 41,7% so với năm 2015, tương đương tăng 26,9 triệu USD.

Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2015 - 2016 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2015

1

1.2

5.9

2

0.3

3.1

3

0.6

3.8

4

0.9

4.6

5

1.3

4.6

6

1.2

4.4

7

1.2

5.2

8

1.4

5.7

9

2.7

6.2

10

2.9

5.7

11

2.0

5.1

12

1.5

10.1

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

Hình 2: Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2015 - 2016 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

2. THỊT BÒ

-Do ảnh hưởng của giá thịt lợn giảm sau khiến giá thịt bò cũng có xu hướng giảm. Gía bò tuột về chợ Phạm Văn Hai (TP Hồ Chí Minh) trong tháng 1/2017 giảm 5.000 đồng/kg so với tháng trước, xuống mức 152.000 đồng/kg.

-Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2016 chỉ đạt 15,9 triệu USD, giảm nhẹ 0,2 triệu USD so với tháng trước nhưng lại giảm tới 64,6% so với cùng kỳ năm 2015. Tính chung cả năm 2016, tổng giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của nước ta chỉ đạt 350,1 triệu USD, thấp hơn rất nhiều con số 438,5 triệu USD của năm 2015.

Tháng

2015 triệu USD

2016 triệu USD

TT %

1

48.8

53.9

10.4

2

27.4

31.7

15.8

3

49.4

25.1

-49.2

4

19.3

42.0

118.0

5

44.8

37.6

-10.5 

6

50.8

16.3

-68.0

7

34.8

26.8

-23.0

8

42.9

22.9

-46.6

9

35.1

29.9

-14.9

10

25.2

31.9

26.6

11

15.1

16.1

6.6

12

44.9

15.9

-64.6

Tổng

438.5

350.1

 

Hình 3: Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2015 – 2016 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

3. THỊT GÀ

3.1.Gà trắng

Tại miền Bắc, trong tháng 1, giá gà trắng liên tục được điều chỉnh và có thời điểm giá bán ra tại trại giảm còn 19.000 đồng/kg do nguồn cung ra thị trường tăng mạnh nhưng nhu cầu không tăng tương ứng. Tuy nhiên đến tuần cuối tháng 1, khi nhu cầu tiêu thụ thịt gà cho dịp Tết ông Công ông Táo và Tết âm lịch tăng thì giá cũng tăng trở lại. Tính chung cả tháng 1/2017, giá gà trắng phổ biến dao động trong khoảng 20.000-22.000 đồng/kg, giảm nhẹ 1.000 đồng/kg so với tháng trước.

Tại khu vực miền Nam, do nguồn cung tương đối ổn định nên giá bán ra tại trại cũng ít biến động hơn. Giá bán luôn duy trì ở mức khá cao 25.000 đồng/kg trong tháng 1, tăng 1.000 đồng/kg so với tuần cuối của tháng 12/2016.

3.2 Gà tam hoàng

Do nguồn cung tăng mạnh khiến giá gà tam hoàng có xu hướng điều chỉnh giảm mạnh ở cả miền Nam và miền Bắc.

Trong nửa đầu tháng 1, giá gà bán ra tại trại khu vực Bắc Ninh, Vĩnh Phúc được duy trì ở mức khá ổn định với 36.000/kg. Tuy nhiên, sang nửa cuối tháng 1 (cận Tết nguyên đán) giá gà tam hoàng hơi bán ra tị trại giảm mạnh còn phổ biến 32.000-33.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm xuống 30.000-32.000 đồng/kg. Nguyên nhân là do nguồn cung gà loại này ra thị trường tăng mạnh vào dịp cuối năm nhưng nhu cầu tiêu thụ không tăng tương ứng.

Còn tại miền Nam, giá gà tam hoàng hơi được bán ra với mức khá cao, 46.000 đồng/kg trong 2 tuần đầu tháng 1/2017 và đạt mức cao nhất kể từ tháng 6/2015 trở lại đây. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng 1, giá bán lại có sự điều chỉnh giảm nhẹ 1.000-2.000 đồng/kg do nguồn cung ra thị trường tăng mạnh, giá giảm còn 44.000-45.000 đồng/kg. Tính bình quân, giá gà tam hoàng bán ra tại trại khoảng 45.000 đồng/kg, cao hơn 5.000 đồng/kg so với bình quân tháng trước đó.

Hình 4: Diễn biến giá gà tam hoàng tại Đồng Nai, năm 2015 – 2016 (VND/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Hình 5: Diễn biến giá gà trắng tại Đông Nam Bộ năm 2015-2016 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê Hải quan cho thấy, trong tháng 12/2016 giá trị nhập khẩu thịt gia cầm qua giết mổ của Việt Nam lên tới 10,9 triệu USD, tăng 28,7% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2015. Tính chung cả năm 2016, tổng giá trị xuất khẩu gia cầm qua giết mổ của Việt Nam dừng lại ở con số 99,4 triệu USD, giảm mạnh tới 13,3 triệu USD so với năm 2015, tương đương giảm 11,8%.

Tháng

2015 triệu USD

2016 triệu USD

TT %

1

10.7

7.6

-29.2

2

4.8

5.3

10.4

3

18.1

10.0

-44.8

4

10.1

9.0

- 11.5

5

11.1

10.7

-3.6 

6

9.8

10.1 

2.2 

7

9.2

13.2

43.2 

8

8.2

10.7

30.5

9

6.8

6.8

-0.3

10

7.2

6.7

-6.9

11

6.5

8.5

30.3

12

10.1

10.9

7.9

Tổng

112.6

99.4

 

Hình 6: Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2015 – 2016 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá heo hơi tại Trung Quốc liên tục tăng mạnh trong 10 ngày đầu tháng 1, đặc biệt là tại các tỉnh miền Bắc. Nguyên nhân là do: i) Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn tăng mạnh trong kỳ nghỉ tết dương lịch; ii) Thời tiết khắc nghiệt và khói bụi dày đặc tại khu vực Bắc Kinh, Hà Bắc và các tỉnh lân cận đã khiến cho việc vận chuyển thịt lợn giữa các vùng trở nên khó khăn hơn; iii) Nguồn cung bị thắt chặt do nhiều hộ chăn nuôi không muốn bán ra trong thời điểm này chờ giá tăng thêm. So với tuần cuối tháng 12/2016,giá heo hơi tại nước này tăng trung bình gần 0,5 tệ/kg. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng 1, giá có xu hướng chững lại. Đặc biệt, tại các tỉnh miền Nam, do mùa sản xuất thịt xông khói đã kết thúc, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn giảm mạnh khiến giá liên tục đi xuống nhưng vẫn ở mức khá cao so với bình quân tháng 12. Tại 2 tỉnh miền Nam giáp với Việt Nam là Quảng Đông và Quảng Tây, giá giảm khoảng 0,3 tệ so với tuần đầu tháng 1, giá quy đổi tương đương 58.200 và 57.800 đồng/kg.

Hình 7: Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây năm 2015-2016 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện trong nước

- Thông tin về tình hình dịch bệnh

Theo tin từ Cục Thú y, tính đến ngày 25/01/2017 cả nước không có dịch Lở mồm long móng xảy ra trên đàn gia súc, không phát sinh thêm ổ dịch Cúm gia cầm nào và cũng không có dịch Tai xanh xảy ra trên đàn lợn.