Toàn cảnh thị trường sắn tháng 10/2018 - Nhập khẩu sắn củ tươi từ Campuchia tăng mạnh
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 10/2018 - Nhập khẩu sắn củ tươi từ Campuchia tăng mạnh

 

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 10/2018

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/10/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 487,7 nghìn ha, tăng 1% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ 4,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 10/2018 chỉ đạt 1000 tấn, tăng gấp đôi so với tháng 9 nhưng giảm 200 tấn so với tháng 10/2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 10/2018 tiếp tục tăng mạnh, đạt 192.000 tấn, tăng 68.000 tấn so với tháng trước và tăng trên 33.800 tấn so với cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 10/2018 đạt 182,1 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt 86,5 triệu USD, tăng 21,2% về lượng và tăng 32,5% về giá trị so với tháng trước, tuy nhiên lại giảm tới 36,9% về lượng so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 10 đầu năm 2018, Việt Nam đã xuất khẩu trên 2 triệu tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, thu về lượng kim ngạch đạt trên 785,3 triệu USD, giảm 34,4% về sản lượng nhưng chỉ giảm 2,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu sắn tăng cao. Trong đó:

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 10/2018 , xuất khẩu sắn lát của Việt Nam quay đầu giảm khi tổng khối lượng xuất khẩu chỉ đạt trên 21 nghìn tấn, giảm 11.400 tấn so với tháng 9 nhưng giảm tới 80,3% (tương đương khoảng 87.000 tấn) so với tháng 10/2017.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 10/2018 đạt trên 160.000 tấn, tăng 36,8% (tương đương khoảng 43.000 tấn) so với tháng 9 nhưng giảm 12,1% so với tháng 10/2017.

Giá cả

1. Sắn lát

Các đơn vị còn hàng cồn chờ xuất đi Trung Quốc đang bán nội địa khá tốt cho các nhà máy cồn nội địa và nhà máy cám cá khu vực miền Tây với giá từ 5.450-5.550 đồng/kg tại kho khu vực Quy Nhơn và Bình Phước. Do giá cám gạo tăng cao, hiện đã lên mức 5.800-6.000 đồng/kg tại nhà kho khu vực ĐBSCL, cộng thêm giá lúa mì tăng cao do lượng lúa mì về Việt Nam trong tháng 11 và tháng 12 giảm mạnh nên các nhà máy cám thủy sản đang đẩy mạnh mua mì cám hoặc mì xô đẹp để sản xuất.

Tại miền Trung, nhà máy cồn Dung Quất đã bắt đầu chạy lại nên đang mua vào sắn lát. Trong khi đó, do giá cám gạo, lúa mì cao nên các nhà máy cám cá miền Tây Nguyên sang mua sắn lát nhiều hơn để thay thế.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, giá mì củ đưa về nhà máy giảm từ 200-400 đồng/kg so với tháng trước, còn mức phổ biến từ 2.900-3.300 đồng/kg do nguồn cung mì nhập khẩu tăng cao và đầu ra xuất khẩu khó khăn

- Tại khu vực Tây Nguyên, giá nguyên liệu vẫn giữ quanh mức 3.000 đồng/kg cho mì 30 trữ độ bột nhưng do chất lượng mì kém nên các nhà máy áp dụng mức trừ hao hụt khá cao, từ 7-8% và trừ lui 100 đồng/kg cho mỗi độ bột thấp hơn.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 10/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng thấp hơn 200.000 tấn so với tháng 10/2017

2. Trung Quốc tìm cách nhập khẩu cồn Mỹ thông qua Indonesia và Malaysia;

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 10/2018 đều tăng nhẹ so với tháng trước.

 

 

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Diện tích sắn cả nước theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT tính đến ngày 15/10/2018 đạt 487,8 nghìn ha, tăng nhẹ 1% so với tháng trước nhưng giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, diện tích mì trồng mới tập trung chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, các khu vực khác không tăng hoặc tăng rất ít do đang trong thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ và trồng hoa màu vụ đông.

Tính đến ngày 15/10/2018, Gia Lai vẫn là địa phương có diện tích sắn trồng mới lớn nhất cả nước, đạt 64.000 ha. Tây Ninh đứng ở vị trí thứ 2 với gần 53.000 ha, tăng 5,2% so với tháng 9 và tăng tới 7% so với cùng kỳ năm 2017.

Năm nay, mùa mưa tại Tây Ninh kết thúc sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm. Do đó, tính đến cuối tháng 10, bà con nông dân đã bắt đầu làm đất và tranh thủ xuống giống mì tại một số vùng đất gò cao khi độ ẩm phù hợp. Năm nay, nguồn cung hom sắn giống tại Tây Ninh trở nên khan hiếm do ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự bùng phát của dịch khảm lá sắn, theo đó giá hom sắn giống tại Tây Ninh hiện cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ hàng năm, lên mức 30.000-50.000 đồng/bó tùy giống và chất lượng hom. Cũng do sự khan hiếm về nguồn cung hom giống nên người nông dân vẫn thu gom cây sắn nhiễm bệnh sử dụng làm giống cho vụ tới khiến tình hình dịch bệnh lây lan nghiêm trọng hơn.

Tại Tây Ninh năm nay mùa mưa kết thúc sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, do đó tính đến thời điểm cuối tháng 10 bà con nông dân đã bắt đầu làm đất và tranh thủ xuống giống mì tại một số vùng đất gò cao khi độ ẩm phù hợp.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/10/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/10/2018

154.5

333.3

487.8

15/09/2018

154.5

328.6

483.1

15/10/2017

170.0

339.1

509.1

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.0

1.4

1.0

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-9.1

-1.7

-4.2

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/10/2018 (ha)

 

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 10/2018 tiếp tục tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 10/2018 đạt 1.000 tấn, tăng gấp đôi so với tháng 9 và giảm 200 tấn so với cùng kỳ tháng 10/2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt 439,6 nghìn tấn, giảm 61,3% (tương dường giảm khoảng 698 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam vẫn tiếp tục xu hướng tăng mạnh trong tháng 10 khi đạt gần 192.000 tấn, tăng 68.000 tấn so với tháng 9 và tăng trên 33.800 tấn so với tháng 10 năm 2017. Tính từ 01/01-31/10/2018, sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt gần 900 nghìn tấn, giảm tới 33% (tương đương khoảng 442.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 10/2018 giảm trên 10.000 tấn so với tháng trước và giảm tới 80,3% so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 10/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam quay đầu giảm khi tổng khối lượng xuất khẩu chỉ đạt trên 21 nghìn tấn, giảm 11.400 tấn so với tháng 9 nhưng giảm tới 80,3% (tương đương khoảng 87.000 tấn) so với tháng 10/2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam chỉ đạt trên 620 nghìn tấn, giảm tới 50,2% (tức thấp hơn khoảng 625.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2017.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

51,424

-38.8

5

108,714

47,586

-56.2

6

114,141

31,087

-72.8

7

133,659

19,070

-85.7

8

133,917

11,917

-91.1

9

109,356

32,879

-69.9

10

108,800

21,446

-80.3

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

620,560

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Sang tháng 10, nhu cầu mua sắn lát của Trung Quốc từ Việt Nam quay đầu giảm, chỉ đạt trên 17.200 tấn, giảm 15.400 tấn so với tháng 9 và giảm tới 91.300 tấn so với tháng 10/2017. Tổng khối lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt trên 558 nghìn tấn, giảm 53% (tương đương giảm khoảng 630 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Lượng sắn lát xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc tăng trở lại trong tháng 10 khi đạt trên 4.200 tấn, đưa tổng khối lượng sắn lát xuất sang thị trường này tính đến hết tháng 10 đạt con số 62.200 tấn, tăng 8.200 tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước nhập

6

7

8

9

10

Tổng

China

29,347

4,677

5,917

32,618

17,205

558,113

Korea (Republic)

1,740

14,393

6,000

261

4,241

62,227

Malaysia

         

220

Tổng

31,087

19,070

11,917

32,879

21,446

620,560

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 10/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng thấp hơn 20.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017

Dù tình hình xuất khẩu khá trầm lắng trong tháng 10 nhưng do có nhiều đơn hàng ký trước đến hạn phải giao nên tổng khối lượng tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 10 vẫn đạt ở mức cao. Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 10/2018 đạt trên 160.000 tấn, tăng 36,8% (tương đương khoảng 43.000 tấn) so với tháng 9 nhưng giảm 12,1% so với tháng 10/2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 1,39 triệu tấn, thấp hơn 440.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

145,793

-18.0

5

142,321

177,686

24.8

6

174,329

138,816

-20.4

7

145,658

93,397

-35.9

8

150,812

78,095

-48.2

9

200,310

117,305

-41.4

10

182,561

160,492

-12.1

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

1,388,812

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam tính đến tháng 10/2018 với lượng nhập khẩu đạt 148,7 nghìn tấn, chiếm 92,7%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 1,24 triệu tấn tinh bột sắn từ Việt Nam, chiếm 89,5% tổng thị phần. Tuy nhiên, lượng tinh bột sắn nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm tới 22,8% so với cùng kỳ năm trước (tương đương gần 370 nghìn tấn) do nguồn cung tinh bột ngô nội địa dồi dào hơn sau khi Trung Quốc bán ra hơn 120 triệu tấn ngô từ kho dự trữ của chính phủ. Ngoài ra, những ảnh hưởng của chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc với Hoa kỳ khiến đồng nhân dân tệ mất giá mạnh so với đô la Mỹ, hàng hóa nhập khẩu về Trung Quốc trở nên đắt đỏ hơn cũng phần nào tác động làm giảm nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu của các doanh nghiệp tại Trung Quốc.

Nhu cầu từ các thị trường ngoài Trung Quốc như Philippines, Malaysia, Indonesia và Đài Loan cũng suy giảm khá mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm lần lượt là 44,8%, 35,6%, 29,7% và 24,7%.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

6

7

8

9

10

Tổng

China

127,228

81,722

70,542

110,530

148,705

1,242,635

Indonesia

1,676

2,916

1,938

1,786

38

27,742

Malaysia

1,854

1,635

936

1,212

3,408

27,467

Philippines

1,606

801

782

627

2,681

25,127

Taiwan

1,525

422

390

2,155

2,227

24,090

Pakistan

1,796

1,754

 

68

53

11,788

Chile

1,537

978

272

102

1,197

6,070

Korea (Republic)

374

1,711

546

224

683

4,308

Papua New Guinea

190

595

1,130

   

3,120

Lithuania

532

93

189

235

216

2,483

USA

103

263

235

18

121

2,343

South Africa

 

171

356

38

405

2,024

Singapore

36

 

36

72

 

1,983

Bangladesh

76

38

114

94

304

1,280

India

         

1,216

UAE

 

38

190

   

1,180

Khác

283

259

438

144

455

3,955

Tổng

138,816

93,397

78,095

117,305

160,492

1,388,812

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Đối với sắn lát, các đơn vị còn hàng cồn chờ xuất đi Trung Quốc đang bán nội địa khá tốt cho các nhà máy cồn nội địa và nhà máy cám cá khu vực miền Tây với giá từ 5.450-5.550 đồng/kg tại kho khu vực Quy Nhơn và Bình Phước. Do giá cám gạo tăng cao, hiện đã lên mức 5.800-6.000 đồng/kg tại nhà kho khu vực ĐBSCL, cộng thêm giá lúa mì tăng cao do lượng lúa mì về Việt Nam trong tháng 11 và tháng 12 giảm mạnh nên các nhà máy cám thủy sản đang đẩy mạnh mua mì cám hoặc mì xô đẹp để sản xuất.

Tại miền Trung, nhà máy cồn Dung Quất đã bắt đầu chạy lại nên đang mua vào sắn lát. Trong khi đó, do giá cám gạo, lúa mì cao nên các nhà máy cám cá miền Tây Nguyên sang mua sắn lát nhiều hơn để thay thế.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016-2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Tại Tây Ninh, nguồn cung mì nhập khẩu tăng mạnh, cộng thêm đầu ra xuất khẩu khó khăn khiến giá mì củ đưa về các nhà máy tinh bột sắn quay đầu giảm, còn dao động từ 3.200-3.300 đồng/kg với mì nội vùng và giá mì Cam từ 2.900-3.300 đồng/kg tùy nhà máy và chất lượng mì đưa về, tức giảm từ 200-400 đồng/kg so với tháng trước.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu vẫn giữ quanh mức 3.000 đồng/kg cho mì 30 độ. Tuy nhiên, độ bột của mì về nhà máy chỉ đạt từ 23-24% nên phải hơn 4kg củ mới được 1 kg bột. Các nhà máy đang áp dụng mức trừ hao hụt khá cao, từ 7-8% và trừ lùi 100 đồng/kg cho mỗi độ bột thấp hơn.

Tại miền Bắc, hiện giá mua mì xô dao động ở nhiều quãng giá. Trong đó, giá mì nguyên liệu về nhà máy khu vực Sơn La đang được giao dịch từ 2.100-2.300 đồng/kg cho mì xô, tùy khoảng cách xa gần. Tại Hà Nội, các nhà máy bột khu vực Hoài Đức cho giá mua mì Sơn La từ 2.500-2.700 đồng/kg (giá mua xô).

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 10/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới trên 200.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu mới cập nhật từ hải quan Trung Quốc cho thấy, nhập khẩu sắn lát của nước này trong tháng 10/2018 đạt 320 nghìn tấn, tăng 52,4% so với tháng trước nhưng thấp hơn 40,4% (tương đương khoảng 216,5 nghìn tấn) so với tháng 10/2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc đạt 4,26 triệu tấn sắn lát, giảm 2,16 triệu tấn so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

10

320.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Trung Quốc tìm cách nhập khẩu cồn của Mỹ thông qua Indonesia và Malaysia

Theo tin từ S&P Global cho biết, trong tuần đầu tháng 11, hải quan Trung Quốc mới công bố số liệu xuất nhập khẩu cồn của nước này trong 10 tháng đầu năm 2018. Đây là lần đầu tiên kể từ khi xảy ra chiến tranh thương mại vào tháng 4/2018, Trung Quốc công khai số liệu này. Qua đó, điều đáng ngạc nhiên là lượng cồn nhập khẩu của Trung Quốc từ Indonesia và Malaysia tăng rất mạnh, trong khi 2 nước này gần như không sản xuất cồn mà chủ yếu dựa vào nguồn cung nhập khẩu từ Mỹ. Điều đó cho thấy rằng, các doanh nghiệp Trung Quốc đang tìm cách nhập khẩu cồn từ Mỹ theo đường khác với mức thuế nhập khẩu tốt hơn so với nhập trực tiếp từ Mỹ.

Nhập khẩu cồn biến tính của Mỹ vào Trung Quốc phải chịu thuế lên tới 70% và cồn không biến tính là 50%, trong khi cồn xuất khẩu từ Indonesia và Malaysia vào Trung Quốc được miễn thuế và chỉ chịu thuế VAT trong nước là 16%.

Trước khi chiến tranh thương mại nổ ra, nhập khẩu cồn biến tính của Trung Quốc từ Mỹ trong 3 tháng đầu năm 2018 đạt con số cao kỷ lục trên 424,4 triệu lít, chiếm tới 99% lượng cồn biến tính nhập khẩu của Trung Quốc trong giai đoạn này.

Trong lần tăng thuế đầu tiên vào ngày 2/4/2018, Trung Quốc đã áp dụng mức thuế nhập khẩu bổ sung tăng thêm 15% với cồn biến tính từ Mỹ và lần thứ 2 tăng thêm 25% (có hiệu lực từ ngày 6/7/2018), đưa tổng mức thuế nhập khẩu cồn biến tính từ Mỹ lên 70%. Và với mức thuế này, cồn biến tính từ Mỹ không có khả năng vào Trung Quốc.

Bảng 7: Lượng cồn nhập khẩu của Trung Quốc theo tháng năm 2015-2018 (lít)

Năm

Tháng

Ethanol biến tính

Ethanol 80% trở lên

2015

1

22,178

62,287

2

4,280

3,772,961

3

20,231

3,739,660

4

7,128

7,434,330

5

11,266

21,148,260

6

519,281

15,513,947

7

20,325,762

48,751,228

8

12,471,049

41,058,859

9

98,350,878

23,273,830

10

30,971,172

37,990,163

11

13,143,977

4,427,230

2016

1

46,978,869

14,089

2

44,740,682

7,587

3

99,645,100

15,892

4

49,361,191

3,780,354

5

259,736,222

3,651,639

6

104,536,085

7,115,133

7

21,054,908

3,583,610

8

38,468,782

3,514

9

10,096,973

24,239

10

1,187,523

3,914

11

71,207,152

103,392

12

124,816,169

7,133

2017

1

3,765

2,411,207

2

5,096

4,210

3

16,079

16,957

4

4,030

19,056

5

3,738

5,507

6

2,436

12,333

7

5,035

282,714

8

3,767,797

328,270

9

4,681

411,038

10

4,868,181

6,292,080

11

9,858

6,456,437

12

7,123

25,916

2018

1

91,287,203

29,415,154

2

189,038,154

8,613,733

3

144,122,319

32,345,961

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ hải quan Trung Quốc

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 10/2018 đều tăng nhẹ so với tháng trước

Theo thống kê của Hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan tăng trở lại trong tháng 10 khi đạt trên 311,3 nghìn tấn, tăng 26,5% (tương đương 65,1 nghìn tấn) so với tháng trước và tăng khoảng 16,5% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2018, tổng lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 2,32 triệu tấn, thấp hơn khoảng 165.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ tính riêng thị trường Trung Quốc đã chiếm khoảng 53,6% tổng thị phần xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan, tương đương 1,25 triệu tấn. Tiếp đến là Indonesia với sản lượng nhập khẩu khoảng 308.000 tấn, chiếm 13,2%. Đài Loan, Malaysia, Hoa Kỳ vag Philippines cũng là những thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn của Thái Lan.

Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 10 cũng tiếp tục xu hướng tăng nhẹ, đạt 279 nghìn tấn, tăng 2,1% so với tháng 9 nhưng giảm tới 53,3% (tức thấp hơn khoảng 318 nghìn tấn) so với tháng 10/2017. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan chỉ đạt trên 3,5 triệu tấn, thấp hơn rất nhiều so với con số 5,2 triệu tấn của cùng kỳ năm 2017. Trong đó gần như 100% lượng sắn lát của Thái Lan được xuất sang thị trường Trung Quốc, chỉ có một lượng rất nhỏ 684 tấn được xuất khẩu sang thị trường Indonesia, Hà Lan và Tây Ban Nha.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

10

279.0

311.3

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan tiếp tục tăng trong tuần đầu tiên của tháng 10, sau đó chững lại và quay đầu giảm vào tuần cuối tháng 10 đầu tháng 11 khi nhu cầu tiêu thụ từ thị trường Trung Quốc suy yếu.

Trong đó, giá chào xuất khẩu sắn lát của Thái Lan tăng thêm 5 USD/tấn, lên mức cao nhất 240 USD/tấn FOB trong tuần đầu tháng 10 và duy trì mức giá này trong 3 tuần tiếp theo. Tuy nhiên, sau đó, giá quay đầu giảm mạnh, còn mức 230 USD/tấn FOB vào tuần đầu tháng 11 do giá cồn nội địa của Trung Quốc liên tục lao dốc. Hiện nay, giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan đang cao hơn tới 35 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Tương tự đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan được điều chỉnh tăng thêm 5 USD/tấn và đạt mức 515 USD/tấn FOB vào tuần đầu tiên của tháng 10 và duy trì trong 3 tuần liên tiếp. Sang đến tuần cuối tháng 10, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan được điều chỉnh giảm mạnh tới 20 USD/tấn trong 2 tuần liên tiếp, còn mức 495 USD/tấn FOB vào tuần đầu tháng 11 do nhu cầu hỏi mua từ Trung Quốc yếu hơn do nguồn cung tinh bột sắn vụ mới của Trung Quốc cũng bắt đầu có đưa ra thị trường. So với cùng kỳ năm trước, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan hiện đang cao hơn tới 110 USD/tấn (tương đương mức tăng khoảng 28,7%).

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đối với sắn lát, đầu ra xuất khẩu khó khăn trong bối cảnh giá cồn tại Trung Quốc liên tục suy giảm, giá bán của Thái Lan được điều chỉnh giảm khá mạnh khiến sắn lát của Việt Nam kém cạnh tranh hơn. Hiện các doanh nghiệp chủ yếu tập trung bán nội địa về các nhà máy cồn hoặc đi các nhà máy thức ăn thủy sản với giá tốt hơn.

Đối với sắn nguyên liệu, dù giá tinh bột sắn xuất khẩu lẫn bán nội địa đều giảm khá mạnh nhưng giá nguyên liệu đầu vào khó giảm do nguồn cung mì tại các vùng khan hiếm. Dù đang trong mùa sản xuất cao điểm nhưng nguồn cung mì nội vùng tại Tây Ninh đã cạn do ảnh hưởng của dịch bệnh, các nhà máy phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn mì củ từ Campuchia đưa về. Tính đến tuần đầu tháng 11/2018, giá mì củ đưa về nhà máy chế biến tinh bột sắn tại cả 3 miền hiện đang cao hơn từ 900-1.100 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước, chất lượng mì kém hơn do dịch bệnh và nhổ non.

Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu khó khăn như hiện nay, nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc lẫn ngoài Trung Quốc đều rất ảm đạm, sức mua yếu hơn nhiều so với cùng kỳ hàng năm thì các doanh nghiệp chế biến tinh bột sắn của Việt Nam đang khá loay hoay trong việc hoạch định sản xuất, thậm chí nhiều nhà máy quyết định tạm ngưng hoạt động, chờ thêm diễn biến thị trường. Mặc dù, 3 tháng cuối năm luôn là giai đoạn tiêu thụ tinh bột sắn nhiều nhất trong năm nhằm phục vụ cho nhu cầu thực phẩm tăng cao dịp lễ/tết cuối năm. Tuy nhiên, quy luật này dường như không còn đúng với năm 2018 khi nền kinh tế của Trung Quốc đang chịu ảnh hưởng khá nặng nề từ những căng thẳng thương mại với Mỹ. Đồng nhân dân tệ mất giá mạnh so với đồng USD khiến các doanh nghiệp sản xuất của Trung Quóc phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài gặp nhiều khó khăn khi giá nguyên liệu trở nên đắt đỏ hơn.