Sắn 5/2018 - Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 5/2018 chỉ đạt trên 47 nghìn tấn, thấp nhất trong 15 tháng qua

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Sắn 5/2018 - Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 5/2018 chỉ đạt trên 47 nghìn tấn, thấp nhất trong 15 tháng qua

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 05/2018

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/5/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 227,2 nghìn ha, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 05/2018 tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt trên 4 nghìn tấn, giảm 66,5% so với tháng 4 và thấp hơn rất nhiều so với con số 68.000 tấn của cùng kỳ năm 2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 05/2018 tăng trở lại, đạt trên 21.000 tấn, tăng 51,8% so với tháng trước nhưng giảm tới 81,7% so với cùng kỳ năm 2017.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 05/2018, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 223,5 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 100 triệu USD, tăng 12,9% về lượng và tăng 20,8% về giá trị so với tháng trước.

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 5/2018 đạt trên 47 nghìn tấn, giảm hơn 4.000 tấn so với tháng 4 và giảm tới 56,6% so với tháng 5/2017.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 05/2018 tương đối khả quan với sản lượng xuất khẩu đạt trên 171 nghìn tấn, tăng 18,2% so với tháng trước và cao hơn khoảng 20,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cả

1. Sắn lát

Giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ yếu khiến giá sắn lát giao dịch nội địa cũng tiếp tục giảm mạnh trong tháng 5/2018.

- Tại Sơn La, hàng mì xô cồn (độ ẩm trên 17%, xuất đi Trung Quốc) gần như không có giao dịch do hết hàng. Riêng hàng mì đủ điều kiện đi các nhà cám nội địa, giá các kho bán ra vẫn dao động quanh mức 4.800-4.900 đồng/kg.

- Tại Tây Ninh, giá mì lát giao dịch tại cửa khẩu tiếp tục được điều chỉnh giảm, còn 700 Riel/kg, tương đương với giá quy đổi sang VND chỉ 4.000 đồng/kg, giảm từ 300-600 đồng/kg so với tháng trước.

- Tại Hoa Lư (Bình Phước), các kho đã ngừng mua hàng nên mì lát từ Cam không còn được đưa về.

- Tại Quy Nhơn, giá mua vào của các kho giảm còn 4.700-4.800 đồng/kg (hàng xô thường).

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, giá mì củ đưa về nhà máy biến động lên/xuống liên tục theo sự tăng/giảm thất thường của nguồn cung mì đưa về nhà máy. Giá mua dao động từ 3.100-3.700 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg so với tháng trước.

- Tại khu vực Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu đưa về nhà máy cũng điều chỉnh giảm khá mạnh do đầu ra xuất khẩu chậm, còn phổ biến quanh mức 2.600-2.700 đồng/kg.

- Tại khu vực miền Bắc, các nhà máy tinh bột sắn tại Lào Cai, Sơn La và Yên Bái đều đã nghỉ chạy do hết vụ.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 05/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước;

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018;

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 5/2018 giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc suy yếu.

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Diện tích sắn cả nước theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT tính đến ngày 15/5/2018 đạt trên 227,2 nghìn ha, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Qua số liệu thống kê cho thấy, hầu hết các vùng đều có sự suy giảm khá mạnh về diện tích trồng mới so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là 2 vùng có sự suy giảm mạnh nhất với mức giảm lần lượt là 29,6% và 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Riêng khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích trồng mới được thống kê tăng khá mạnh với gần 50.000 ha, tăng gấp 2 lần so với tháng trước và cao hơn 24,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Tây Ninh vẫn là địa phương có diện tích gieo trồng sắn lớn nhất cả nước tính đến ngày 15/05/2018 với trên 25,4 nghìn ha, tuy nhiên so với cùng kỳ tháng 5 năm 2017 thì mức suy giảm lên tới 25,9%. Nguyên nhân là do năm nay rất nhiều diện tích mì trồng mới bị nhiễm virut khảm lá ngay từ khi mới ra chồi hoặc đang trong giai đoạn sinh trưởng, người dân phải nhổ bỏ và trồng lại khá nhiều làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến tiến độ mùa vụ. Bệnh khảm lá trên cây mì năm nay có diễn biến phức tạp và mức độ lây lan cũng nghiêm trọng hơn so với năm ngoái khi hầu hết các vùng trồng sắn của Tây Ninh đều thấy xuất hiện vi rút này, thậm chí trên cả những giống sắn mới được cho là có khả năng kháng bệnh khảm lá.  Ngoài ra, mùa mưa tại Tây Ninh năm nay cũng đến sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, mưa lớn diễn ra liên tiếp trong nhiều ngày gây ảnh hưởng rất lớn đến những diện tích mì trồng đất thấp, đe dọa đến năng suất cũng như sản lượng mì vụ mới của Tây Ninh trong vụ sắn 2018/2019. Sang tháng 6, ước tính có đến 80% diện tích mì trồng đất thấp buộc phải thu hoạch sớm do ngập úng, mặc dù mới trong giai đoạn xuống củ và tạo bột nên sản lượng giảm tới 40-50%. Theo đó, sản lượng mì vụ mới của Tây Ninh năm nay có thể sẽ giảm rất mạnh, đặc biệt trong giai đoạn từ nay đến tháng 10 và tháng 11 dương lịch.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/05/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/05/2018

105.3

121.9

227.2

15/05/2017

96.27

134.73

231.0

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

9.3

-9.5

-1.6

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/05/2018 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 05/2018 do nguồn cung mì bên Cam sắp cạn

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt trên 4.300 tấn, giảm tới 66,5% so với tháng trước và thấp hơn rất nhiều so với con số 68.000 tấn của cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt 433,6 nghìn tấn, thấp hơn 645 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước.

Có xu hướng trái ngược, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tăng trở lại khi đạt trên 21.000 tấn, tăng 51,8% (tương đương khoảng 7.200 tấn) so với tháng 4 nhưng lại giảm tới 81,7% so với cùng kỳ tháng 5 năm 2017. Tính từ 01/01-30/05/2018, sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam mới đạt trên 435 nghìn tấn, giảm 50% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 05/2018 đạt mức thấp nhất trong 15 tháng trở lại đây

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 5/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm khi chỉ đạt con số trên 47 nghìn tấn, giảm hơn 4.000 tấn so với tháng 4 và giảm tới 56,6% so với tháng 5/2017 và đây là mức xuất khẩu sắn lát thấp nhất của Việt Nam trong vòng 15 tháng qua. Tính chung trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam mới đạt trên 500 nghìn tấn, giảm 22% (tương đương giảm khoảng 142 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

51,424

-38.8

5

108,714

47,196

-56.6

6

114,141

   

7

133,659

   

8

133,917

   

9

109,356

   

10

108,800

   

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

503,771

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Trong tổng số 47.000 tấn sắn lát xuất khẩu trong tháng 5 thì có tới trên 20.000 tấn xuất đi thị trường Hàn Quốc, đưa tổng khối lượng sắn lát xuất sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt gần 36.000 tấn, tăng 35,1% (tức khoảng 9.200 tấn) so với cùng kỳ năm trước). Trong khi đó, lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam trong tháng 5 tiếp tục suy giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước với mức giảm lần lượt là 47,4% và 74,6% với con số 27.000 tấn, thấp nhất kể từ tháng 10/2016 trở lại đây.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước  nhập

1

2

3

4

5

Tổng

China

154,538

89,646

145,315

51,424

27,038

467,960

Korea (Republic)

1,626

808

13,000

 

20,158

35,592

Malaysia

   

220

   

220

Tổng

156,163

90,454

158,534

51,424

47,196

503,771

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 05/2018 tăng mạnh trở lại so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Có xu hướng trái ngược, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 05/2018 tương đối khả quan với sản lượng xuất khẩu đạt trên 171 nghìn tấn, tăng 18,2% so với tháng trước và cao hơn khoảng 20,8% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 795 nghìn tấn, giảm 18,5% (tương đương tầm 180.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

145,493

-18.1

5

142,321

171,916

20.8

6

174,329

   

7

145,658

   

8

150,812

   

9

200,310

   

10

182,561

   

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

794,638

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Trong Top 5 thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam, hầu hết đầu cho thấy nhu cầu tiêu thụ có xu hướng tăng trở lại. Riêng thị trường Indonesia lại sụt giảm khá nghiêm trọng khi chỉ đạt con số chưa tới 230 tấn, trong khi đó lượng nhập khẩu từ thị trường này trong 4 tháng đầu năm luôn duy trì ở vị trí số 2, chỉ sau thị trường Trung Quốc.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

1

2

3

4

5

Tổng

China

198,318

68,803

150,349

131,131

152,043

700,644

Malaysia

3,413

1,540

2,570

5,449

5,962

18,934

Philippines

5,554

1,292

5,810

1,777

4,137

18,570

Indonesia

4,883

4,503

7,000

2,204

228

18,818

Taiwan

3,264

2,105

4,168

2,424

5,431

17,391

Pakistan

1,680

625

1,475

1,042

494

5,316

USA

341

125

463

328

273

1,530

HongKong

     

12

390

402

Chile

609

799

 

576

 

1,984

Singapore

1,261

341

198

39

89

1,928

Korea (Republic)

   

307

255

463

1,025

India

1,216

       

1,216

South Africa

294

437

247

 

152

1,130

Papua New Guinea

1,000

   

15

95

1,110

Khác

1,050

740

449

542

2,159

4,940

Tổng

222,883

81,310

173,036

145,793

171,916

794,937

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Giá mì lát giao dịch nội địa tiếp tục giảm mạnh theo đà giảm của giá xuất khẩu

Sang tháng 5, nguồn cung mì lát đưa về các kho tại khu vực Quy Nhơn và một số cửa khẩu khu vực Đông Nam Bộ giảm rất mạnh do đã vào cuối vụ. Theo đánh giá của thương nhân, lượng mì lát tồn kho tại Campuchia hiện còn rất ít do thời tiết tại Campuchia chuẩn bị bước vào mùa mưa, không thuận lợi cho việc phơi mì.

Tại cửa khẩu Xa Mát, Chàng Riệc tỉnh Tây Ninh, mì lát từ Campuchia chỉ còn được đưa về trong nửa đầu tháng 5 với lượng chỉ đạt từ 2-3 xe/kho/ngày. Đầu ra khó khăn, giá xuất khẩu quay đầu giảm nên các kho cũng hạn chế mua vào. Theo đó, giá mì lát giao dịch tại cửa khẩu tiếp tục được điều chỉnh giảm, còn 700 Riel/kg, tương đương với giá quy đổi sang VND chỉ 4.000 đồng/kg, giảm từ 300-600 đồng/kg so với tháng trước.

Tại Hoa Lư (Bình Phước), các kho đã ngừng mua vào nên mì lát từ Cam không còn được đưa về. Giá mì bán về các nhà máy thức ăn chăn nuôi dao động từ 5.700-5.800 đồng/kg (bán ra tại kho), tuy nhiên nhu cầu mua vẫn rất yếu do hầu hết các nhà máy cám đang phải giảm mạnh sản lượng.

Tại Quy Nhơn, do nguồn cung từ khu vực Gia Lai sắp cạn nên lượng mì đưa về các kho trong tháng 5/2018 chỉ đạt bình quân khoảng 200 tấn/ngày. Thời tiết tại Gia Lai khá âm u và có mưa rải rác nên mì đưa về có chất lượng kém hơn, chủ yếu là hàng xô thường, hàng khô đủ điều kiện xuất đi Hàn Quốc gần như không còn được đưa về. Tính đến nửa cuối tháng 5 đầu tháng 6, chào giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang Trung Quốc giảm mạnh khiến giá mua vào của các kho giảm còn 4.700-4.800 đồng/kg (hàng xô thường), thấp hơn từ 200-250 đồng/kg so với tháng trước.

Tại Sơn La, hàng mì xô cồn (độ ẩm trên 17%, xuất đi Trung Quốc) gần như không có giao dịch do hết hàng. Riêng hàng mì đủ điều kiện đi các nhà cám nội địa, giá các kho bán ra vẫn dao động quanh mức 4.800-4.900 đồng/kg.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016-2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Sang tháng 5, tại Tây Ninh nguồn cung mì củ nhập khẩu lẫn nội địa có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước nên một số nhà máy tinh bột cũng rục rịch chạy lại sau một thời gian nghỉ bảo dưỡng. Đối với mì Cam, lượng đưa về cửa khẩu Chàng Riệc đạt bình quân khoảng 1.000 tấn/ngày với giá giao dịch tại cửa khẩu phổ biến từ 400-470 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sang VND khoảng 2.240-2.630 đồng/kg. Mì củ từ Cam đưa về hiện nay có trữ độ bột rất thấp, cao nhất chỉ đạt 25%, thậm chí có xe chỉ đạt 18-20% do mì bị ngập nước nên giá quy đổi sang mì 30% có thể lên tới 3.200-3.350 đồng/kg. Do nguồn cung đưa về nhà máy không ổn định nên giá mua vào của các nhà máy cũng liên tục được điều chỉnh lên xuống. Mức giá cao nhất được thiết lập lên tới 3.700 đồng/kg và giá thấp nhất là 3.100 đồng/kg, tức biên độ dao động lên tới 600 đồng/kg trong vòng 1 tháng qua.

Tại khu vực Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu đưa về nhà máy cũng điều chỉnh giảm khá mạnh do đầu ra xuất khẩu chậm, còn phổ biến quanh mức 2.600-2.700 đồng/kg. Hầu hết các nhà máy khu vực Đắc Lắc đã nghỉ do hết vụ. Duy có khu vực Phú Yên và Gia Lai, một số vùng trồng muộn vẫn có mì lai rai đưa về nhà máy.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 05/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 5/2018, nhập khẩu sắn lát của nước này giảm rất mạnh khi chỉ đạt con số 320 nghìn tấn với giá trị khoảng 83,1 triệu USD, giảm 49,2% so với tháng 4 và so với tháng 5/2017 mức giảm là 46,2%, xấp xỉ 275 nghìn tấn. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc mới đạt 3,05 triệu tấn, giảm tới 530.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017. Giá cồn tại Trung Quốc chưa có dầu hiệu phục hồi trong tháng 5, nhiều nhà máy cồn và hóa chất vẫn đang tạm ngưng sản xuất do nhu cầu tiêu thụ trong mùa nắng nóng rất yếu và các hoạt động thanh tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục bán ngô từ kho dự trữ khiến nhu cầu nhập khẩu sắn lát được nhận định sẽ duy trì trạng thái ảm đạm trong tháng 6 và nửa đầu tháng 7. Sang đến nửa cuối tháng 7, thị trường cồn tại Trung Quốc được nhận định sẽ khởi sắc hơn khi mức thuế áp dụng đối với cồn biến tính nhập khẩu từ Mỹ tăng thêm 25% chính thức có hiệu lực kể từ ngày 06/07/2018, khi đó nhu cầu đối với cồn nội địa sẽ tăng mạnh, hỗ trợ đẩy giá cồn tại thị trường Trung Quốc tăng mạnh trở lại sau nhiều tháng lao dốc.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, lượng cồn nhập khẩu của nước này tiếp tục tăng mạnh trong tháng 2 và tháng 3, đưa tổng khối lượng cồn nhập về Trung Quốc trong quý I năm 2018 đạt con số cao kỷ lục, gần 495 triệu lít, gấp 20 lần so với lượng nhập khẩu của cả năm 2017. Trong đó, lượng cồn biến tính chiếm tới 424,4 triệu lít (gần như 100% được nhập từ Hoa Kỳ) và tổng lượng cồn 80% trở lên nhập khẩu trong quý I/2018 đạt trên 70,3 triệu lít (có tới 99,9% lượng cồn được nhập từ Pakistan). 5 trong số 7 tỉnh có lượng nhập khẩu lớn nhất đều thuộc khu vực Đông Bắc Trung Quốc, trong đó tỉnh Giang Tô nhập khẩu nhiều nhất với hơn 264,9 triệu lít, tiếp đến là tỉnh Quảng Đông (98,6 triệu lít), Sơn Đông (46,3 triệu lít), Bắc Kinh (43,8 triệu lít), Vân Nam (38,4 triệu lít), An Huy (37,3 triệu lít) và Thượng Hải là 12,5 triệu lít.

Bảng 7: Lượng cồn nhập khẩu của Trung Quốc theo tháng năm 2015-2018 (lít)

Năm

Tháng

Ethanol biến tính

Ethanol 80% trở lên

2015

1

22,178

62,287

2

4,280

3,772,961

3

20,231

3,739,660

4

7,128

7,434,330

5

11,266

21,148,260

6

519,281

15,513,947

7

20,325,762

48,751,228

8

12,471,049

41,058,859

9

98,350,878

23,273,830

10

30,971,172

37,990,163

11

13,143,977

4,427,230

2016

1

46,978,869

14,089

2

44,740,682

7,587

3

99,645,100

15,892

4

49,361,191

3,780,354

5

259,736,222

3,651,639

6

104,536,085

7,115,133

7

21,054,908

3,583,610

8

38,468,782

3,514

9

10,096,973

24,239

10

1,187,523

3,914

11

71,207,152

103,392

12

124,816,169

7,133

2017

1

3,765

2,411,207

2

5,096

4,210

3

16,079

16,957

4

4,030

19,056

5

3,738

5,507

6

2,436

12,333

7

5,035

282,714

8

3,767,797

328,270

9

4,681

411,038

10

4,868,181

6,292,080

11

9,858

6,456,437

12

7,123

25,916

2018

1

91,287,203

29,415,154

2

189,038,154

8,613,733

3

144,122,319

32,345,961

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ hải quan Trung Quốc

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 5/2018 giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu mới công bố của hải quan Thái Lan, trong tháng 5/2018 xuất khẩu sắn của nước này giảm khá mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua từ Trung Quốc rất yếu.

Trong đó, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 5 chỉ đạt 281,3 nghìn tấn, giảm tới 42,6% so với tháng trước và giảm 38,4% so với cùng kỳ tháng 5 năm 2017. Đây cũng được ghi nhận là con số xuất khẩu thấp nhất kể từ tháng 9/2015 trở lại đây. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2018, tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan chỉ đạt trên 2,44 triệu tấn, thấp hơn khoảng 422 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước.

Tương tự, trong tháng 5/2018 xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan cũng tiếp tục xu hướng giảm khi chỉ đạt trên 164,2 nghìn tấn, giảm 1,6% so với tháng 4 và giảm tới 39,3% (tương đương tầm 106 nghìn tấn) so với tháng 5/2017. Tính từ ngày 01/01-30/5/2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan mới chỉ đạt 1,15 triệu tấn, giảm gần 100.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan tương đối ổn định trong tháng 5 sau hơn 1 tháng liên tục lao dốc, ổn định ở mức giá 243 USD/tấn FOB. Tuy nhiên, giá cồn tại Trung Quốc chưa có dấu hiệu phục hồi do nhu cầu tiêu thụ nội địa thấp bởi nhiều nhà máy hóa chất lớn tại nước này đã nhập khẩu một khối lượng cồn khổng lồ từ Mỹ trong 3 tháng đầu năm 2018. Nhu cầu hỏi mua sắn lát từ Trung Quốc thấp khiến chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan tiếp tục suy giảm trong tuần đầu tháng 6, còn dao động từ 238-240 USD/tấn FOB, giảm 3 USD/tấn so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn tới 85 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù trước đó, căn cứ vào lượng tồn kho và giá sắn nội địa, Ủy ban Điều phối giá xuất khẩu sắn Thái Lan đã đưa ra khuyến cáo với các nhà xuất khẩu không nên bán dưới mức giá sàn (252 USD/tấn) để đảm bảo lợi ích cho ngành công nghiệp sắn trong nước. Tuy nhiên, giá xuất khẩu thực tế đang thấp hơn 20 USD/tấn so với giá sàn.

Trong khi đó, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan vẫn duy trì xu hướng tăng nhẹ trong tháng 5, lên mức cao nhất 555 USD/tấn FOB, tức tăng khoảng 5 USD/tấn so với tháng trước do giá tinh bột nội địa tăng. Tuy nhiên, sang đến tháng 6, giá xuất khẩu có xu hướng quay đầu giảm khi nhu cầu từ thị trường Trung Quốc suy yếu và nhiều doanh nghiệp bắt đầu có động thái đẩy hàng ra bán để giải phóng tồn kho, chuẩn bị cho vụ sắn mới.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đà giảm của giá sắn lát xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn duy trì trong tháng 6 do nhu cầu mua từ thị trường này chưa phục hồi trở lại do nhiều nhà máy cồn và hóa chất tại khu vực miền Bắc vẫn đang tạm ngưng sản xuất do thời tiết nắng nóng và việc kiểm soát ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, theo nhận định của AgroMonitor, sang tháng 7 thị trường sắn lát sẽ sôi động trở lại khi các nhà máy cồn, hóa chất và thực phẩm của Trung Quốc đều tăng công suất chạy phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ dịp cuối năm.

Theo ước tính, tồng lượng tồn kho của Thái Lan tính đến đầu tháng 6/2018 chỉ đạt khoảng trên 2 triệu tấn, đưa tổng khối lượng sắn lát tồn kho của cả Việt Nam và Thái Lan đạt con số trên 2,3 triệu tấn, chỉ đáp ứng khoảng 50% so với nhu cầu tiêu thụ dự kiến của Trung Quốc từ nay đến hết năm 2018. Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, lương sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc năm 2016 và 2017 lần lượt là 7,4 triệu tấn và 7,8 triệu tấn, trong khi tổng lượng sắn lát nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2018 của Trung Quốc mới chỉ đạt gần 3 triệu tấn.

Đối với tinh bột sắn, thị trường vẫn thiếu những trợ lực về mặt nhu cầu để có thể hồi phục mạnh mẽ trong tháng 6 và nửa đầu tháng 7, mặc dù nguồn cung trong nước được nhận định đang ở mức rất thấp. Nguyên nhân là do nhu cầu từ Trung Quốc lẫn các thị trường ngoài Trung Quốc đang khá chậm do chưa phải mùa sản xuất và tiêu thụ cao điểm. Theo đó, giá xuất khẩu tinh bột sắn vẫn chưa thể tăng mạnh ở cả kênh xuất khẩu đường biển lẫn biên mậu như kỳ vọng của các thương nhân.

 

Tin tham khảo