Toàn cảnh thị trường sắn tháng 4/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 4/2018 chỉ bằng 1/10 so với cùng kỳ năm 2017

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường sắn tháng 4/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 4/2018 chỉ bằng 1/10 so với cùng kỳ năm 2017

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 04/2018

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến giữa 04/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 158,4 nghìn ha, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 04/2018 tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt 13 nghìn tấn, giảm 72,3% so với tháng 3 và chỉ bằng 1/10 so với tháng 4/2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 04/2018 đạt gần 14.000 tấn, giảm trên 84% so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 04/2018, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam chỉ đạt 198 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 82,9 triệu USD, giảm 41,8% về lượng và giảm 29,6% về giá trị so với tháng trước.

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 4/2018 đạt trên 51 nghìn tấn, giảm tới 67,6% so với tháng 3 và giảm khoảng 38,8% so với tháng 4/2017.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 04/2018 cũng giảm mạnh khi chỉ đạt hơn 145 nghìn tấn, giảm 15,9% so với tháng trước và thấp hơn khoảng 18,1% so với cùng kỳ tháng 4 năm 2017.

Giá cả

1. Sắn lát

Giá sắn lát giao dịch nội địa có xu hướng chững lại, thậm chí quay đầu giảm nhẹ ở một số vùng khi nhu cầu mua hàng từ phía Trung Quốc chậm hơn do giá cồn tại nước này liên tục giảm kể từ tháng 01/2018 trở lại đây. Tính đến đầu tháng 4, giá sắn lát đưa về kho tại các vùng cụ thể như sau:

- Tại Sơn La, hàng mì xô cồn (độ ẩm trên 17%, xuất đi Trung Quốc) gần như không có giao dịch do hết hàng. Riêng hàng mì đủ điều kiện đi các nhà cám nội địa, giá các kho bán ra dao động quanh mức 4.800-4.900 đồng/kg.

- Tại Tây Ninh, giá mì lát từ Campuchia đưa về cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát bị kéo xuống rất mạnh, còn phổ biến từ 750-800 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sang VND từ 4.300-4.600 đồng/kg, tức giảm tới 650 đồng/kg so với tháng trước.

- Tại Hoa Lư (Bình Phước), các kho đã ngừng mua hàng nên mì lát từ Cam không còn được đưa về..

- Tại Quy Nhơn, tính đến cuối tháng 4, đầu tháng 5, giá mì lát đưa về các kho còn phổ biến quanh mức 4.900-5.050 đồng/kg (hàng xô thường) và giá từ 5.100-5.200 đồng/kg với hàng mì khô, đủ tiêu chuẩn xuất đi Hàn Quốc, giảm từ 150-300 đồng/kg so với tháng trước. Riêng hàng mì cám gần như không còn hàng đưa về do thời tiết tại khu vực Tây Nguyên bắt đầu có mưa, không thuận lợi cho việc phơi.

2. Sắn củ tươi: Tình trạng khan hiếm nguyên liệu kéo dài, đồng thời phải cạnh tranh với giá sắn lát khiến giá sắn củ đưa về các nhà máy tinh bột sắn tại các vùng tiếp tục duy trì ở mức cao. Cụ thể, tính đến đầu tháng 4/2018 giá mì tại các vùng cụ thể như sau:

- Tại Tây Ninh, giá mua vào đối với mì nguyên liệu của các nhà máy tăng nhẹ 50 đồng/kg so với tháng trước, lên mức 3.200-3.400 đồng/kg.

- Tại khu vực Tây Nguyên, mì củ được đưa về các nhà máy tinh bột sắn nhiều hơn do giá mì lát có xu hướng giảm và thời tiết không thuận lợi cho việc phơi mì. Giá mua vào của các nhà máy giữ ổn định từ 2.600-2.900 đồng/kg;

- Tại khu vực miền Bắc, sang tháng 4, hầu hết các nhà máy tinh bột sắn tại Lào Cai, Sơn La và Yên Bái đều đã nghỉ chạy do hết vụ.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 04/2018 giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước;

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan đồng loạt giảm trong tháng 4/2018 do nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc suy yếu.

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Diện tích sắn cả nước theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT tính đến ngày 15/4/2018 đạt trên 158,4 nghìn ha, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước (tương đương gần 13 nghìn ha). Qua số liệu thống kê cho thấy, hầu hết các vùng đều có sự suy giảm khá mạnh về diện tích trồng mới so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là 2 vùng có sự suy giảm mạnh nhất với mức giảm lần lượt là 55,2% và 22,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng khu vực Tây Nguyên lại có sự tăng trưởng khá mạnh tới 11,8% so với cùng kỳ năm 2017, đạt tới 8,4 nghìn ha.

Tính đến giữa tháng 4/2018, địa phương có diện tích gieo trồng sắn lớn nhất cả nước vẫn là tỉnh Tây Ninh với trên 33,6 nghìn ha, tăng nhẹ 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết đang trong mùa nắng nóng cao điểm nên diện tích mì trồng mới tại Tây Ninh trong tháng 4 gần như giữ nguyên so với tháng trước. Đồng thời, đất khô cứng cũng khiến cho việc thu hoạch mì củ tại đây gặp khó khăn. Dự kiến sang đến tháng 7, thu hoạch mì vụ mới tại Tây Ninh sẽ bắt đầu.

Tuy nhiên, theo số liệu của AgroMonitor tổng hợp sau khi tham vấn từ các thương nhân và người trồng sắn tại một số vùng trồng sắn lớn trên cả nước thì diện tích sắn trồng mới thực tế tại các vùng có thể lớn hơn nhiều so với con số thống kê của Bộ NN và PTNT. Cụ thể, tại Tây Ninh tăng khoảng 10-15%, Tây Nguyên tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước.

Đặc biệt, theo đánh giá của các thương nhân, niên vụ 2018/2019 diện tích sắn trồng mới tại một số vùng bên phía Campuchia giáp với Việt Nam có thể tăng tới 80% so với cùng kỳ năm trước do giá sắn củ và sắn lát năm qua tăng mạnh. Theo các thương nhân cho biết, nhu cầu mua hom sắn giống từ Cam tăng rất mạnh, đẩy giá hom giống tại Tây Ninh tăng phi mã, từ mức giá bình quân từ 8.000-12.000 đồng/bó (năm 2017) lên mức trên 60.000 đồng/bó vào tháng 4/2018.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/04/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/04/2018

78.3

80.1

158.4

15/04/2017

81.7

89.3

171.0

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-4.2

-10.3

-7.4

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/04/2018 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi và sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 04/2018 do nguồn cung mì bên Cam sắp cạn

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát và sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 4/2018 tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt tổng cộng gần 27.000 tấn. Trong đó, khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu chỉ đạt 13.900 tấn, giảm tới hơn 84,4% so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 4, sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt 414 nghìn tấn, thấp hơn 44,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Tương tự, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam từ Campuchia trong tháng 4/2018 chỉ đạt 13 nghìn tấn, giảm tới 72,3% so với tháng 3 và chỉ bằng 1/10 so với tháng 4/2017. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam mới đạt trên 429 nghìn tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 1,01 triệu tấn của cùng kỳ năm 2017.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 04/2018 giảm tới 2/3 so với tháng 3

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 4/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam giảm rất mạnh khi chỉ đạt con số trên 51 nghìn tấn, giảm tới 67,6% so với tháng 3 và giảm khoảng 38,8% so với tháng 4/2017. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam đạt trên 450 nghìn tấn, giảm 15% (tương đương tầm 81 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

51,424

-38.8

5

108,714

   

6

114,141

   

7

133,659

   

8

133,917

   

9

109,356

   

10

108,800

   

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

456,575

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

100% lượng sắn lát xuất khẩu trong tháng 4/2018 đều được xuất sang thị trường Trung Quốc, đưa tổng khối lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018 đạt con số trên 440 nghìn tấn, chiếm tới 96,6% tổng thị phần. Tuy nhiên, vẫn thấp hơn khoảng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, tức giảm khoảng gần 70.000 tấn.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước nhập

1

2

3

4

Tổng

China

154,538

89,646

145,315

51,424

440,922

Korea (Republic)

1,626

808

13,000

 

15,434

Malaysia

   

220

 

220

Tổng

156,163

90,454

158,534

51,424

456,575

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 03/2018 cao gấp 2 lần so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn tăng mạnh từ cả thị trường Trung Quốc và ngoài Trung Quốc

Tương tự với sắn lát, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 04/2018 cũng giảm mạnh trở lại khi chỉ đạt hơn 145 nghìn tấn, giảm 15,9% so với tháng trước và thấp hơn khoảng 18,1%  so với cùng kỳ tháng 4 năm 2017. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 622 nghìn tấn, giảm 25,2%, (tương đương với mức suy giảm khoảng 210 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

145,493

-18.1

5

142,321

   

6

174,329

   

7

145,658

   

8

150,812

   

9

200,310

   

10

182,561

   

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

622,722

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Sang tháng 4/2018, nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn của Việt Nam từ các thị trường đều giảm khá mạnh so với tháng trước. Trong Top 5 thị trường tiêu thụ tinh bột sắn của Việt Nam, chỉ có duy nhất Malaysia có sự tăng trưởng dương với mức tăng 112% so với tháng 3, còn lại các thị trường khác như Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Đài Loan cố sự suy giảm lần lượt là 13%, 68,5%, 69,4% và 41,9% so với tháng trước.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

1

2

3

4

Tổng

China

198,318

68,803

150,349

130,831

548,302

Indonesia

4,883

4,503

7,000

2,204

18,590

Philippines

5,554

1,292

5,810

1,777

14,433

Malaysia

3,413

1,540

2,570

5,449

12,972

Taiwan

3,264

2,105

4,168

2,424

11,960

Pakistan

1,680

625

1,475

1,042

4,822

Chile

609

799

 

576

1,984

Singapore

1,261

341

198

39

1,839

USA

341

125

463

328

1,257

India

1,216

     

1,216

Khác

2,344

1,177

1,003

823

5,348

Tổng

222,883

81,310

173,036

145,493

622,722

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Giá mì lát giao dịch nội địa tiếp tục giảm do xuất khẩu khó khăn

Do nguồn cung mì lát từ Campuchia và khu vực Tây Nguyên đều sắp cạn khiến lượng mì lát đưa về các kho tại khu vực Quy Nhơn và Đông Nam Bộ đều giảm rất mạnh so với tháng trước. Tuy nhiên, do xuất khẩu gặp khó khăn, giá xuất khẩu sang Trung Quốc quay đầu giảm mạnh khiến giá giao dịch sắn lát tại thị trường nội địa cũng nối dài xu hướng giảm.

Tại Tây Ninh, do chỉ có 1-2 kho còn mở cửa mua hàng nên giá mì đưa về cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát bị kéo xuống rất mạnh, còn phổ biến từ 750-800 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sang VND từ 4.300-4.600 đồng/kg, tức giảm tới 650 đồng/kg so với tháng trước.

Tại Hoa Lư (Bình Phước), các kho đã ngừng mua hàng nên mì Cam chủ yếu được đưa về khu vực Tây Ninh.

Tương tự tại Quy Nhơn, do nguồn cung mì trên nguồn Gia Lai sắp cạn nên lượng mì lát đưa về các kho liên tục giảm, đạt bình quân dưới 1.000 tấn/ngày. Một số kho lớn cũng giảm nhịp độ mua hàng do xuất khẩu khó khăn và giá xuất sang Trung Quốc quay đầu giảm mạnh. Theo đó, tính đến cuối tháng 4, đầu tháng 5, giá mì lát đưa về các kho còn phổ biến quanh mức 4.900-5.050 đồng/kg (hàng xô thường) và giá từ 5.100-5.200 đồng/kg với hàng mì khô, đủ tiêu chuẩn xuất đi Hàn Quốc, giảm từ 150-300 đồng/kg so với tháng trước. Riêng hàng mì cám gần như không còn hàng đưa về do thời tiết tại khu vực Tây Nguyên bắt đầu có mưa, không thuận lợi cho việc phơi.

Tại Sơn La, hàng mì xô cồn (độ ẩm trên 17%, xuất đi Trung Quốc) gần như không có giao dịch do hết hàng. Riêng hàng mì đủ điều kiện đi các nhà cám nội địa, giá các kho bán ra dao động quanh mức 4.800-4.900 đồng/kg.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016-2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Trong tháng 4/2018, mặc dù hầu hết các nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh đều đã ngừng sản xuất để bảo dưỡng do hết nguyên liệu. Tuy nhiên, giá mì đưa về nhà máy vẫn duy trì ở mức cao từ 3.200-3.400 đồng/kg.

Tại khu vực Tây Nguyên, mì củ vẫn được đưa về các nhà máy tinh bột nhiều hơn do giá mì lát có xu hướng giảm và thời tiết cũng không thuận lợi cho việc phơi mì lát. Giá mua vẫn giữ ổn định so với mức giá đã được thiết lập từ tháng 3, dao động từ 2.600-2.900 đồng/kg tùy nhà máy và khoảng cách xa gần.

Tại miền Bắc, sang tháng 4 hầu hết các nhà máy tinh bột sắn tại Lào Cai, Sơn La và Yên Bái đều đã nghỉ chạy do hết vụ.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 04/2018 giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 4/2018, nhập khẩu sắn lát của nước này chỉ đạt 630 nghìn tấn với giá trị khoảng 156 triệu USD, giảm 16% so với tháng trước và thấp hơn 200 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2017. Như vậy, trong 4 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc chỉ đạt hơn 2,7 triệu tấn, giảm 8,6% (tương đương gần 260 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Giá cồn tại Trung Quốc liên tục lao dốc do nhu cầu tiêu thụ cồn nội địa suy yếu bởi nhiều nhà máy hóa chất tại nước này chuyển qua dùng cồn nhập khẩu với giá rẻ hơn, cộng thêm thông tin chính phủ Trung Quốc xả kho ngô dự trữ là những nguyên nhân chính khiến lượng sắn lát nhập khẩu của nước này giảm mạnh trong 4 tháng đầu năm 2018. Sang tháng 5 và tháng 6, nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp do ngô từ kho dự trữ vẫn tiếp tục được bán ra, cộng với nhu cầu tiêu thụ cồn trong giai đoạn này đạt thấp do thời tiết tại Trung Quốc bước vào mùa nắng nóng cao điểm.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan đồng loạt giảm trong tháng 4/2018 do nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc suy yếu

Theo số liệu mới công bố của hải quan Thái Lan, xuất khẩu sắn lát của nước này đạt 490,4 nghìn tấn, giảm nhẹ so với tháng trước và giảm khoảng 7,9% so với cùng kỳ tháng 4 năm 2017. Tính chung 4 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan đạt 2,16 triệu tấn, giảm 10%, tương đương khoảng 247 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước.

Có cùng xu hướng, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 4 cũng quay đầu giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước khi chỉ đạt con số 167 nghìn tấn, qua đó đưa tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan trong 4 tháng đầu năm đạt 987,3 nghìn tấn, tăng nhẹ 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 7: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan quay đầu giảm mạnh ngay trong tuần đầu tiên của tháng 4/2018 sau 8 tháng liên tục leo dốc. Nguyên nhân được nhận định là do ảnh hưởng của kỳ nghỉ tết Thanh minh kéo dài, cộng với giá cồn nội địa của Trung Quốc tiếp tục suy yếu khiến các giao dịch sắn lát rơi vào trạng thái trầm lắng. Tính đến tuần đầu tháng 5, chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan sang Trung Quốc còn 243 USD/tấn FOB, giảm tới 17 USD/tấn trong vòng 1 tháng.

Trong khi đó, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan vẫn duy trì xu hướng tăng nhẹ thêm 5 USD/tấn, lên mức 550 USD/tấn FOB trong nửa cuối tháng 4, đầu tháng 5 do giá tinh bột nội địa tăng.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Xu hướng giảm của giá cồn tại Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn ra, một số nhà máy cồn của Trung Quốc phải chuyển qua sử dụng nguyên liệu thay thế khác có giá rẻ hơn khiến nhu cầu đối với sắn lát chững lại trong vài tuần gần đây. Do đó, giá sắn lát xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan sang thị trường Trung Quốc được nhận định sẽ khó tăng trong ngắn hạn, mặc dù lượng tồn kho nội địa đang ở mức rất thấp so với cùng kỳ hàng năm.

Tương tự đối với tinh bột sắn, thị trường cũng không mấy khả quan do nhu cầu mua của Trung Quốc rất chậm, nhất là khi thị trường Trung Quốc đang bước vào mùa nắng nóng cao điểm, tiêu thụ thực phẩm sẽ giảm mạnh. Theo nhận định, tình hình trầm lắng của thị trường có thế sẽ kéo dài đến hết quý 2/2018.