Toàn cảnh thị trường sắn tháng 3/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong quý 1 năm 2018 giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm trước

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường sắn tháng 3/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong quý 1 năm 2018 giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm trước

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 03/2018

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến giữa 03/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 104,8 nghìn ha, giảm 7,5% so với cùng kỳ tháng 3 năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 03/2018 giảm mạnh khi chỉ đạt con số hơn 46 nghìn tấn, giảm 64,3% so với tháng 2 và giảm tới 86,1% so với cùng kỳ năm 2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 03/2018 đạt gần 89.000 tấn, tăng 15,1% so với tháng trước nhưng lại giảm tới 64,3% so với tháng 3/2017.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 03/2018, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam chỉ đạt 340,2 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 117,7 triệu USD, tăng 93,5% về lượng và tăng tới 119,1% về giá trị so với tháng trước, tuy nhiên lại giảm tới 37,3% so với tháng 3 năm 2017.

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 3/2018 đạt trên 158,5 nghìn tấn, tăng 75,3% so với tháng 2 nhưng vẫn thấp hơn khoảng 88.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 03/2018 đạt trên 173 nghìn tấn, tăng 113% so với tháng 2 nhưng vẫn thấp hơn khoảng 39% so với tháng 3/2017.

Giá cả

1. Sắn lát

Giá sắn lát giao dịch nội địa có xu hướng chững lại, thậm chí quay đầu giảm nhẹ ở một số vùng khi nhu cầu mua hàng từ phía Trung Quốc chậm hơn do giá cồn tại nước này liên tục giảm kể từ tháng 01/2018 trở lại đây. Tính đến đầu tháng 4, giá sắn lát đưa về kho tại các vùng cụ thể như sau:

- Tại Sơn La, giá sắn lát ổn định ở mức 3.900 đồng/kg cho sắn đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%) và giá 4.450-4.500 đồng/kg đối với mì cám.

- Tại Tây Ninh, giá mì lát đưa về Chàng Riệc và Xa Mát quay đầu giảm nhẹ từ 40-70 đồng/kg, còn dao động từ 5.050-5.250 đồng/kg với mì xô thường và giá từ 5.300-5.350 đồng/kg với hàng mì cám trong tuần đầu tháng 4 do ra xuất khẩu gặp khó khăn.

- Tại Hoa Lư (Bình Phước), giá mì xô mua tại Hoa Lư giảm còn quanh mức 5.250-5.300 đồng/kg, trong khi đó giá mì cám vẫn duy trì ổn định ở mức 5.400 đồng/kg.

- Tại Quy Nhơn, giá mì lát đưa về các kho tại Quy Nhơn dao động quang mức 5.050-5.350 đồng/kg do giá sắn lát xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc quay đầu giảm. Đối với hàng mì cám, giá mua vào cao nhất từ 5.500-5.600 đồng/kg, tuy nhiên gần như không có hàng đưa về.

2. Sắn củ tươi: Tình trạng khan hiếm nguyên liệu kéo dài, đồng thời phải cạnh tranh với giá sắn lát khiến giá sắn củ đưa về các nhà máy tinh bột sắn tại các vùng tiếp tục duy trì ở mức cao. Cụ thể, tính đến đầu tháng 4/2018 giá mì tại các vùng cụ thể như sau:

- Tại Tây Ninh, giá mua vào đối với mì nguyên liệu của các nhà máy tăng lên mức phổ biến từ 3.150-3.350 đồng/kg, tăng từ 50-150 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước do nguồn cung khan hiếm.;

- Tại khu vực Tây Nguyên, giá mua vào của các nhà máy giữ ổn định từ 2.600-2.900 đồng/kg;

- Tại Sơn La, giá sắn củ đưa về nhà máy tăng 100 đồng/kg so với tháng trước, lên mức phổ biến từ 2.150-2.300 đồng/kg.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 03/2018 tăng trở lại so với tháng trước nhưng lại giảm khá mạnh so với tháng 3 năm 2017;

2. Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 03/2018 tăng nhẹ so với tháng 2 nhưng giảm gần 1/3 so với lượng xuất khẩu của cùng kỳ năm 2017.

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến hết tháng 15/03/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 104,8 nghìn ha, giảm 7,5%% so với cùng kỳ tháng 3 năm 2017. Các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc do đã kết thúc thu hoạch sắn vụ Đông Xuân từ tháng 2 và đang tập trung trồng tiếp sắn vụ mới nên diện tích sắn trồng mới trong tháng 3 tăng rất mạnh từ mức 4,1 nghìn ha trong tháng 2 lên mức 9,7 nghìn ha tính đến ngày 15/3, tăng gấp 2,4 lần so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong khi đó, khu vực Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có mức suy giảm rất lớn, lên tới 40,3% và 45,4% so với cùng kỳ năm trước do sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng do giá sắn giảm sâu trong năm 2016 và 2017.

Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vẫn đang thu hoạch sắn vụ cũ, cộng với thời tiết nắng nóng chưa thuận lợi nên diện tích trồng mới còn khá thấp và chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

Tỉnh Tây Ninh vẫn đang dẫn đầu cả nước về tổng diện tích sắn gieo trồng mới tính đến ngày 15/03/2018, tăng 23,5% so với tháng 2 và tăng nhẹ 3,3% so với cùng kỳ tháng 3 năm 2017. Theo tin từ các thương nhân cho biết, mặc dù trước đó sắn vụ Đông Xuân bị nhiễm rệp sáp trắng rất nhiều gây xoăn lá trên diện rộng nhưng hiện nay những diện tích này lại đang phát triển rất tốt, hứa hẹn một vụ sắn với năng suất cao. Dự kiến, sang đến tháng 7, thu hoạc sắn vụ Đông Xuân tại Tây Ninh sẽ bắt đầu.

Ngoài ra, theo tin AgroMonitor tổng hợp từ phía Campuchia cũng như các thương nhân cho biết, diện tích trồng sắn mới tại Campuchia trong năm 2018 có xu hướng tăng rất mạnh, thậm chí có vùng người dân đã tăng gấp đôi diện tích trồng so với năm ngoái do giá sắn tăng mạnh kể từ nửa cuối năm 2017 đến nay. Do đó, nhu cầu mua hom sắn giống của Campuchia từ Việt Nam cũng đang rất lớn.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/03/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/03/2018

30.1

74.7

104.8

15/03/2017

41.1

72.2

113.3

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-26.8

3.5

-7.5

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/03/2018 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi và sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 03/2018 do nguồn cung mì bên Cam sắp cạn

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát và sắn củ tươi của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 03/2018 khi chỉ đạt tổng cộng trên 135.000 tấn. Trong đó, khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu đạt 89 nghìn tấn, tăng 15,1% so với tháng trước nhưng lại giảm tới 64,3% (tương đương tầm 84.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt hơn 400 nghìn tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 660 nghìn tấn của cùng kỳ năm 2017.

Tương tự, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam từ Lào và Campuchia trong tháng 3/2018 chỉ đạt trên 46  nghìn tấn, giảm 64,3% so với tháng 2 và giảm tới 86,1% (tương đương tầm 287  nghìn tấn) so với tháng 3 năm 2017. Tính đến hết quý I năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam mới đạt trên 416 nghìn tấn, giảm tới 53,2% (tức giảm khoảng 470 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân là do sản lượng sắn củ bên phía Campuchia năm nay giảm mạnh, cộng với lực hút mì mạnh từ phía Thái Lan khiến sản lượng sắn củ tươi và sắn lát từ Campuchia đưa về Việt Nam niên vụ 2017/2018 có sự sụt giảm khá nghiêm trọng. Dự kiến, thu hoạch sắn bên phía Campuchia sẽ kết thúc vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 tới nên lượng mì đưa về Việt Nam sẽ tiếp tục giảm mạnh.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 03/2018 tăng mạnh trở lại so với tháng trước

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 3/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam tăng mạnh trở lại khi đạt trên 158,5 nghìn tấn, tăng tới 75,3% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 88.000 tấn so với tháng 3/2017.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

   

5

108,714

   

6

114,141

   

7

133,659

   

8

133,917

   

9

109,356

   

10

108,800

   

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

405,152

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ sắn lát lớn nhất của Việt Nam trong tháng 3 với hơn 145 nghìn tấn, tăng 62% so với tháng trước, qua đó đưa tổng khối lượng sắn lát xuất sang thị trường này tính đến hết quý 1 năm 2018 đạt 389,5 nghìn tấn, thấp hơn  khoảng 50.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017. Điều đáng chú ý nhất là lượng sắn lát xuất khẩu sang Hàn Quốc đã tăng đột biến từ 800 tấn của tháng 2 lên tới 13.000 tấn trong tháng 3, tức tăng gấp 16 lần.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước nhập

1

2

3

Tổng

China

154,538

89,646

145,315

389,498

Korea (Republic)

1,626

808

13,000

15,434

Malaysia

   

220

220

Tổng

156,163

90,454

158,534

405,152

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 03/2018 cao gấp 2 lần so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn tăng mạnh từ cả thị trường Trung Quốc và ngoài Trung Quốc

Có cùng xu hướng với sắn lát, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 03/2018 cũng tăng mạnh trở lại khi đạt tới hơn 173 nghìn tấn, tăng tới 113% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 39% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 477 nghìn tấn, giảm 27,1%, (tương đương gần 180 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

   

5

142,321

   

6

174,329

   

7

145,658

   

8

150,812

   

9

200,310

   

10

182,561

   

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

477,229

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam tính đến hết tháng 03/2018 khi đạt trên 150 nghìn tấn, tăng tới 118,5% so với tháng 2. Tại các thị trường truyền thống khác như Indonesia, Philippines, Malaysia và Đài Loan cũng đều cho thấy sự tăng trưởng khá mạnh mẽ về nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn của Việt Nam, trong đó đáng chú ý nhất là thị trường Philippines với mức tăng lên tới 349,7% so với tháng trước. Tuy nhiên, nếu tính chung trong quý 1 năm 2018 thì có tới 4 thị trường thuộc Top 5 nước nhập khẩu lớn nhất đều bị sụt giảm khá mạnh về nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Trung Quốc giảm 26,6%, Philippines giảm 35,7%, Đài Loan giảm 25,1% và Malaysia giảm tới 57,9%.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

1

2

3

Tổng

China

198,318

68,803

150,349

417,470

Indonesia

4,883

4,503

7,000

16,386

Philippines

5,554

1,292

5,810

12,656

Malaysia

3,413

1,540

2,570

7,523

Taiwan

3,264

2,105

4,168

9,537

Pakistan

1,680

625

1,475

3,780

Chile

609

799

 

1,407

Singapore

1,261

341

198

1,800

India

1,216

   

1,216

HongKong

     

0

Khác

2,685

1,302

1,466

5,453

Tổng

222,883

81,310

173,036

477,229

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Giá mì lát giao dịch nội địa quay đầu giảm do xuất khẩu khó khăn

Giá sắn lát giao dịch nội địa có xu hướng chững lại, thậm chí quay đầu giảm nhẹ ở một số vùng khi nhu cầu mua hàng từ phía Trung Quốc chậm hơn do giá cồn tại nước này liên tục giảm kể từ tháng 01/2018 trở lại đây. Tính đến đầu tháng 4, giá sắn lát đưa về kho tại các vùng cụ thể như sau:

Tại Sơn La, giá mì xô cồn (độ ẩm trên 17%, xuất đi Trung Quốc) vẫn ổn định ở mức 3.900 đồng/kg, tuy nhiên lượng giao dịch rất ít do tồn khô không đáng kể. Tương tự, giá mì đủ điều kiện đưa về các nhà máy cám cũng vẫn được mua ở mức 4.450-4.500 đồng/kg (đã được thiết lập từ tuần đầu tháng 3).

Tại cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát (Tây Ninh), lượng mì lát từ Cam đưa về tiếp tục xu hướng giảm mạnh do vụ sắn tại Campuchia sắp kết thúc, đồng thời giá mì củ đang rất tốt nên người dân Campuchia cũng muốn bán mì củ nhiều hơn thay vì phơi mì lát. Tuy nhiên, xuất khẩu khó khăn khiến nhu cầu mua vào của các kho chững lại, chỉ còn một số đơn vị lớn có đơn hàng sắp xuất khẩu vẫn mở cửa mua hàng, trong khi những kho nhỏ đã ngừng mua mì và chuyển qua thu mua điều khiến giá mì lát đưa về Chàng Riệc và Xa Mát quay đầu giảm nhẹ từ 40-70 đồng/kg, còn dao động từ 5.050-5.250 đồng/kg với mì xô thường và giá từ 5.300-5.350 đồng/kg với hàng mì cám trong tuần đầu tháng 4.

Tại khu vực Hoa Lư (Bình Phước), giá mua vào của các kho tiếp tục xu hướng tăng mạnh trong 3 tuần đầu tháng 3 với mức tăng từ 150-200 đồng/kg, lên mức cao nhất 5.300-5.350 đồng/kg. Tuy nhiên, sang đến tuần cuối tháng 3, giá mua quay đầu giảm do xuất khẩu gặp khó khăn. Theo đó, giá mì xô mua tại Hoa Lư giảm còn quanh mức 5.250-5.300 đồng/kg, trong khi đó giá mì cám vẫn duy trì ổn định ở mức 5.400 đồng/kg.

Có cùng xu hướng, giá mua mì lát của các kho tại khu vực Quy Nhơn cũng tăng khá mạnh trong 3 tuần đầu tháng 3 do các doanh nghiệp lo ngại nguồn cung mì sẽ hết sớm. Cụ thể, giá mì xô thường đưa về kho Quy Nhơn được mua cao nhất là 5.200-5.450 đồng/kg, tăng từ 300-430 đồng/kg chỉ trong 3 tuần, tuy nhiên sang đến tuần cuối tháng 3, các kho phải điều chỉnh giá mua giảm trở lại, còn dao động quang mức 5.050-5.350 đồng/kg do giá sắn lát xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc quay đầu giảm. Đối với hàng mì cám, giá mua vào cao nhất từ 5.500-5.600 đồng/kg, tuy nhiên gần như không có hàng đưa về.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016 -2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

 Giá mì củ tiếp tục tăng do nguồn cung khan hiếm

Tình trạng khan hiếm nguyên liệu kéo dài, đồng thời phải cạnh tranh với giá sắn lát khiến giá sắn củ đưa về các nhà máy tinh bột sắn tại các vùng tiếp tục duy trì ở mức giá cao.

Tại Tây Ninh, tính đến tuần đầu tháng 4, giá mua vào đối với mì nguyên liệu của các nhà máy tăng lên mức phổ biến từ 3.150-3.350 đồng/kg, tăng từ 50-150 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước do nguồn cung khan hiếm.

Tại khu vực Tây Nguyên, thời tiết vẫn khá âm u, không thuận lợi cho việc phơi mì lát. Do đó, mì củ được đưa về các nhà máy tinh bột sắn nhiều hơn. Giá thu mua mì củ vẫn giữ ổn định ở mức giá từ 2.600-2.900 đồng/kg tùy nhà máy và khoảng cách xa gần.

Tại miền Bắc, nguồn cung mì tiếp tục giảm mạnh khiến giá mì đưa về các nhà máy tinh bột được điều chỉnh tăng lên mức phổ biến từ 2.150-2.300 đồng/kg vào tuần cuối tháng 3 đầu tháng 4, cao hơn 100 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 03/2018 tăng trở lại so với tháng trước nhưng lại giảm khá mạnh so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 3/2018 Trung Quốc đã nhập khẩu lượng sắn lát đạt khoảng 750 nghìn tấn, tăng 25% (tương đương mức tăng tầm 150 nghìn tấn) so với tháng 2 nhưng lại giảm tới 23,6% so với tháng 3 năm 2017. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc đã nhập khẩu trên 2,1 triệu tấn sắn lát với giá trị nhập khẩu đạt trên 463 triệu USD, giảm 56 nghìn tấn so với quý 1 năm 2017. Trong đó, lượng sắn lát nhập khẩu từ Thái Lan chiếm tới 1,67 triệu tấn và chỉ có khoảng 390 nghìn tấn sắn lát được nhập khẩu từ Việt Nam. Giá sắn lát của Thái Lan rẻ hơn tương đối so với Việt Nam khiến cho các nhà nhập khẩu Trung Quốc đẩy mạnh nhập từ thị trường này dẫn tới nhu cầu mua từ Việt Nam chậm.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2015-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 03/2018 tăng nhẹ so với tháng trước nhưng giảm tới gần 1/3 so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan trong tháng 3/2018 nước này đã xuất khẩu lượng sắn lát đạt 504 nghìn tấn và tất cả đều được xuất sang thị trường Trung Quốc, tăng nhẹ 4,6% so với tháng 2 nhưng giảm tới 27,9% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2018, tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan chỉ đạt gần 1,67 triệu tấn, giảm 10,9% (tưng đương giảm khoảng 205 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Có cùng xu hướng với sắn lát, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 3/2018 cũng tăng nhẹ so với tháng trước khi đạt trên 288 nghìn tấn, đưa tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan trong quý I năm 2018 đạt con số 820,4 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, lượng tinh bột xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất với 444 nghìn tấn, tức khoảng 54,1%, tiếp đến là Đài Loan chiếm 9,9% và Indonesia đứng ở vị trí thứ 3, chiếm 8,4% tổng thị phần.

Bảng 7: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2015-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2015

1

564.2

259.4

2

809.0

276.5

3

721.7

333.8

4

665.1

234.8

5

1071.4

281.0

6

692.0

227.1

7

641.3

160.5

8

299.1

185.9

9

253.2

188.7

10

559.8

216.4

11

367.4

259.1

12

615.7

263.8

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát nội địa tăng cao đẩy giá chào xuất khẩu sắn lát của Thái Lan sang thị trường Trung Quốc tiếp tục xu hướng tăng mạnh và đạt mức cao nhất là 260 USD/tấn FOB vào tuần cuối tháng 3. Tuy nhiên, sang tháng 4, giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan lại quay đầu giảm khá mạnh tới 10 USD/tấn do đầu ra xuất khẩu gặp khó khăn trong bối cảnh giá cồn tại Trung Quốc không ngừng lao dốc.

Có cùng xu hướng, giá tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan cũng liên tục được điều chỉnh tăng, lên mức cao nhất là 545 USD/tấn FOB vào tuần đầu tháng 4/2018 do giá tinh bột nội địa tăng mạnh, cao hơn khoảng 50 USD/tấn so với tháng trước và tăng tới 215 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Giá cồn từ sắn tại Trung Quốc tiếp tục giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ cồn tại thị trường nội địa suy yếu. Nhu cầu mua sắn lát từ thị trường Trung Quốc chậm lại khiến giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan và Việt Nam quay đầu giảm kể từ tuần đầu tháng 4. Các giao dịch sắn lát được nhận định sẽ tiếp tục duy trì trạng thái ảm đạm đến hết quý 2 năm 2018 do Trung Quốc bắt đầu bước vào mùa nắng nóng cao điểm, nhu cầu tiêu thụ cồn các loại đạt thấp. Ngoài ra, nhiều nhà máy cồn trong nước và tại Trung Quốc đã tính đến phương án sử dụng các nguyên liệu thay thế khác như ngô hay lúa miến có giá thành rẻ hơn so với sắn lát cũng là nguyên nhân khiến giá sắn lát xuất khẩu khó tăng mạnh, mặc dù lượng tồn kho nội địa rất mỏng.

Đối với tinh bột sắn, mặc dù giá chào xuất khẩu của Việt Nam đã được đẩy tăng theo đà tăng của Thái Lan nhưng phía các nhà nhập khẩu Trung Quốc chưa đồng ý với mức giá mới do giá xuất khẩu của Việt Nam tăng quá nhanh, trong khi đó thị trường vẫn thiếu những trợ lực tích cực, nhất là khi thị trường Trung Quốc đang bước vào mùa tiêu thụ thấp điểm nhất trong năm. Theo nhận định, tình hình trầm lắng của thị trường sẽ còn tiếp diễn trong 2-3 tháng nữa.