Toàn cảnh thị trường sắn tháng 4/2019
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 4/2019

Giá sắn nguyên liệu tại các vùng khó giảm, bất chấp đầu ra xuất khẩu gặp khó khăn do nguồn cung khan hiếm

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 04/2019

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Số liệu thống kê về diện tích sắn gieo trồng mới tháng 4/2019 chưa được Bộ NN và PTNT cập nhật. Theo đó, AgroMonitor sẽ bổ sung trong báo cáo tháng tiếp theo.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 03/2019 đạt trên 53.800 tấn, giảm 57.000 tấn so với tháng trước nhưng tăng nhẹ so với tháng 3/2018. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia đạt trên 325 nghìn tấn, giảm 21,8% (tương đương mức giảm khoảng 91.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 03/2019 cũng giảm rất mạnh khi chỉ đạt trên 86.000 tấn, giảm 48.000 tấn so với tháng 02 và giảm nhẹ khoảng 3.000 tấn so với tháng 03/2018. Tính chung trong quý I/2019, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt 433.000 tấn, tăng 33.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018, trong đó lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Campuchia có xu hướng giảm nhẹ, trong khi lượng sắn nhập khẩu từ Lào lên tới 50.300 tấn, cao gấp 5 lần so với con số của cùng kỳ năm 2018.

2. Xuất khẩu

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 04/2019 đạt 240,1 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt 96 triệu USD, giảm 11,3% về lượng và giảm 9,1% về giá trị so với tháng trước nhưng vẫn tăng tới 21,3% về lượng so với cùng kỳ tháng 04/2018. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt 921,9 nghìn tấn, thu về lượng kim ngạch đạt trên 353,1 triệu USD, giảm 15,5% về sản lượng và giảm 4,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:

- Tổng sản lượng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 4 đạt khoảng 44.000 tấn, giảm 10.000 tấn so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt trên 160.000 tấn, giảm 64,2% (tương đương mức giảm trên 2900.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng sắn lát xuất khẩu đi thị trường Hàn Quốc đạt gần 40.000 tấn, tăng mạnh so với con số 15.000 tấn của cùng kỳ năm trước.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 04/2019 chỉ đạt trên 158.000 tấn, giảm 52.000 tấn so với tháng trước nhưng cao hơn 12.000 tấn so với tháng 4/2018. Tính chung từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 685.000 tấn, tăng 10% (tương đương tầm 62.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tại khu vực miền Bắc, các đơn vị còn hàng chủ yếu bán đi Trung Quốc với giá bán tại biên giới từ 5.000-5.200 đồng/kg tùy phẩm cấp.

- Tại Quy Nhơn, sang tháng 4, hàng đưa về chủ yếu là mì xô thường với giá mua từ 4.600-4.650 đồng/kg. Mì cám không còn được đưa về do giá mua tại Quy Nhơn chỉ 4.800-4.850 đồng/kg.

- Tại cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh), giá mua dao động từ 4.500-4.600 đồng/kg với hàng mì cồn; giá từ 4.700-4.870 đồng/kg với hàng mì vỏ. Đối với hàng mì cục, giá mua cao nhất được mức 5.250 đồng/kg. Tại cửa khẩu Chàng Riệc, các kho đã ngừng mua mì lát để trữ điều nên không có xe nào đưa về.

- Tại Hoa Lư, giá mua tăng 50 đồng/kg, lên mức 4.900-4.950 đồng/kg cho mì xô thường.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, trong tháng 4 giá sắn củ tươi duy trì quanh mức 2.650-2.800 đồng/kg, áp dụng chung cho cả mì Cam lẫn mì nội vùng.

- Tại khu vực Tây Nguyên, giá mì xô về nhà máy dao động từ 2.180-2.230 đồng/kg tuỳ nhà máy và khoảng cách xa gần, tương đương giá quy đổi với mì 30 trữ độ bột khoảng 2.500 đồng/kg.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 03/2019 tăng nhẹ trở lại so với tháng trước nhưng giảm tới 57,3% so với cùng kỳ năm 2018;

2. Xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 03/2019 quay đầu giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng hơn 42.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Số liệu thống kê về diện tích sắn gieo trồng mới tháng 4/2019 chưa được Bộ NN và PTNT cập nhật. Theo đó, AgroMonitor sẽ bổ sung trong báo cáo tháng tiếp theo.

Tuy nhiên, theo thông tin AgroMonitor tham vấn từ thương nhân và nông dân trồng sắn tại khu vực Tây Nguyên, do thời tiết nắng nóng và chưa có mưa nên việc trồng mì vụ mới dự kiến phải sang đầu tháng 5 mới bắt đầu, trong khi một số vùng trồng sớm trong giai đoạn cuối tháng 3 thì có tới 80-90% phải trồng lại do bị chết hom.

Năm nay, mùa mưa tại Tây Ninh đến muốn hơn so với cùng kỳ hàng năm khoảng 1 tháng, do đó phải sang đến giữa tháng 5 Tây Ninh mới bắt đầu có mưa. Do nắng nóng kéo dài khiến một số diện tích sắn trồng mới tại Tây Ninh, Tây Nguyên và Campuchia bị chết khô và phải trồng lại. Do đó, nhu cầu mua hom sắn giống được nhận định sẽ tăng rất mạnh vào trung tuần tháng 5, khi mùa mưa tại những khu vực này bắt đầu. Hiện nay, thương lái đã xuống tận vườn đặt cọc mua hom giống để gom đi Campuchia hoặc các tỉnh Tây Nguyên. Giá hom giống tại Tây Ninh hiện dao động từ 25.000-30.000 đồng/bó và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong tháng tới.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến 15/03/2019 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/03/2019

36.2

87.0

123.1

15/02/2019

36.2

58.1

94.3

15/03/2018

24.7

84.7

109.4

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.0

49.7

30.6

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

46.4

2.7

12.6

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến 15/03/2019 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 03/2019 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước nhưng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 3/2019, chỉ đạt 53.800 tấn, giảm gần 57.000 tấn so với tháng trước nhưng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia chỉ đạt trên 325.000 tấn, giảm 21,8% (tương đương khoảng 91.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Tương tự, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 3/2019 chỉ đạt gần 86.000 tấn, giảm 48.000 tấn so với tháng trước và giảm nhẹ khoảng 3.000 tấn so với tháng 3/2018. Tính chung trong quý I/2019, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt trên 433.000 tấn, tăng 33.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong 3 tháng đầu năm 2019, lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Campuchia có xu hướng giảm nhẹ, trong khi đó lượng sắn nhập khẩu từ Lào lên tới 50.300 tấn, cao gấp 5 lần so với con số của cùng kỳ năm 2018.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, tổng sản lượng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 4 đạt khoảng 44.000 tấn, giảm 10.000 tấn so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt trên 160.000 tấn, giảm 64,2% (tương đương mức giảm trên 2900.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, lượng sắn lát xuất khẩu đi thị trường Hàn Quốc đạt gần 40.000 tấn, tăng mạnh so với con số 15.000 tấn của cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

156,163

37,709

-75.9

2

90,454

25,289

-72.0

3

158,534

56,832

-64.2

4

51,424

43,601

-15.2

5

47,586

   

6

31,087

   

7

19,070

   

8

11,917

   

9

32,879

   

10

21,446

   

11

28,910

   

12

9,818

   

Tổng

659,288

163,430

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T4*/2019: số liệu sơ bộ)

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T4*/2019: số liệu sơ bộ)

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2019 (tấn)

Nước nhập

1

2

3

4

Tổng

China

36,625

12,594

42,466

29,745

121,430

Indonesia

   

1,026

305

1,331

Korea (Republic)

1,084

12,667

13,340

12,448

39,539

Malaysia

 

27

 

27

54

Singapore

     

1,075

1,075

Tổng

37,709

25,289

56,832

43,601

163,430

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Sang tháng 4/2019, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam cho thấy sự suy giảm mạnh mẽ ở cả kênh xuất khẩu đường biển lẫn biên mậu. Theo đó, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu trong tháng 04/2019 chỉ đạt trên 158.000 tấn, giảm 52.000 tấn so với tháng trước nhưng cao hơn 12.000 tấn so với tháng 4/2018.

Tính chung từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 685.000 tấn, tăng 10% (tương đương tầm 62.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

222,883

210,385

-5.6

2

81,310

105,986

30.3

3

173,036

210,360

21.6

4

145,793

158,364

8.6

5

177,686

   

6

138,816

   

7

93,397

   

8

78,095

   

9

117,305

   

10

160,492

   

11

188,655

   

12

169,773

   

Tổng

1,747,239

685,095

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T4*: số liệu sơ bộ)

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T4*: số liệu sơ bộ)

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2019 (tấn)

Thị trường

1

2

3

4

Tổng

China

195,379

98,782

200,737

150,049

644,946

Malaysia

4,936

3,700

1,414

2,175

12,225

Philippines

5,079

1,158

3,155

1,865

11,257

Taiwan

2,709

2,028

2,176

1,492

8,406

Macau

     

1,140

1,140

Lithuania

73

 

969

 

1,042

Korea (Republic)

102

 

450

450

1,002

Senegal

171

56

435

323

985

Indonesia

608

   

228

836

South Africa

304

76

18

228

626

Khác

1,024

186

1,006

413

2,630

Tổng

210,385

105,986

210,360

158,364

685,095

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Tại miền Bắc, do sản lượng heo bị sụt giảm mạnh do dịch tả châu Phi, cộng thêm giá ngô thấp nên các nhà máy cám gia súc hầu như không còn nhu cầu với sắn lát. Tuy nhiên, ở kênh xuất khẩu, lượng sắn lát xuất đi Trung Quốc qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc lại khá tốt với lượng đạt mỗi ngày cho cả hàng cám và hàng cồn vào khoảng 500-600 tấn/ngày. Theo ước tính lượng sắn lát còn tồn kho khu vực miền Bắc còn dưới 20.000 tấn nên các đơn vị còn hàng cũng không có nhu cầu bán về nhà máy cám mà chủ yếu bán đi Trung Quốc với giá bán tại biên giới từ 5.000-5.200 đồng/kg tùy phẩm cấp.

Tại Quy Nhơn, sang tháng 4, do đã vào cuối vụ nên lượng mì lát từ Gia Lai đưa về liên tục giảm mạnh, đạt bình quân trên 1.000 tấn/ngày trong nửa đầu tháng 4 và giảm xuống chỉ còn khoảng 200 tấn/ngày trong nửa cuối tháng 4 do được hút đi các nhà máy cám cá hoặc nhà máy sản xuất cồn. Theo tin từ các thương nhân cho biết, hiện nay một số nhà máy cám các miền Tây lên gom hàng trực tiếp tại Gia Lai với giá 4.700 đồng/kg với hàng mì khô và từ 4.500-4.550 đồng/kg với hàng xấu hơn, trong khi giá mua vào tại Quy Nhơn vẫn dao động từ 4.600-4.650 đồng/kg nên không có hàng đưa về. Cũng theo tin từ thương nhân cho biết, các kho Quy Nhơn vẫn đang có nhu cầu gom hàng cám từ Gia Lai nhưng không có hàng đưa về do những kho còn hàng hầu hết trữ lại chờ giá lên.

Tại cửa khẩu Xa Mát, lượng mì lát từ Campuchia đưa về đạt bình quân khoảng 20-30 xe/ngày, trong đó chủ yếu là hàng mì vỏ và mì xô cồn, hàng mì cục về rất ít chỉ 2-3 xe/ngày. Giá mua mì tại cửa khẩu dao động từ 4.500-4.600 đồng/kg với hàng mì cồn; giá từ 4.700-4.870 đồng/kg với hàng mì vỏ. Đối với hàng mì cục, giá mua cao nhất được mức 5.250 đồng/kg. Theo tin từ thương nhân cho biết, giá bán về các nhà máy cám cá miền Tây có xu hướng tăng nhẹ với hàng mì vỏ. Theo đó, giá hàng giao về nhà máy tháng 4/5/6 tương ứng là 5.400/5.500/5.600 đồng/kg. Trong khi đó, giá mua với hàng mì cục vẫn giữ quanh mức cao nhất 5.800-5.900 đồng/kg. Tại cửa khẩu Chàng Riệc, các kho đã ngừng mua mì lát để trữ điều nên không có xe nào đưa về.

Tại Hoa Lư, sang tháng 4 chỉ còn 1-2 kho mua mì do nguồn cung mì Cam giảm mạnh. Mì Cam chỉ còn đưa về kho Hoa Lư trong nửa đầu tháng 4 với lượng đạt bình quân khoảng 100 xe/ngày. Giá mua tăng 50 đồng/kg so với tháng trước, lên mức 4.900-4.950 đồng/kg. Sang đến nửa cuối tháng 4, mì Cam không còn đưa về cửa khẩu nên không có giao dịch mua vào. Các giao dịch tại cửa khẩu chủ yếu cho hàng lưu kho bán về các nhà máy cồn và hàng xuất khẩu. Hiện nay, một số đơn vị đang bán ra với giá 5.100 đồng/kg cho hàng xô cồn/mì lỡ và 5.400-5.500 đồng/kg với hàng mì cục đi nhà máy TACN.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu tại khu vực Quy Nhơn và Tây Ninh trong năm 2017-2019 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Sang tuần đầu tháng 4, giá sắn củ tươi tại Tây Ninh được điều chỉnh giảm mạnh từ 100-150 đồng/kg, còn cao nhất 2.700 đồng/kg bởi nhiều nhà máy đã tạm ngưng hoạt động do đầu ra xuất khẩu khó khăn, lượng tồn kho tinh bột sắn tại nhà máy và các cảng/cửa khẩu lớn. Nguồn cung mì nội vùng đưa về nhiều hơn, trong khi nhu cầu mua nguyên liệu giảm mạnh khiến giá mì củ về nhà máy trong tuần này được điều chỉnh giảm. Tuy nhiên ngay sau đó, giá phải điều chỉnh tăng trở lại do lượng mì củ đưa về nhà máy có xu hướng giảm. Theo đó, tính đến tuần cuối tháng 4, giá mì nguyên liệu tại Tây Ninh luôn duy trì quanh mức 2.650-2.800 đồng/kg tùy nhà máy và chất lượng mì đưa về.

Trong khi đó tại khu vực Tây Nguyên, giá mì xô về nhà máy dao động từ 2.180-2.230 đồng/kg tuỳ nhà máy và khoảng cách xa gần, tương đương giá quy đổi với mì 30 trữ độ bột khoảng 2.500 đồng/kg.

Tại khu vực miền Bắc, sang tháng 4 chỉ còn 01 nhà máy tinh bột sắn tại Sơn La chạy lai rai với giá 1.750 đồng/kg và chính thức nghỉ vào tuần cuối tháng 4 do đã vào cuối vụ thu hoạch, nguồn cung sắn củ đã cạn và chất lượng sắn đưa về cùng kém hơn do thời tiết vào mùa mưa.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018-2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 03/2019 tăng nhẹ trở lại so với tháng trước nhưng giảm tới 57,3% so với cùng kỳ năm 2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, trong tháng 03/2019,  nhập khẩu sắn lát của nước này đạt khoảng 320 nghìn tấn, tăng 20.000 tấn so với tháng trước nhưng giảm tới 57,3% so với tháng 03/2018. Tính chung trong 3 tháng đầu năm nay, tổng lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu chỉ đạt 990 nghìn tấn, trong khi con số của cùng kỳ năm 2018 lên tới 2,1 triệu tấn.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

10

320.0

 

 

11

270.0

 

 

12

270.0

 

 

2019

1

370.0

 

 

2

300.0

 

 

3

320.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 03/2019 quay đầu giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng hơn 42.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan cho thấy, trong tháng 03/2019, xuất khẩu sắn lát của nước này đạt trên 300 nghìn tấn, tăng nhẹ so với tháng trước nhưng lại giảm tới 203 nghìn tấn so với tháng 3/2018 do nhu cầu mua từ phía Trung Quốc yếu. Các doanh nghiệp nhập khẩu vẫn mua khá dè chừng trong bối cảnh giá cồn nội địa tiếp tục giảm. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan mới chỉ đạt 863 nghìn tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 1,67 triệu tấn của cùng kỳ năm 2018.

Trong khi đó, đối với tinh bột sắn, sản lượng xuất khẩu của Thái Lan trong tháng 03/2019 quay đầu giảm, đạt trên 330,5 nghìn tấn, giảm 21 nghìn tấn so với tháng trước nhưng lại tăng khoảng 42,4 nghìn tấn so với tháng 03/2018. Tính chung từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2019, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 975 nghìn tấn, tăng 155 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trên 546,5 nghìn tấn, chiếm khoảng 56% tổng thị phần xuất khẩu tinh bột của Thái Lan trong 3 tháng đầu năm. Thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn thứ 2 của Thái Lan là Indonesia với tổng khối lượng nhập khẩu đạt 144.000 tấn tính đến hết tháng 3, trong khi con số của cùng kỳ năm 2018 chỉ là 68.000 tấn, tức tăng gấp 2,1 lần.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

10

279.0

311.3

11

270.2

281.9

12

209.1

231.9

2019

1

265.0

293.2

2

297.4

351.5

 

3

300.6

339.5

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Sang tháng 4/2019, giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan quay đầu giảm do nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc yếu hơn. Trong đó, giá chào xuất khẩu sắn lát của Thái Lan được điều chỉnh giảm về mức 220 USD/tấn FOB, thấp hơn 5 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước và giảm tới 30 USD/tấn so với cùng kỳ tháng 4 năm 2018.

Đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan tiếp tục duy trì ổn định quanh mức 455-465 USD/tấn FOB và có xu hướng giảm nhẹ 5 USD/tấn, còn 460 USD/tấn vào tuần cuối tháng 4, đầu tháng 5 trong khi mức giá của cùng kỳ năm 2018 lên tới 550 USD/tấn, tức thấp hơn tới 90 USD/tấn.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2017-2019 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Nhu cầu mua sắn lát từ các nhà máy cám cá vẫn tiếp tục tăng mạnh do sự gia tăng về sản lượng nuôi trồng thủy sản để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng của thịt heo do sự bùng phát của bệnh dịch tả heo châu Phi. Đồng thời, giá cám gạo miền Tây cũng tăng trở lại mức 5.500-5.550 đồng/kg, trong khi nguồn cung mì cám lưu kho tại các vùng ít hơn nhiều so với kỳ vọng trước đó có thể khiến giá mì cám về nhà máy tiếp tục tăng. Ngoài ra, nhu cầu mua sắn lát từ các nhà máy cồn nội địa cũng khá tốt trong bối cảnh giá xăng dầu trong nước và thế giới tăng mạnh. Qua đó, các đơn vị còn hàng tại khu vực Quy Nhơn và Hoa Lư cũng không mặn mà với những hợp đồng xuất khẩu đi các nhà máy cồn Trung Quốc do giá phía Trung Quốc đưa ra thấp, chỉ quanh mức 230 USD/tấn CFR.

Kể từ đầu tháng 5, hầu hết các nhà máy tinh bột sắn trên khắp cả nước đều đã nghỉ bảo dưỡng do nguồn cung nguyên liệu nhập khẩu lẫn nội địa đều giảm mạnh do hết vụ khiến nguồn cung tinh bột sắn ra thị trường giảm. Tuy nhiên thị trường cũng không mấy khả quan do nhu cầu mua từ Trung Quốc rất chậm, nhất là khi Trung Quốc đang bước vào mùa nắng nóng cao điểm, tiêu thụ thực phẩm sẽ giảm mạnh. Nhiều nhà máy vẫn đang bị kiểm soát hoạt động do ô nhiễm môi trường. Theo đó, tình hình trầm lắng của thị trường có thế sẽ kéo dài đến hết quý II/2019.

Tin tham khảo