Toàn cảnh thị trường sắn tháng 3/2019 - Nguồn cung khan hiếm khiến giá sắn củ tươi luôn duy trì ở mức cao dù đầu ra xuất khẩu khó khắn
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 3/2019 - Nguồn cung khan hiếm khiến giá sắn củ tươi luôn duy trì ở mức cao dù đầu ra xuất khẩu khó khắn

 

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 03/2019

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/03/2019 tổng diện tích gieo trồng sắn trên cả nước ước đạt trên 123,1 nghìn ha, tăng 30,6% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ tháng 3 năm 2018, tương đương mức tăng khoảng 13,7 nghìn ha.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 02/2019 đạt trên 110.000 tấn, giảm 50.000 tấn so với tháng trước và thấp hơn 20.000 tấn so với cùng kỳ tháng 2/2018. Tính chung trong 2 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia đạt trên 270 nghìn tấn, giảm 97.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 02/2019 cũng giảm rất mạnh khi chỉ đạt trên 134.000 tấn, giảm 80.000 tấn so với tháng 01 nhưng lại tăng 73,8% (tương đương gần 57.000 tấn) so với tháng 02/2018. Tính chung trong tháng 01 và tháng 02, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt 348.000 tấn, tăng 36.600 tấn so với cùng kỳ năm 2018, trong đó chủ yếu do tăng nguồn cung nhập khẩu sắn củ tươi từ Lào, lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Campuchia vẫn đạt tương đương so với cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 03/2019 đạt 270,7 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt 105.1 triệu USD, tăng 97,8% về lượng và tăng 99,1% về giá trị so với tháng trước nhưng vẫn giảm tới 20,4% về lượng so với cùng kỳ tháng 03/2018. Tính chung trong 03 tháng năm 2019, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam mới đạt trên 681,8 nghìn tấn, thu về lượng kim ngạch đạt trên 256,4 triệu USD, giảm 25,9% về sản lượng và giảm 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

- Trong tháng 03/2018, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam đạt 55 nghìn tấn, tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới 65,5% (tương đương mức giảm khoảng 100.000 tấn) so với tháng 3/2018. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt gần 120.000 tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 400.000 tấn của cùng kỳ năm trước.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 03/2019 đạt gần 200.000 tấn, tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên chủ yếu là vào kho bên Trung Quốc chứ hàng đi thẳng nhà máy ít.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tại khu vực miền Bắc, giá mì lát tiếp tục tăng do vãn vụ, lượng mì đưa về ít. Tại Nghệ An, giá mì Lào đưa về được đẩy tăng lên mức 4.600-4.650 đồng/kg, tức cao hơn từ 350-400 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tại Sơn La, giá kho mua vào đối với mì đủ điều kiện đi nhà máy cám cũng được điều chỉnh tăng 100 đồng/kg so với tháng trước, lên mức phổ biến từ 4.500-4.700 đồng/kg.

- Tại Quy Nhơn, giá mua dao động từ 4.500-4.650 đồng/kg với hàng mì xô thường và giá từ 4.700-4.800 đồng/kg với hàng mì khô (đủ điều kiện xuất khẩu sang Hàn Quốc). Đối với hàng mì cám, giá các kho mua vào quanh mức 4.850-4.900 đồng/kg.

- Tại Tây Ninh, giá quay đầu giảm mạnh chỉ còn dao động từ 4.650-4.850 đồng/kg với hàng mì vỏ, trong đó trong đó giá 4.650-4.700 đồng/kg với hàng xá và 4.850 đồng/kg với hàng đóng bao. Đối với hàng mì cục, đầu giá mua vào của các kho vẫn để ở mức 5.300 đồng/kg, tuy nhiên hàng đưa về chất lượng kém hơn nên giá giao dịch thực tế chỉ từ 5.000-5.200 đồng/kg..

- Tại Hoa Lư, giá mua dao động quanh mức 4.850-4.950 đồng/kg cho mì xô cứng và giá từ 5.000-5.300 đồng/kg với hàng mì cám và rớt cám.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, trong tháng 3 giá sắn củ tươi luôn được duy trì quanh mức 2.750-2.800 đồng/kg, áp dụng chung cho cả mì Cam lẫn mì nội vùng, giảm 50 đồng/kg so với mì nội địa nhưng lại tăng 50 đồng/kg đối với mì nhập khẩu từ Campuchia.

- Tại khu vực Tây Nguyên, giá mì củ được điều chỉnh tăng/giảm liên tục trong tháng 3 với biên độ dao động khá lớn từ 2.300-2.600 đồng/kg tùy thời điểm và chất lượng mì đưa về.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 02/2019 quay đầu giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng 1/2 so với tháng 02 năm 2018;

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 02/2019 tiếp tục tăng mạnh so với tháng trước.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/03/2019 tổng diện tích gieo trồng sắn trên cả nước ước đạt trên 123,1 nghìn ha, tăng 30,6% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ tháng 3 năm 2018, tương đương mức tăng khoảng 13,7 nghìn ha. Trong đó, Tây Nguyên là vùng có diện tích sắn trồng mới tăng mạnh nhất với mức tăng lên tới 367,1% so với tháng trước do thu hoạch sắn tại Tây Nguyên sắp kết thúc, người dân bắt đầu chuyển sang trồng sắn vụ mới. Tuy nhiên theo tin từ các thương nhân và người trồng sắn tại khu vực này cho biết, nhiều diện tích sắn trồng mới do thiếu nước nên sắn đã bị chết kho, phải trồng lại, đặc biệt là tại khu vực Đắc Lắc và Gia Lai. Theo dự báo từ cơ quan khí tượng thủy văn Trung ương, mùa mưa tại Tây Nguyên năm nay có thể sẽ đến trễ khoảng 1 tháng, tức khoảng đầu tháng 5 do đó việc gieo trồng sắn vụ mới sẽ đến trễ, ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch sắn vào cuối năm. Năm nay, diện tích sắn trồng mới của khu vực đồng bằng sông Cửu Long được thống kê cũng cho thấy tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Cụ thể, tính đến giữa tháng 3/2019, tổng diện tích đạt trên 2.400 ha, tăng 231,4% so với tháng trước và tăng khoảng 85,5% so với cùng kỳ năm 2018. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, người dân đã tập trung làm đất và xuống giống trên hầu hết các diện tích trong tháng 1 và tháng 2, chỉ còn lại một số vùng vẫn đang thu hoạch nốt sắn vụ cũ. Dự kiến vụ thu hoạch sắn tại miền Bắc sẽ kết thúc hoàn toàn vào đầu tháng 4.

Tính đến ngày 15/03/2019, Tây Ninh vẫn là địa phương có diện tích sắn gieo trồng mới lớn nhất cả nước, đạt trên 31.000 ha, tăng 22,4% so với tháng trước nhưng giảm 5,9% so với cùng kỳ tháng 3/2018. Tiếp đến là tỉnh Phú Yên khoảng 14.000 ha, tăng gấp 2 lần so với tháng trước và tăng 2.000 ha so với cùng kỳ năm trước. Do chậm trễ trong số liệu báo cáo nên tính đến giữa tháng 3/2019, một số tỉnh trồng sắn lớn tại miền Bắc như: Sơn La, Thanh Hóa, Phú Thọ, Tuyên Quang, diện tích sắn trồng mới vẫn chưa được thống kê, tuy nhiên nhưng trên thực tế thì các tỉnh này cũng đã gieo trồng được tương đối diện tích sắn vụ mới, trước khi mùa nắng nóng cao điểm tại miền Bắc bắt đầu từ cuối tháng 4, đầu tháng 5.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến 15/03/2019 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/03/2019

36.2

87.0

123.1

15/02/2019

36.2

58.1

94.3

15/03/2018

24.7

84.7

109.4

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.0

49.7

30.6

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

46.4

2.7

12.6

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến 15/03/2019 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 02/2019 giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 02/2019 đạt trên 110.000 tấn, giảm 50.000 tấn so với tháng trước và thấp hơn 20.000 tấn so với cùng kỳ tháng 2/2018. Tính chung trong 2 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia đạt trên 270 nghìn tấn, giảm 97.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, lượng sắn lát nhập khẩu từ Campuchia chỉ đạt gần 228.000 tấn, giảm 108.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, nhập khẩu sắn lát từ Lào trong 2 tháng đầu năm 2019 lại có xu hướng tăng khi đạt gần 44.000 tấn, tăng 10.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên theo nhận định từ thương nhân, sắn Lào năm nay có chất lượng rất kém, độ ẩm trên 18% nên hầu hết đưa về nhà máy cồn hoặc phải phơi lại trước khi bán về các nhà máy thức ăn chăn nuôi.

Tương tự, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 02/2019 cũng giảm rất mạnh khi chỉ đạt trên 134.000 tấn, giảm 80.000 tấn so với tháng 01 nhưng lại tăng 73,8% (tương đương gần 57.000 tấn) so với tháng 02/2018. Tính chung trong tháng 01 và tháng 02, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt 348.000 tấn, tăng 36.600 tấn so với cùng kỳ năm 2018, trong đó chủ yếu do tăng nguồn cung nhập khẩu sắn củ tươi từ Lào, lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Campuchia vẫn đạt tương đương so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, sang đến tháng 2, dù lượng hàng xuất sang thị trường Hàn Quốc tăng rất mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước nhưng do nhu cầu mua sắn lát từ phía Trung Quốc giảm mạnh khiến tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt khoảng 25.000 tấn, giảm 12.400 tấn so với tháng trước và thấp hơn tới 65.000 tấn so với tháng 2/2018.

Sang tháng 3, theo số liệu hải quan sơ bộ, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam đạt gần 55.000 tấn, tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới trên 100.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018. Đối với thị trường Trung Quốc, nhu cầu mua sắn lát từ các nhà máy cồn vẫn rất yếu, tuy nhiên hiện nay nhu cầu từ các nhà máy cám thủy sản lại có xu hướng tăng mạnh. Qua đó, sang tháng 03/2019, lượng sắn lát của Việt Nam xuất qua cửa khẩu Lào Cai đi các nhà máy cám cá tại khu vực miền Nam Trung Quốc tăng khá mạnh với tổng khối lượng đạt trên 16.000 tấn

Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt gần 120.000 tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 400.000 tấn của cùng kỳ năm 2018.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

156,163

37,709

-75.9

2

90,454

25,289

-72.0

3

158,534

54,721

-65.5

4

51,424

   

5

47,586

   

6

31,087

   

7

19,070

   

8

11,917

   

9

32,879

   

10

21,446

   

11

28,910

   

12

9,818

   

Tổng

659,288

117,719

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T3*/2019: số liệu sơ bộ)

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T3*/2019: số liệu sơ bộ)

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2019 (tấn)

Nước nhập

1

2

Tổng

China

36,625

12,594

49,219

Korea (Republic)

1,084

12,667

13,751

Malaysia

 

27

27

Tổng

37,709

25,289

62,998

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy trong tháng 2, do trùng với kỳ nghỉ tết Nguyên đán kéo dài, nhiều nhà máy chưa chạy lại khiến nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn giảm mạnh. Tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 2/2019 chỉ đạt trên 105.000 tấn, giảm gần 1 nửa so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn khoảng 30,3% so với cùng kỳ tháng 2 năm 2018.

Sang tháng 03, theo số liệu hải quan sơ bộ cho thấy khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 200.000 tấn, tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên chủ yếu là vào kho bên Trung Quốc chứ hàng đi thẳng nhà máy ít. Trong đó, lượng tinh bột sắn xuất khẩu qua kênh đường biển có xu hướng tăng do Trung Quốc xiết chặt nhập khẩu hàng hóa qua kênh biên mậu. Đồng thời, chi phí vận chuyển và một số chi phí phát sinh khác tăng mạnh khiến giá thành xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam qua kênh biên mậu tăng cao, do đó trở nên kém cạnh tranh hơn so với hàng hóa nhập khẩu theo đường biển.

Tính đến hết quý I/2019, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 510.000 tấn, tăng 7,5% (tương đương gần 36.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

222,883

210,385

-5.6

2

81,310

105,986

30.3

3

173,036

196,686

13.7

4

145,793

   

5

177,686

   

6

138,816

   

7

93,397

   

8

78,095

   

9

117,305

   

10

160,492

   

11

188,655

   

12

169,773

   

Tổng

1,747,239

513,057

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T3*: số liệu sơ bộ)

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T3*: số liệu sơ bộ)

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2019 (tấn)

Thị trường

1

2

Tổng

China

192,497

98,732

291,229

Malaysia

4,936

3,700

8,636

Philippines

6,078

1,158

7,236

Taiwan

2,709

2,028

4,737

Papua New Guinea

1,882

 

1,882

Khác

2,282

368

2,650

Tổng

210,385

105,986

316,371

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Tại khu vực miền Bắc, giá mì lát tăng trở lại do vãn vụ, lượng mì đưa về ít. Nguồn cung mì Lào gần như không còn, chỉ còn hàng tồn tại một số kho khu vực Vinh nên giá giao dịch tại Nghệ An trong nửa cuối tháng 3 đầu tháng 4 được đẩy tăng lên mức 4.600-4.650 đồng/kg, tức cao hơn từ 350-400 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tại Sơn La, giá kho mua vào đối với mì đủ điều kiện đi nhà máy cám cũng được điều chỉnh tăng 100 đồng/kg so với tháng trước, lên mức phổ biến từ 4.500-4.700 đồng/kg. Theo ước tính của thương nhân, tổng lượng sắn lát tồn kho khu vực miền Bắc còn khoảng trên dưới 25.000 tấn. Hiện nhà máy cồn khu vực Quảng Nam vẫn đang mua vào mì Lào với giá 5.050 về nhà máy. Do chất lượng mì Lào và mì Sơn La năm nay không ổn nên lượng hàng đủ tiêu chuẩn đi hàng cám không nhiều. Một số nhà máy cám cá khu vực miền Bắc đang cho giá 4.800-5.000 đồng/kg về nhà máy tuỳ phẩm cấp nhưng lượng mua được ít.

Tại Quy Nhơn, lượng mì lát từ Gia Lai đưa về vẫn duy trì quanh mức 2.000 tấn/ngày trong 2 tuần đầu tháng 3 và quay đầu giảm từ giữa tháng 3, đạt bình quân khoảng 1.500 xe/ngày, do đã vào cuối vụ. Một số đơn vị đã đóng kho ngừng mua hàng do lượng mì đưa về ít, chất lượng mì kém, đồng thời đầu ra xuất khẩu khó khăn. Hiện nay trên Gia Lai bắt đầu có mưa nhiều hơn nên hàng về chủ yếu là hàng kho bán ra, hàng mới gần như không có. Giá mua tại Quy Nhơn vẫn dao động từ 4.500-4.650 đồng/kg với hàng mì xô thường và giá từ 4.700-4.800 đồng/kg với hàng mì khô (đủ điều kiện xuất khẩu sang Hàn Quốc). Đối với hàng mì cám, giá các kho mua vào quanh mức 4.850-4.900 đồng/kg, tuy nhiên lượng mì đưa về kho Quy Nhơn rất ít, chỉ 2-3 xe/ngày do nhiều đơn vị/nhà máy cám lên gom hàng trực tại Gia Lai với giá tốt hơn, từ 4.600-4.900 đồng/kg tùy phẩm cấp khiến mì không có đưa về Quy Nhơn.

Tại cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát của tỉnh Tây Ninh, giá mì lát từ Campuchia đưa về được đẩy tăng mạnh trong tuần cuối tháng 2, đầu tháng 3 lên mức 4.900-5.000 đồng/kg với hàng mì vỏ và cao nhất 5.350 đồng/kg với hàng mì cục do nhu cầu mua vào của các nhà máy cám cá miền Tây tăng. Tuy nhiên, sang đến tuần giữa tháng 3, giá quay đầu giảm mạnh chỉ còn dao động từ 4.650-4.850 đồng/kg với hàng mì vỏ, trong đó trong đó giá 4.650-4.700 đồng/kg với hàng xá và 4.850 đồng/kg với hàng đóng bao. Đối với hàng mì cục, đầu giá mua vào vẫn ở mức 5.300 đồng/kg, tuy nhiên hàng đưa về chất lượng kém hơn nên giá giao dịch thực tế chỉ từ 5.000-5.200 đồng/kg. Nguyên nhân là do thời tiết bên Cam có mưa khiến mì đưa về chất lượng kém hơn, độ ẩm cao nên các kho mua vào hạn chế. Do chất lượng hàng đưa về kém nên các kho áp dụng mức trừ hao hụt lớn, lên tới 10% hoặc trừ 2-3 tấn/xe. Theo tin từ thương nhân cho biết, hiện nay các đơn vị đang đổ lên gom hàng mì cám từ Gia Lai với giá mua chỉ từ 4.600-4.900 đồng/kg loại rồi đưa trực tiếp về các nhà máy cám thủy sản tại miền Tây thay vì mua mì Cam do chất lượng hàng Gia Lai tốt hơn. Tại cửa khẩu Chàng Riệc, các kho đang tập trung mua hạt điều nên mì lát từ Cam đưa về rất ít, chỉ lai rai vài xe/ngày, thậm chí có ngày không có xe mì nào đưa về. Một số kho cũng đẩy hết hàng cũ ra bán để trữ điều nên lượng mì lát còn tồn bên Chàng Riệc rất ít, chỉ vài nghìn tấn. Tính đến cuối tháng 3, tổng lượng tồn kho tại khu vực Xa Mát còn khoảng 100.000 tấn, tuy nhiên trong đó có tới 60.000 tấn mì lát đã được ký hợp đồng giao về các nhà máy cám thủy sản, chỉ còn khoảng hơn 40.000 tấn là hàng lưu kho, chờ giá lên.

Tại Hoa Lư, lượng mì lát từ Cam đưa về đạt bình quân từ 500-700 tấn/ngày. Giá mua tại Hoa Lư dao động quanh mức 4.850-4.950 đồng/kg cho mì xô cứng và giá từ 5.000-5.300 đồng/kg với hàng mì cám và rớt cám.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu tại khu vực Quy Nhơn và Tây Ninh trong năm 2017-2019 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Trong tháng 3, giá sắn củ tươi tại Tây Ninh luôn được duy trì quanh mức 2.750-2.800 đồng/kg, áp dụng chung cho cả mì Cam lẫn mì nội vùng, giảm 50 đồng/kg so với mì nội địa nhưng lại tăng 50 đồng/kg đối với mì nhập khẩu từ Campuchia. Nguyên nhân là do nguồn cung mì nội khan hiếm nên các nhà máy phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn mì củ từ Campuchia đưa về. Tuy nhiên sang đến tuần đầu tháng 4, giá mua vào của các nhà máy có xu hướng giảm do đầu ra xuất khẩu tinh bột sắn gặp khó khăn, nhiều nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh phải tạm ngưng sản xuất do lượng tồn kho tinh bột tại nhà máy cũng như tại các cảng.cửa khẩu còn nhiều.

Trong khi đó tại khu vực Tây Nguyên, giá mì củ được điều chỉnh tăng/giảm liên tục trong tháng 3, dao động từ mức 2.400-2.500 đồng/kg trong nửa đầu tháng 3 và ngay sau đó, giá mì nguyên liệu về nhà máy khu vực Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc quay đầu giảm mạnh tới 100 đồng/kg, còn mức 2.300-2.350 đồng/kg do đầu ra xuất khẩu không thuận lợi, chất lượng mì cuối vụ kém hơn nên một số nhà máy có xu hướng ngưng mua vào. Tuy nhiên, vào tuần cuối tháng 3, giá mì nguyên liệu được điều chỉnh tăng mạnh lên mức 2.500-2.600 đồng/kg do nguồn cung mì đưa về giảm mạnh. Thu hoạch mì tại nhiều vùng trồng lớn khu vực Gia Lai, Phú Yên đã xong được khoảng 85%-90% nên nông dân cũng không vội nhổ mì đưa về nhà máy khi giá thấp khiến cho các nhà máy không có đủ nguyên liệu để chạy đủ 1 ca nên buộc phải nâng giá mua.

Tại khu vực miền Bắc, giá mì củ đưa về các nhà máy vẫn được giữ ổn định ở mức thiết lập từ tháng trước.Ttrong đó, tại khu vực Yên Bái, Sơn La giá mua vẫn duy trì mức 1.800 đồng/kg và tăng nhẹ 50 đồng/kg tại khu vực Thanh Hóa, Nghệ An lên mức 1.850-2.050 đồng/kg (giá mua xô). Hầu hết các nhà máy tinh bột sắn tại khu vực miền Bắc đã nghỉ bảo dưỡng kể từ cuối tháng 3, chỉ có duy nhất 01 nhà máy tinh bột sắn tại Sơn La còn chạy lai rai và dự kiến sẽ nghỉ vào tuần cuối tháng 4.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018-2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 02/2019 quay đầu giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng ½ so với tháng 02/2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, trong tháng 02/2019,  nhập khẩu sắn lát của nước này đạt khoảng 300 nghìn tấn, giảm 70.000 tấn so với tháng trước và giảm tới 50% so với tháng 02/2018. Tính chung trong 2 tháng đầu năm nay, tổng lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu chỉ đạt 670 nghìn tấn, trong khi con số của cùng kỳ năm 2018 lên tới 1,35 triệu tấn.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

10

320.0

 

 

11

270.0

 

 

12

270.0

 

 

2019

1

370.0

 

 

2

300.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 02/2019 tiếp tục tăng mạnh so với tháng trước

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan cho thấy, trong tháng 02/2019, xuất khẩu sắn lát của nước này đạt trên 297,4 nghìn tấn, tăng 32,4 nghìn tấn so với tháng trước nhưng lại giảm tới 184,3 nghìn tấn so với cùng kỳ tháng 2/2018 do nhu cầu mua từ phía Trung Quốc vẫn khá yếu. Các doanh nghiệp nhập khẩu vẫn mua khá dè chừng trong bối cảnh giá cồn nội địa tiếp tục giảm. Tính chung trong 2 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan mới chỉ đạt trên 562,4 nghìn tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 1,16 triệu tấn của cùng kỳ năm 2018.

Tương tự đối với tinh bột sắn, sản lượng xuất khẩu của Thái Lan trong tháng 02/2019 cũng tiếp tục tăng mạnh, đạt trên 351,5 nghìn tấn, tăng 19,9% (tương đương tầm 58,3 nghìn tấn) so với tháng trước, đồng thời tăng khoảng 74,3 nghìn tấn so với tháng 02/2018. Tính chung trong tháng 01 và tháng 02 năm 2019, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 644,7 nghìn tấn, tăng 112,5 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trên 350 nghìn tấn, chiếm khoảng 54,3% tổng thị phần xuất khẩu tinh bột của Thái Lan trong 2 tháng đầu năm.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

10

279.0

311.3

11

270.2

281.9

12

209.1

231.9

2019

1

265.0

293.2

2

297.4

351.5

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Sang tháng 3/2019, giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan tiếp tục duy trì xu hướng tăng nhẹ. Trong đó, giá chào xuất khẩu sắn lát của Thái Lan được điều chỉnh tăng lên mức 220-225 USD/tấn FOB vào tuần cuối tháng 3 đầu tháng 4, tăng 5 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước, tuy nhiên vẫn thấp hơn tới 35 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2018.

Tương tự đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan vẫn nối dài đà tăng kể từ cuối tháng 12/2018, lên mức 455-465 USD/tấn FOB vào tuần cuối tháng 3, tăng 15 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước nhưng giảm tới 80 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2017-2019 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đối với sắn lát, nhu cầu hỏi mua từ Trung Quốc đối với hàng mì cám dùng cho thức ăn thủy sản có xu hướng tăng mạnh, trong khi đó nhu cầu đối với hàng mì xô cồn vẫn rất yếu do giá cồn tại Trung Quốc vẫn duy trì đà giảm mạnh, đặc biệt sau thông tin Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu cồn Mỹ xuống còn 5% thay vì mức 70% như hiện nay. Qua đó, giá sắn lát xuất khẩu của Việt Nam và Thái Lan sang thị trường Trung Quốc có thể sẽ bị ảnh hưởng. Theo ước tính của AgroMonitor, tổng lượng tồn kho sắn lát vụ mới của Việt Nam tính đến cuối tháng 3/2019 chỉ đạt khoảng 400.000 tấn, thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, lượng sắn lát dự kiến dùng cho các nhà máy sản xuất cám và ethanol chiếm khoảng 300.000 tấn, thì tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của cả năm 2019 sẽ không thể vượt qua được con số 300.000 tấn.

Đối với tinh bột sắn, xuất khẩu qua kênh biên mậu sẽ không còn là lợi thế đối với Việt Nam sau ngày 01/04/2019 khi Trung Quốc giảm thuế VAT với hàng hóa nhập khẩu chính ngạch thêm 3%, từ mức 16% hiện nay xuống còn 13%. Qua đó, các doanh nghiệp có hàng đưa lên các cửa khẩu thuộc khu vực Lạng Sơn và Móng Cái có thể phải chuyển hướng hoặc chấp nhận bán giá thấp hơn để giải phóng hàng do giá thành hàng hóa đưa về các nhà máy tại Trung Quốc nhập qua kênh biên mậu hiện cao hơn khá nhiều so với hàng nhập theo kênh đường biển. Phía Trung Quốc ưu tiên chuyển qua mua đường biển nhiều hơn.