Toàn cảnh thị trường ngô tháng 04/2018 - Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại)

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Toàn cảnh thị trường ngô tháng 04/2018 - Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại)

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THÁNG 4/2018

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:

  • Cuối tháng 3 và đầu tháng 4 giá ngô Nam Mỹ nhập khẩu về cảng miền Nam ít nên xảy ra tình trạng khan hàng, thiếu hàng, đẩy giá lên cao, có thời điểm DNTM có hàng đã bán được với giá 5.750 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu, giao ngay. Tuy nhiên từ sau 10/04, giá ngô hạ nhiệt do hàng nhập khẩu về nhiều hơn. Cuối tháng 4, hàng về dồn dập, một số DNTM chịu áp lực giải phóng hàng chấp nhận bán ra với giá chỉ 5.400 đồng/kg xá cảng, giao ngay. Trung bình tháng 4, giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt 5.538 đồng/kg, không thay đổi nhiều so với trung bình tháng trước.

TRIỂN VỌNG:

  • Sau khi giảm về mức 5.400 đồng/kg trong cuối tháng 4 và đầu tháng 5 thì đến tuần thứ hai của tháng 5 giá ngô miền Nam đã nhích nhẹ trở lại, lên mức 5.450-5.500 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu (hàng Argentina, giao ngay) do DNTM không còn phải chịu áp lực phải giải phóng hàng lớn như trước đó. Theo nhận định của AgroMonitor, giá ngô nhiều khả năng sẽ ổn định quanh mức này trong ngắn hạn. Sang tháng 6, nguồn cung ngô Nam Mỹ ít đi trong khi ngô Mỹ về nhiều thì giá ngô Nam Mỹ có thể sẽ tăng. Theo thống kê của AgroMonitor, trong tháng 6 nhập khẩu ngô Nam Mỹ về Việt Nam dự kiến đạt chưa đầy 100 nghìn tấn.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ: Tháng 4/2018 giá ngô CBOT tương đối ổn định, trung bình đạt 152 USD/tấn, so với cùng kỳ năm ngoái giá ngô CBOT tăng 6,3%. Giá ngô giao động ở mức cao, do: (1) Tiến độ gieo trồng ngô vụ mới của Mỹ chậm; (2) Sản lượng ngô Argentina giảm mạnh do ảnh hưởng của hạn hán.

SỰ KIỆN TRONG NƯỚC:

  • Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại).
  • 19/04: một số đơn vị Việt Nam có quan tâm đến việc mua lại các tàu lúa miến chuyển hướng từ Trung Quốc sau khi Trung Quốc tuyên bố tăng phí đặt cọc lên mức 178,6% giá trị lô hàng. Tuy nhiên theo các thương nhân, các lô lúa miến của Mỹ độ ẩm khoảng 14%, trong khi tiêu chuẩn của Việt Nam cho lúa miến nhập khẩu chỉ tối đa 12,5% nên có thể sẽ khó khăn trong việc nhập khẩu.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ:

  • 17/04: Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết họ sẽ áp đặt phụ thu đối với nhập khẩu lúa miến Mỹ, một phần trong cuộc trả đũa thương mại với Washington của Bắc Kinh. Bộ này cho biết rằng họ sẽ yêu cầu các nhà nhập khẩu phải trả tiền đặt cọc lên tới 178,6% giá trị của lô hàng lúa miến của Hoa Kỳ. Bắc Kinh gọi đây là “biện pháp chống bán phá giá tạm thời” khi chính phủ vẫn tiếp tục điều tra về việc nhập khẩu loại ngũ cốc này.

PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC           

1. Diễn biến giá cả

Cuối tháng 3 và đầu tháng 4 giá ngô Nam Mỹ nhập khẩu về cảng miền Nam ít nên xảy ra tình trạng khan hàng, thiếu hàng, đẩy giá lên cao, có thời điểm DNTM có hàng đã bán được với giá 5.750 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu, giao ngay. Tuy nhiên từ sau 10/04, giá ngô hạ nhiệt do hàng nhập khẩu về nhiều hơn. Cuối tháng 4, hàng về dồn dập, một số DNTM chịu áp lực giải phóng hàng chấp nhận bán ra với giá chỉ 5.400 đồng/kg xá cảng, giao ngay. Trung bình tháng 4, giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt 5.538 đồng/kg, không thay đổi nhiều so với trung bình tháng trước.

Ngược lại với miền Nam, nguồn cung ngô nhập khẩu về miền Bắc đầu tháng 4 lại khá nhiều nên một số bên bán ra với giá chỉ 5.400-5.450 đồng/kg xá cảng Cái Lân, giao ngay. Tuy nhiên sau đó nhiều DNTM lớn mua gom vào, cộng với việc nguồn cung ngô Nam Mỹ nhập khẩu nửa cuối tháng 4 ít nên giá ngô miền Bắc đã tăng trở lại, lên mức 5.550-5.600 đồng/kg xá cảng Cái Lân. Do đó trung bình tháng 4, giá ngô Nam Mỹ giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 5.512 đồng/kg, giảm nhẹ 0,9% so với tháng trước.

Hình 1: Đồ thị giá ngô chào bán tại cảng miền Bắc và miền Nam 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Do giá ngô nhập khẩu về có xu hướng tăng bởi giá ngô thế giới đã bắt đầu tăng từ tháng 2/2018, do đó chênh lệch giữa giá nhập khẩu thực tế quy đổi và giá bán tại cảng đã bị thu hẹp. Tại miền Nam, mức chênh lệch chỉ còn 323 đồng/kg, tại miền Bắc chênh cao hơn, khoảng 594 đồng/kg. Như vậy chứng tỏ với mức giá ngô hiện nay thì DNTM vẫn đang có lãi.

Hình 2: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 3: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2016-4/2018 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Triển vọng

Sau khi giảm về mức 5.400 đồng/kg trong cuối tháng 4 và đầu tháng 5 thì đến tuần thứ hai của tháng 5 giá ngô miền Nam đã nhích nhẹ trở lại, lên mức 5.450-5.500 đồng/kg xá cảng Vũng Tàu (hàng Argentina, giao ngay) do DNTM không còn phải chịu áp lực phải giải phóng hàng lớn như trước đó. Theo nhận định của AgroMonitor, giá ngô nhiều khả năng sẽ ổn định quanh mức này trong ngắn hạn. Sang tháng 6, nguồn cung ngô Nam Mỹ ít đi trong khi ngô Mỹ về nhiều thì giá ngô Nam Mỹ có thể sẽ tăng. Theo thống kê của AgroMonitor, trong tháng 6 nhập khẩu ngô Nam Mỹ về Việt Nam dự kiến đạt chưa đầy 100 nghìn tấn.

Tại Argentina, thời tiết đang mưa khá nhiều, trước đó hạn hán đã khiến cho năng suất ngô không được tốt, nay lại mưa đúng vụ thu hoạch nên rất có thể ngô Argentina đầu vụ (dự kiến bắt đầu về Việt Nam trong đầu tháng 7) sẽ xấu, do đó ngô Mỹ có thể sẽ hút hàng hơn do giá rẻ và chất lượng ngô Mỹ năm nay cũng được đánh giá là đẹp hơn so với năm ngoái.

Bảng 1: Thông tin hàng tàu ngô dự kiến nhập khẩu về cảng Việt Nam trong tháng 5/2018:

Tên tàu

Xuất xứ

Chủ hàng

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Lượng (tấn)

PEPPINO BOTTIGLIERI

Arg

MARUBENI

23/03/18

02/05/18

24,200

MENARO

Arg

Cargill

26/03/18

02/05/18

47,240

STELLA BELINDA

Arg

Cargill

24/03/18

01/05/18

72,107

RB JORDANA

Arg

ADM

01/04/18

07/05/18

59,536

SAKIZAYA FUTURE

Arg

MARUBENI

07/04/18

12/05/18

73,606

CRIMSON ACE

Arg

COFCO

09/04/18

13/05/18

41,800

SEA GEMINI

Arg

MARUBENI

05/04/18

13/05/18

67,694

KYTHIRA I

Arg

CJ

10/04/18

20/05/18

73,178

STELLA ELLENA

Arg

LDC

10/04/18

18/05/18

22,022

SEADUTY

Mỹ

 

21/03/18

14/05/18

67,000

AOM MILENA

Mỹ

Bunge

04/04/18

06/05/18

67,000

 

Mỹ

 

 

 

113,200

ZHENG HENG

Arg

ADM

17/04/18

22/05/18

69,670

Taho Asia

Mỹ

Cargill

19/04/18

20/05/18

70,000

Majorca

Mỹ

 

19/04/18

20/05/18

69,100

Tổng

 

 

 

 

937,353

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Thương mại

Bảng 2: Lượng nhập khẩu ngô từ 01/2017 đến 4/2018 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2017

2018

2017

2018

1

      227.061

314.991

363.297

647.493

2

      476.725

244.754

154.245

298.738

3

      108.476

194.731

183.875

249.129

4

      384.481

284.805

379.161

516.736

5

      381.782

 

      490.192

 

6

      316.071

 

      227.704

 

7

      244.679

 

      284.284

 

8

      276.405

 

      313.876

 

9

      378.632

 

      398.158

 

10

      424.168

 

      446.448

 

11

      352.268

 

      439.681

 

12

      254.517

 

      232.200

 

Tổng

3.825.266

1.039.280

3.913.121

1.712.096

Nguồn: AgroMonitor

Bảng 3: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT TNHH DV NN Văn Sơn

                             22,7

TM

CT CP hóa chất CN Tân Long

                                20,9

TM

TĐ T&T

                                18,1

TM

CT TNHH New Hope VN

                                  5,0

SX

CT TNHH TACN & NN EH VN

                                  2,9

SX

CT TNHH Việt Phương Hà Nam

                                  1,8

SX

CT CP Appe Jv VN

                                  1,8

SX

CT TNHH Minh Hiếu - Hưng Yên

                                  1,7

SX

CT TNHH HIệP HạNH

                                  1,7

TM

CT CP Greenfeed VN

                                  1,7

SX

CT TNHH Cj Vina Agri

                                  1,7

SX

CT CP Nam Việt

                                  1,6

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

                                  1,5

SX

CT TNHH ANT

                                  1,3

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

                                  1,1

SX

CT CP ABC VN

                                  1,1

SX

CT TNHH Sunjin Vina

                                  1,0

SX

CT CP Đại Hữu

                                  1,0

SX

CT CP Austfeed VN

                                  1,0

SX

CT TNHH Cargill VN

                                  1,0

SX

Khác

                                  9,4

 

Tổng

                             100,0

DNSX chiếm 36%

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 4: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng 4: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT TNHH TM XNK Khai Anh - Bình Thuận

21,1

TM

TĐ T&T

16,6

TM

CT CP hóa chất CN Tân Long

13,8

TM

CT TNHH TM - DV XNK Miền Tây

6,6

TM

CT TNHH ARCHER DANIELS MIDLAND VN

4,4

TM

CT TNHH XNK Vi Na Đại Việt

4,3

TM

CT CP Việt Pháp Proconco

3,6

SX

CT TNHH DE HEUS

2,9

SX

CT CP XNK Nhất Thành

2,8

TM

CT CP Greenfeed VN

2,6

SX

CT TNHH EMIVEST FEEDMILL VN

2,6

SX

CT TNHH Cargill VN

2,4

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

2,0

SX

CT TNHH ANT

1,8

SX

CT TNHH Sunjin Vina

1,6

SX

CT CP Anova Feed

1,1

SX

CT TNHH Nhà Nước MTV TM & XNK Viettel

1,0

TM

CT TNHH USFEED

0,9

SX

CT TNHH TM Hồng Nga Sài Gòn

0,9

TM

CT CP Austfeed VN

0,7

SX

Khác

6,2

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 28% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 5: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 4/2018, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

I. DỰ BÁO CUNG – CẦU NGŨ CỐC THẾ GIỚI

- Hôm 10/05, Bộ NN Mỹ đã ra báo cáo cung-cầu ngũ cốc và hạt thế giới, theo đó, sản lượng ngô thế giới niên vụ 2018/19 được kỳ vọng sẽ tăng mạnh trở lại, với mức tăng gần 20 triệu tấn so với niên vụ trước, lên mức 1,056 tỷ tấn. Tuy nhiên do nhu cầu tăng mạnh nên tồn kho cuối kỳ cũng giảm gần 36 triệu tấn so với niên vụ trước, xuống mức 159,1 triệu tấn.

+ Đối với niên vụ 2017/18, USDA điều chỉnh tăng nhẹ sản lượng ngô thế giới thêm 600 nghìn tấn so với dự báo tháng 4 do sự gia tăng từ một số nước nhỏ. Tuy nhiên sản lượng ngô của Brazil lại bị cắt giảm 5 triệu tấn so với dự báo tháng trước, xuống mức 87 triệu tấn bởi ảnh hưởng của hạn hán.

+ Tồn kho ngô Mỹ cuối niên vụ 2017/18 dự kiến đạt 55,4 triệu tấn, cao hơn so với mức 55,3 triệu tấn ước tính trung bình của thị trường.

Bảng 11: Cung - cầu ngô thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

1009.0

127.8

977.6

206.2

2015/16

959.7

136.7

958.6

209.3

2016/17

1074.7

141.8

1062.6

226.5

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

1036.0

150.2

1069.2

197.8

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

1036.6

150.2

1069.3

194.8

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

1056.0

157.5

1091.7

159.1

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

- Báo cáo cung-cầu tháng 5, Bộ NN Mỹ giảm nhẹ ước tính sản lượng lúa mỳ thế giới niên vụ 2017/18, xuống mức 758,3 triệu tấn, giảm 1,4 triệu tấn so với dự báo tháng trước. Theo đó, xuất khẩu giảm 600 nghìn tấn, trong đó các nước ghi nhận sự sụt giảm mạnh là Úc (giảm 1 triệu tấn, do cạnh tranh từ khu vực biển Đen), Mỹ (giảm 500 nghìn tấn do tốc độ giao hàng chậm, giá cao).

+ Tồn kho lúa mỳ Mỹ cuối niên vụ 2017/18 dự kiến đạt 29,1 triệu tấn, cao hơn so với con số 29 triệu tấn ước tính trung bình của thị trường.

+ Sang năm 2018/19, dự kiến sản lượng lúa mỳ toàn cầu sẽ giảm tới hơn 10 triệu tấn so với niên vụ trước do sự sụt giảm từ Nga (giảm gần 13 triệu tấn), EU (giảm 1,1 triệu tấn) nên mặc dù một số nước ghi nhận sự tăng trưởng như Mỹ (tăng hơn 2 triệu tấn), Argentina (tăng 1,5 triệu tấn), Úc (tăng 2,5 triệu tấn)… thì cũng khong đủ bù đắp lượng sụt giảm. Ngược lại với nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ vẫn tiếp tục xu hướng tăng do dân số mở rộng, vì vậy, tồn kho lúa mỳ thế giới cuối niên vụ 2018/19 dự kiến chỉ đạt 264,3 triệu tấn, giảm hơn 6 triệu tấn so với niên vụ trước.

+ Năm 2018/19, USDA dự báo nhập khẩu lúa mỳ của Việt Nam đạt 4,5 triệu tấn, tăng 300 nghìn tấn so với năm trước đó.

Bảng 12: Cung - cầu lúa mỳ thế giới, 2014-2018 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

725.9

161.4

705.4

214.5

2015/16

734.8

170.8

709.0

241.9

2016/17

753.8

182.2

739.6

255.6

2017/18 – Dự báo tháng 04/2018

759.7

184.2

743.1

271.2

2017/18 – Dự báo tháng 05/2018

758.3

183.6

743.8

270.4

2018/19 – Dự báo tháng 05/2018

747.7

187.5

753.9

264.3

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 05/2018

 (Ghi chú: màu đỏ/xanh thể hiện xu hướng giảm/tăng)

II. GIÁ CẢ THẾ GIỚI

Tháng 4/2018 giá ngô CBOT tương đối ổn định, trung bình đạt 152 USD/tấn, so với cùng kỳ năm ngoái giá ngô CBOT tăng 6,3%. Giá ngô giao động ở mức cao, do: (1) Tiến độ gieo trồng ngô vụ mới của Mỹ chậm; (2) Sản lượng ngô Argentina giảm mạnh do ảnh hưởng của hạn hán.

Hình 14: Diễn biến giá ngô CBOT, 2016-4/2018 (USD/tấn, FOB)

Nguồn: IMF

Đối với lúa mỳ, sau khi tăng liên tục trong 3 tháng đầu năm thì đến tháng 4 giá lúa mỳ CBOT đã quay đầu giảm trở lại, khi giảm 3,3% (tương đương giảm 6 USD/tấn) so với tháng trước, xuống còn 174 USD/tấn. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước thì tháng 4 giá lúa mỳ CBOT vẫn tăng hơn 12,2% (tương đương tăng 19 USD/tấn). Thời tiết cải thiện tại Mỹ và triển vọng nguồn cung dồi dào tại khu vực biển Đen là nguyên nhân chính đẩy giá lúa mỳ CBOT đi xuống trong tháng này.

Hình 15: Diễn biến giá lúa mỳ CBOT, 2016-4/2018 (USD/tấn)

Nguồn: IMF

PHỤ LỤC

I. SỰ KIỆN TRONG NƯỚC

- Đầu tháng 4, một số nhà máy TACN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ 160-200 đồng/kg (tùy loại).

- 05/04: tại Sơn La, hai huyện Mộc Châu, Phù Yên đã bắt đầu gieo trồng ngô vụ 1, huyện Thuận Châu dự kiến đầu tuần sau sẽ bắt đầu, các huyện khác dự kiến giữa tháng 4 sẽ gieo hạt. Theo tham vấn của AgroMonitor đối với một số thương nhân, diện tích ngô Sơn La năm nay có thể giảm khoảng 30%, diện tích ngô của khu vực miền Bắc (từ Nghệ An đổ ra) giảm khoảng 20-25% so với năm ngoái do nông dân chuyển đổi sang trồng sắn và cây ăn quả.

- 19/04: một số đơn vị Việt Nam có quan tâm đến việc mua lại các tàu lúa miến chuyển hướng từ Trung Quốc sau khi Trung Quốc tuyên bố tăng phí đặt cọc lên mức 178,6% giá trị lô hàng. Tuy nhiên theo các thương nhân, các lô lúa miến của Mỹ độ ẩm khoảng 14%, trong khi tiêu chuẩn của Việt Nam cho lúa miến nhập khẩu chỉ tối đa 12,5% nên có thể sẽ khó khăn trong việc nhập khẩu.

II. SỰ KIỆN QUỐC TẾ

- 17/04: Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết họ sẽ áp đặt phụ thu đối với nhập khẩu lúa miến Mỹ, một phần trong cuộc trả đũa thương mại với Washington của Bắc Kinh. Bộ này cho biết rằng họ sẽ yêu cầu các nhà nhập khẩu phải trả tiền đặt cọc lên tới 178,6% giá trị của lô hàng lúa miến của Hoa Kỳ. Bắc Kinh gọi đây là “biện pháp chống bán phá giá tạm thời” khi chính phủ vẫn tiếp tục điều tra về việc nhập khẩu loại ngũ cốc này.

- 19/04: Một số tàu chở lúa miến của Hoa Kỳ đến Trung Quốc đã thay đổi điểm đến sau khi Trung Quốc tuyên bố biện pháp chống bán phá giá mạnh tay. Theo Cơ quan kiểm tra ngũ cốc liên bang của USDA, 20 tàu đang trên đường chở hơn 1,2 triệu tấn lúa miến Mỹ cho Trung Quốc. Ít nhất 5 tàu trong đó đã chuyển hướng trong vòng vài giờ kể từ khi công bố các mức thuế nhập khẩu lúa miến của Mỹ vào ngày 17/04.

III. LƯỢNG NHẬP KHẨU CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU TACN TRONG THÁNG 4/2018

Bảng 15: Lượng và kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu TACN trong tháng 4/2018

Nguyên liệu

Lượng (tấn)

Loại DN

Ngô hạt

                       801,541

              162,196,757

Khô đậu tương

                       486,774

              193,375,907

Lúa mỳ TACN

                       443,775

                95,605,945

Đậu tương

                       163,218

                71,914,860

Lúa mỳ thực phẩm

                          81,051

                21,231,520

DDGS

                          79,736

                17,179,881

Cám gạo

                          32,780

                  5,463,034

Bột xương thịt

                          30,562

                12,733,579

Cám mỳ

                          30,495

                  5,785,168

Phụ gia TACN

                          24,422

                37,122,912

Gluten ngô

                          23,223

                  4,463,230

Khô dầu cọ

                          22,179

                  3,065,281

Bã cải ngọt

                          20,275

                  6,489,930

Khô dầu khác

                          14,074

                  3,297,208

Bột cá

                          12,392

                17,488,532

Bột gia cầm

                          11,127

                  8,340,624

Khô dầu dừa

                          10,391

                  1,908,487

Bã cải đắng

                            5,763

                  1,526,650

Bột gan mực

                            4,361

                  3,980,898

Bột lông vũ thủy phân

                            1,625

                      831,554

Khác

                          17,652

                11,863,943

Tổng

                    2,317,415

              685,865,899

Nguồn AgroMonitor tổng hợp từ TCHQ

Bảng 16: Sản lượng TACN cho gia súc, gia cầm và thủy sản (nghìn tấn)

 

Tháng

Gia súc và gia cầm

Thủy sản

 

1

1617.0

237.3

2

1350.0

243.9

3

1320.0

267.4

4

1262.1

280.7

5

1296.0

318.4

6

1365.0

332.5

7

1472.0

340.0

8

1516.2

375.6

9

1548.8

363.6

10

1595.2

371.4

11

1675.0

351.3

12

1758.8

360.8

2018

1

-

447.8

2

-

417.3

3

-

464.7

4

-

476.4

Nguồn: Sản lượng thức ăn thủy sản AgroMonitor tổng hợp từ Tổng cục Thống kê; Sản lượng TAGS&GC là con số AgroMonitor ước tính.