Thức ăn chăn nuôi tháng 3/2019 - Tại miền Bắc, tháng 4 giá khô đậu tương có thể sẽ vẫn tiếp tục đứng do hàng nhập khẩu vẫn dồi dào
 

Thức ăn chăn nuôi tháng 3/2019 - Tại miền Bắc, tháng 4 giá khô đậu tương có thể sẽ vẫn tiếp tục đứng do hàng nhập khẩu vẫn dồi dào

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THÁNG 3/2019

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:

  • Tháng 3/2019, giá ngô nhập khẩu bán nội địa có xu hướng giảm do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm mạnh bởi ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi. Trung bình tháng 3, giá ngô Argentina giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 5.160 đồng/kg, giảm 2,4% so với tháng trước và giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu cũng giảm 2,1% so với tháng trước và giảm 6,3% so với cùng kỳ năm 2018, xuống mức 5.183 đồng/kg.
  • Cũng giống như ngô, giá khô đậu tương giảm mạnh trong tháng 3 do nhu cầu yếu bởi ảnh hưởng của dịch bệnh. Trung bình tháng 3, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Cái Lân giảm 2,4% so với tháng trước, xuống mức 9.135 đồng/kg. Tại Vũng Tàu, giá trung bình tháng 3 đạt 9.104 đồng/kg, giảm 1,9% so với tháng 2.

TRIỂN VỌNG:

  • Có tin cho biết, một tàu ngô của nhà máy TACN lớn đã chuyển hướng đi Indonesia nên nhà máy này đang hỏi mua ngô qua thương mại nội địa để thay thế. Ngoài ra, tàu Harvest Plains (61.170 tấn ngô Argentina) cũng chuyển hướng đi Tây Ban Nha. Các tàu ngô chuyển hướng giúp làm giảm một phần áp lực lên thị trường ngô nội địa trong tháng 5. Mặc dù vậy, lượng ngô nhập khẩu về Việt Nam trong tháng 5 cũng vẫn khá nhiều, với khoảng 800 nghìn tấn, cộng với lượng rất lớn từ tháng 4 (gần 900 nghìn tấn) thì nguồn cung ngô nhập khẩu trong hai tháng 4 và 5 cũng quá nhiều, đặc biệt là khu vực miền Nam nên giá ngô sẽ rất khó tăng trong ngắn hạn.
  • Đối với khô đậu tương, tháng 4 nhập khẩu khô đậu tương chỉ đạt khoảng 160 nghìn tấn, về miền Nam chỉ đạt hơn 100.000 tấn nên miền Nam có thể thiếu hụt nhẹ. Tuy nhiên, sang tháng 5 lượng hàng về nhiều hơn, nhất là giai đoạn 10 ngày đầu tháng 5, lượng khô đậu tương nhập khẩu đạt gần 280 nghìn tấn do vậy mà giá khô đậu tương miền Nam khó có thể tăng mạnh.

Tại miền Bắc, tháng 4 giá khô đậu tương có thể sẽ vẫn tiếp tục đứng do hàng nhập khẩu vẫn dồi dào, nếu không có lực đẩy từ nhu cầu thì giá sẽ tiếp tục dao động ở mức thấp.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ:

  • Tháng 3 giá ngô CBOT tiếp tục xu hướng giảm, trung bình tháng 3 giá ngô giao dịch trên sàn giao dịch Chicago đạt 146 USD/tấn, giảm 0,7% (tương đương giảm 1 USD/tấn) so với tháng trước và giảm 3,9% (tương đương giảm 6 USD/tấn) so với cùng kỳ năm trước. Triển vọng nguồn cung dồi dào tại Nam Mỹ tạo áp lực lớn lên ngô Mỹ trên thị trường xuất khẩu. Ở thị trường nội địa, nhu cầu ngô Mỹ cho mảng sản xuất ethanol cũng sụt giảm mạnh do lợi nhuận của ngành công nghiệp này thấp.
  • Có cùng xu hướng giảm như ngô và lúa mỳ, trung bình tháng 3/2019, giá đậu tương CBOT đã giảm 0,9% so với tháng trước (tương đương giảm 3 USD/tấn) do triển vọng nguồn cung tại Nam Mỹ tăng bởi thời tiết cải thiện tại Brazil trong tháng 1 và 2.
  • Ngược lại, giá khô đậu tương lại tăng nhẹ 0,6% (tương đương tăng 2 USD/tấn) so với tháng trước, lên mức 340 USD/tấn do sản lượng đậu tương ép dầu giảm nên nguồn cung khô đậu tương toàn cầu có thể cũng sẽ giảm. Argentina – nước xuất khẩu khô đậu tương lớn nhất thế giới có thể xuất khẩu đậu tương thô nhiều hơn so với việc ép dầu bởi xuất khẩu đậu tương thô đang có lợi hơn so với xuất khẩu khô đậu tương và dầu đậu tương.

DỰ BÁO USDA:

  • Hôm 9/4, Bộ NN Mỹ đã ra dự báo cung-cầu ngũ cốc và hạt thế giới, theo đó sản lượng ngô thế giới niên vụ 2018/19 dự kiến tăng khá mạnh đạt 1107,4 triệu tấn, cao hơn 6,3 triệu tấn so với dự báo tháng trước.
  • Do sản lượng đậu tương ép dầu giảm nên sản lượng khô đậu tương thế giới niên vụ 2018/19 dự kiến đạt 238,1 triệu tấn, giảm nhẹ 100 nghìn tấn so với dự báo tháng 3. Trong báo cáo tháng này Bộ NN Mỹ vẫn giữ dự báo nhập khẩu khô đậu tương Việt Nam ở mức 5 triệu tấn như 2 tháng trước, tăng 200 nghìn tấn so với năm ngoái.

PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC           

I. NGÔ HẠT

1. Diễn biến giá cả

Tháng 3/2019, giá ngô nhập khẩu bán nội địa có xu hướng giảm do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm mạnh bởi ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng và dịch tả heo châu Phi. Trung bình tháng 3, giá ngô Argentina giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 5.160 đồng/kg, giảm 2,4% so với tháng trước và giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Giá ngô giao dịch tại cảng Vũng Tàu cũng giảm 2,1% so với tháng trước và giảm 6,3% so với cùng kỳ năm 2018, xuống mức 5.183 đồng/kg.

Mặc dù lượng ngô nhập khẩu trong tháng 3 khá ít, chỉ đạt hơn 431 nghìn tấn, giảm gần 38% so với tháng trước nhưng giá ngô vẫn giảm chứng tỏ nhu cầu tiêu thụ đã sụt giảm khá mạnh.

Mặc dù giá ngô bán nội địa giảm nhưng so với mức giá nhập khẩu thì giá bán thực tế vẫn đang cao hơn khoảng 85 đồng/kg tại cảng miền Bắc và 107 đồng/kg tại cảng miền Nam.

Hình 1: Diễn biến giá ngô nhập khẩu bán nội địa, năm 2017-3/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Hình 2: Diễn biến giá ngô nhập khẩu của DNTM, 2017-3/2019 (USD/tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Hình 3: So sánh giá ngô Nam Mỹ nhập khẩu quy đổi và giá bán tại cảng miền Bắc của DNTM (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Ghi chú: nếu đường giá màu đỏ (giá nhập khẩu) thấp hơn đường màu xanh (giá bán) thì được xem như doanh nghiệp có lãi còn nếu đường màu đỏ cao hơn đường màu xanh thì coi như bị lỗ

Hình 4: So sánh giá ngô nhập khẩu quy đổi và giá bán tại cảng miền Nam của DNTM (đồng/kg, giá quy đổi được tính từ giá CNF về cảng, cộng thuế và các chi phí khác rồi nhân với tỷ giá)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Triển vọng

Trong báo cáo cung-cầu ngũ cốc ra ngày 9/4 của Bộ NN Mỹ, tồn kho ngô Mỹ cuối niên vụ 2018/19 được dự báo khá cao, với 2,035 tỷ bushel, tăng mạnh so với con số 1,835 tỷ bushel dự báo hồi tháng 3 và cao hơn cả mức 1,991 tỷ bushel ước tính trung bình của thị trường. Tuy vậy giá ngô CBOT cùng phiên không giảm bởi có thông tin một cơn bão tuyết mùa xuân có khả năng đổ bộ lên vùng Trung Tây vào thứ 4 tuần này. Ngoài ra, tin đồn Trung Quốc hỏi mua 20 triệu tấn ngô Mỹ cũng làm ấm thị trường. Bộ trưởng NN Mỹ Sonny Perdue cho biết, đàm phán với Trung Quốc về việc giảm thuế của Bắc Kinh đối với sản phẩm ethanol của Mỹ đang rất “tích cực” nhưng cảnh báo cáo cuộc thảo luận vẫn chưa kết thúc. Nếu các biện pháp thuế quan được dỡ bỏ thì giá ngô Mỹ có thể giá ngô sẽ bật tăng sau đó.

Đối với thị trường nội địa, có tin cho biết, một tàu ngô của nhà máy TACN lớn đã chuyển hướng đi Indonesia nên nhà máy này đang hỏi mua ngô qua thương mại nội địa để thay thế. Ngoài ra, tàu Harvest Plains (61.170 tấn ngô Argentina) cũng chuyển hướng đi Tây Ban Nha. Các tàu ngô chuyển hướng giúp làm giảm một phần áp lực lên thị trường ngô nội địa trong tháng 5. Mặc dù vậy, lượng ngô nhập khẩu về Việt Nam trong tháng 5 cũng vẫn khá nhiều, với khoảng 800 nghìn tấn, cộng với lượng rất lớn từ tháng 4 (gần 900 nghìn tấn) thì nguồn cung ngô nhập khẩu trong hai tháng 4 và 5 cũng quá nhiều, đặc biệt là khu vực miền Nam nên giá ngô sẽ rất khó tăng trong ngắn hạn.

Đối với ngô giao xa, đầu tháng 4 các DNTM giá chào ngô giao tháng 7 quanh mức 4.900 đồng/kg, hàng giao tháng 8/9 khoảng 4.800 đồng/kg (xá cảng Vũng Tàu). Nếu giá ngô thế giới tăng thì hàng giao xa có thể sẽ điều chỉnh tăng theo.

Bảng 1:Thông tin hàng tàu ngô dự kiến về Việt Nam trong tháng 4-5-6/2019

Tên tàu

Xuất xứ

Chủ hàng

Tình trạng tàu

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Lượng (tấn)

TAI HUNTER

Arg

Agrocorp

Đã rời cảng

24/02/19

07/04/19

40,850

RB LISA

Arg

 

Đã rời cảng

26/02/19

06/04/19

71,500

NORD DESTINY

Arg

Cargill

Đã rời cảng

26/02/19

10/04/19

71,032

TAI SUCCESS

Brl

MARUBENI

Đã rời cảng

03/03/19

09/04/19

57,740

EN MAY

Brl

MARUBENI

Đã rời cảng

07/03/19

10/04/19

24,150

AP STON

Arg

Agrocorp

Đã rời cảng

06/03/19

17/04/19

40,250

TOMINI DYNASTY

Arg

Agrocorp

Đã rời cảng

08/03/19

21/04/19

42,828

SANTA CRUZ

Arg

MARUBENI

Đã rời cảng

12/03/19

18/04/19

49,222

HUAYANG DREAM

Arg

Cargill

Đã rời cảng

18/03/19

24/04/19

69,110

KT BIRDIE

Arg

MARUBENI

Đã rời cảng

16/03/19

27/04/19

47,288

ASIAN MAJESTY

Arg

MIDSTAR

Đã rời cảng

18/03/19

25/04/19

47,388

MITOSE

Arg

ADM

Đã rời cảng

19/03/19

26/04/19

68,314

DRAGON

Arg

ADM

Đã rời cảng

21/03/19

27/04/19

71,500

SONGA HIROSE

Mỹ

Glencore

Đã rời cảng

23/03/19

18/04/19

67,100

ANTIPAROS

Arg

MARUBENI

Đã rời cảng

25/03/19

29/04/19

71,945

GIORGIS

Arg

MARUBENI

Đã rời cảng

24/03/19

01/05/19

49,600

CAPTAIN DIAMANTIS

Arg

LDC

Đã rời cảng

30/03/19

02/05/19

69,438

ORIENT UNION

Arg

DAEWO

Đã rời cảng

29/03/19

07/05/19

68,362

OCEANIS

Arg

MIDSTAR

Đã rời cảng

28/03/19

06/05/19

45,000

DARYA JYOTI

Brl

CJ

Đã rời cảng

31/03/19

07/05/19

20,000

MIAO XIANG

Arg + Brl

CJ

Đã rời cảng

02/04/19

07/05/19

69,213

ARTEMIS

Arg

MIDSTAR

Đã rời cảng

04/04/19

13/05/19

49,378

MASTROS NIKOS

Arg

MARUBENI

Đã rời cảng

06/04/19

09/05/19

72,330

ROYAL HOPE

Arg

Cargill

Đã rời cảng

06/04/19

10/05/19

72,233

BW CANOLA

Arg +Brl

Bunge

Đã rời cảng

06/04/19

16/05/19

54,937

BANGLAR JOYJATRA

Arg

AMAGGI

Đã rời cảng

09/04/19

12/05/19

36,000

THESTELIA K

Arg +Brl

OMEGRA

Dỡ tại Indonesia trước

05/04/19

15/05/19

48,883

AQUAVITA SUN

Arg+Brl

OMEGRA

Dỡ tại Indonesia trước

15/04/19

25/05/19

49,392

JIA DA

Arg

LDC

Đã rời cảng

10/04/19

19/05/19

24,450

ARIANA

Arg

DAEWO

Đã rời cảng

11/04/19

23/05/19

70,635

ARIS T

Arg + Brl

COFCO

Dỡ tại Indonesia trước

12/04/19

22/05/19

54,125

GLORY AMSTERDAM

Arg

LDC

Đã rời cảng

12/04/19

21/05/19

69,230

BOTTIGLIERI F. BORRIELLO

Arg

CJ

ETA-21/4

 

 

33,000

IONIC KATANA

Arg

Bunge

Đang trên đường đến cảng thứ hai

 

 

30,774

FAR EASTERN MERCURY

Arg

Bunge

Đang chờ tại cảng

 

 

67,000

GOOD LUCK

Arg

LDC

Đang chờ tại cảng

 

 

64,050

BW HAZEL

Arg

 

Đang chờ tại cảng

 

 

60,000

MEDI KAZAHAYA

Arg

MARUBENI

Đang chờ tại cảng

 

 

67,000

VOSCO SUNRISE

Arg

Crossland

ETA-21/4

 

 

45,000

GOOD WISH

Arg

LDC

ETA-28/4

 

 

69,000

YANNIS GORGIAS

Arg

MARUBENI

ETA-17/4

 

 

79,441

FALCON ERA

Arg

ADM

ETA-15/4

 

 

67,000

CECILIA B

Arg

CJ

Đang trên đường đến cảng thứ hai

 

 

50,050

SAKIZAYA JUSTICE

Arg

Al Ghurair

ETA-26/4

 

 

45,000

ARETHUSA

Arg

MARUBENI

ETA-16/4

 

 

45,000

CHARIKLIA JUNIOR

Arg

LDC

ETA-19/4

 

 

             22,200

Nguồn: AgroMonitor

II. KHÔ ĐẬU TƯƠNG

1. Diễn biến giá cả

Cũng giống như ngô, giá khô đậu tương giảm mạnh trong tháng 3 do nhu cầu yếu bởi ảnh hưởng của dịch bệnh. Trung bình tháng 3, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Cái Lân giảm 2,4% so với tháng trước, xuống mức 9.135 đồng/kg. Tại Vũng Tàu, giá trung bình tháng 3 đạt 9.104 đồng/kg, giảm 1,9% so với tháng 2.

Ngoài lý do nhu cầu yếu thì việc nguồn cung nhập khẩu về nhiều cũng tạo áp lực lớn khiến giá khô đậu tương đi xuống. Theo số liệu sơ bộ của TCHQ, trong tháng 3, nhập khẩu khô đậu tương của Việt Nam đạt hơn 480 nghìn tấn, tăng 58% so với tháng trước. Trong đó, miền Bắc đạt 163 nghìn tấn, tăng 142%, miền Nam đạt gần 317 nghìn tấn, tăng 34%.

Hình 7: Diễn biến giá khô đậu tương nhập khẩu bán nội địa, năm 2017-3/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Về giá nhập khẩu, tháng 3/2019, giá khô đậu tương nhập khẩu về cảng miền Bắc đạt trung bình 380,5 USD/tấn, giảm 0,4% so với tháng trước. Ngược lại, giá khô đậu tương nhập khẩu khu vực miền Nam lại tăng nhẹ 0,2% so với tháng trước, lên mức 378,6 USD/tấn. Do giá bán nội địa giảm nên chênh lệch giữa giá nhập khẩu quy đổi và giá bán thực tế trên thị trường bị thu hẹp lại, DNTM lãi không đáng kể.

Hình 8: Diễn biến giá khô đậu tương nhập khẩu của DNTM, 2017-3/2019 (USD/tấn)

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Hình 9: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2017-3/2019 (đồng/kg)

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Ghi chú: nếu đường giá màu xanh (giá nhập khẩu) thấp hơn đường màu đỏ (giá bán) thì được xem như doanh nghiệp có lãi còn nếu đường màu đỏ cao hơn đường màu xanh thì coi như bị lỗ

Hình 10: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2017-3/2019 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Triển vọng

Có tin đồn Trung Quốc hỏi mua 40 triệu tấn đậu tương của Mỹ nhằm xoa dịu căng thẳng thương mại giữa hai nước. Nếu thực sự Trung Quốc mua nhiều đậu tương như vậy thì giá đậu tương và khô đậu tương CBOT có thể tăng mạnh trong ngắn hạn. Tuy nhiên về cơ bản nguồn cung thế giới vẫn lớn do năm nay thu hoạch đậu tương khu vực Nam Mỹ bội thu, trong khi nhu cầu lại đang bị ảnh hưởng bởi dịch tả heo châu Phi ở khu vực châu Á nên sau đó thị trường có sẽ những điều chỉnh giảm trở lại.

Theo báo cáo cây trồng hàng tuần của Sàn giao dịch ngũ cốc Buenos Aires (BAGE), tính đến ngày 3/4, nông dân Argentina đã thu hoạch được 6,4% diện tích đậu tương, năng suất ban đầu khá cao. BAGE vẫn giữ dự báo sản lượng đậu tương ở mức 53 triệu tấn. Trong khi Informa Economics lại dự báo sản lượng đậu tương Argentina ở mức 55 triệu tấn.

Đối với thị trường Việt Nam, tháng 4 nhập khẩu khô đậu tương chỉ đạt khoảng 160 nghìn tấn, về miền Nam chỉ đạt hơn 100.000 tấn nên miền Nam có thể thiếu hụt nhẹ. Tuy nhiên, sang tháng 5 lượng hàng về nhiều hơn, nhất là giai đoạn 10 ngày đầu tháng 5, lượng khô đậu tương nhập khẩu đạt gần 280 nghìn tấn do vậy mà giá khô đậu tương miền Nam khó có thể tăng mạnh.

Tại miền Bắc, tháng 4 giá khô đậu tương có thể sẽ vẫn tiếp tục đứng do hàng nhập khẩu vẫn dồi dào, nếu không có lực đẩy từ nhu cầu thì giá sẽ tiếp tục dao động ở mức thấp.

Bảng 5: Thông tin hàng tàu khô đậu tương nhập khẩu về Việt Nam trong tháng 4-5-6/2019

Tên tàu

Xuất xứ

Chủ hàng

Tình trạng tàu

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Lượng (tấn)

CAPTAIN STEFANOS M

Arg

Marubeni

Đã rời cảng

22/02/19

03/04/19

48,000

MEDUSA

Arg

Cargill

Đã rời cảng

28/02/19

07/04/19

63,681

 

Mỹ

 

Đã rời cảng

 

Đầu tháng 4

52,900

EN MAY

Arg

Marubeni

Đã rời cảng

07/03/19

10/04/19

46,800

AGIOS IOANNIS

Arg

OMEGRA

Đã rời cảng

12/03/19

15/04/19

48,540

 

Mỹ

 

Đã rời cảng

 

Đầu tháng 5

53,100

SAKIZAYA GLORY

Arg

Marubeni

Đã rời cảng

28/03/19

08/05/19

51,117

DARYA JYOTI

Arg

CJ

Đã rời cảng

31/03/19

07/05/19

44,065

KM MT JADE

Arg

Marubeni

Đã rời cảng

28/03/19

07/05/19

51,000

UNION ERWIN

Arg

LDC

Đã rời cảng

05/04/19

02/05/19

40,045

BACCO

Arg

Enerfo

Đã rời cảng

03/04/19

07/05/19

43,557

NORD POLARIS

Arg

Marubeni

Đã rời cảng

03/04/19

03/05/19

49,784

STAR NICOLE

Arg

Proline

Đã rời cảng

09/04/19

23/05/19

46,494

PROTEAS

Arg

CJ

Đang trên đường đến cảng thứ hai

   

50,100

CHARIKLIA JUNIOR

Arg

OMEGRA

Đang chờ tại cảng

   

18,000

BOTTIGLIERI F. BORRIELLO

Arg

CJ

ETA-21/4

   

20,000

KINOURA

Arg

Marubeni

Đang chờ tại cảng

   

45,000

BRAVEHEART

Arg

Marubeni

ETA-21/4

   

45,000

BETTYS BEAUTY

Arg

Marubeni

ETA-24/4

   

45,000

Nguồn: AgroMonitor

III. CÁM GẠO, CÁM MỲ

1. Diễn biến giá cả và triển vọng

Đối với cám gạo, tháng 3/2019 giá cám gạo nội địa tại ĐBSCL tiếp tục xu hướng giảm do áp lực nguồn cung từ vụ thu hoạch Đông Xuân trong khi nhu cầu của các nhà máy chững. Trung bình tháng 3, giá cám khô bán ra tại kho khu vực Sa Đéc (Đồng Tháp) và Tân Hiệp (Kiên Giang) giảm tương ứng 2,7% và 1,8% so với tháng trước đó, xuống mức 4.805 đồng/kg và 4.749 đồng/kg.

Đầu tháng 4, giá cám tăng trở lại do vụ thu hoạch Đông Xuân đã qua, nguồn cung gạo nguyên liệu không còn nhiều nên cám gạo cũng khan hiếm.

Hình 13: Diễn biến giá cám gạo nội địa năm 2017-3/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

IV. LÚA MỲ

1. Diễn biến giá cả và triển vọng

Nguồn cung lúa mỳ TACN thương mại hầu như không còn, thị trường không ghi nhận nhiều giao dịch trong tháng 3. Tình hình nhập khẩu lúa mỳ TACN vẫn còn rất khó khăn, cơ quan quản lý nhà nước vẫn tiếp tục siết chặt việc quản lý để ngăn chặn cỏ Cirsium Arvense vào Việt Nam. Các nhà máy buộc phải mua lúa mỳ xay xát để thay thế lúa mỳ TACN, giá chào về nhà máy dao động trên 7.000 đồng/kg. Tỷ lệ sử dụng lúa mỳ trong TACN của các nhà máy giảm mạnh, thậm chí có nhà máy giảm tới 90%.

Hình 14: Diễn biến giá lúa mỳ TACN giao dịch nội địa theo tháng năm 2017-3/2019 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

I. DỰ BÁO CUNG – CẦU NGŨ CỐC THẾ GIỚI

Hôm 9/4, Bộ NN Mỹ đã ra dự báo cung-cầu ngũ cốc và hạt thế giới, theo đó sản lượng ngô thế giới niên vụ 2018/19 dự kiến tăng khá mạnh đạt 1107,4 triệu tấn, cao hơn 6,3 triệu tấn so với dự báo tháng trước. Các nước ghi nhận sự tăng trưởng sản lượng như Argentina (tăng 1 triệu tấn), Brazil (tăng 2.5 triệu tấn) đã bù đắp được sự sụt giảm từ Mexico (1,1 triệu tấn). Tiêu thụ được dự kiến giảm 15 nghìn tấn  xuống mức 1133,77 triệu tấn, nên tồn kho cuối kỳ đã tăng khoảng 5,5 triệu tấn lên mức 314 triệu tấn. Tương tự như toàn cầu, tiêu thụ ngô Mỹ giảm 3,2 triệu tấn xuống mức 311,5 triệu tấn.

+ Về thương mại, hai nước Nam Mỹ là Argentina và Brazil đều ghi nhận sự tăng trưởng xuất khẩu, khi tăng tương ứng 500 nghìn tấn và 1,5 triệu tấn. Ngược lại, xuất khẩu ngô Mỹ tiếp tục giảm 2 triệu tấn, xuống mức 58 triệu tấn.

Bảng 12: Cung - cầu ngô thế giới, 2014-2019 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2017/18

1076,4

152,0

1086,7

340,4

2018/19 – Dự báo tháng 3/2019

1101,1

164,6

1133,8

308,5

2018/19 – Dự báo tháng 4/2019

1107,4

165,8

1133,7

314,0

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 4/2019

- Đối với lúa mỳ, trong báo cáo tháng này, Bộ NN Mỹ cắt giảm nhẹ dự báo sản lượng lúa mỳ toàn cầu xuống mức 732.9 triệu tấn, giảm 100 nghìn tấn so với báo cáo tháng trước do sự sụt giảm từ một số nước khác. Các nhà sản xuất lớn dự báo sản lượng được giữ nguyên.

+ Sản lượng giảm nhẹ trong khi tiêu thụ lại dự kiến giảm khá mạnh, khi giảm hơn 2,9 triệu tấn so với báo cáo hồi tháng 3, xuống mức 739,2 triệu tấn. Một số nước ghi nhận sự sụt giảm mạnh như Indonesia (giảm 500.000 tấn), EU (giảm 500 nghìn tấn)… Tồn kho cuối kỳ do vậy mà tăng hơn 5 triệu tấn so với dự báo hồi tháng 3, lên mức 275,6 triệu tấn.

Bảng 13: Cung - cầu lúa mỳ thế giới, 2014-2019 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2017/18

763,0

182,5

744,1

279,9

2018/19 – Dự báo tháng 3/2019

733,0

179,5

742,1

270,5

2018/19 – Dự báo tháng 4/2019

732,9

180,0

739,2

275,6

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 4/2019

- Trong báo cáo tháng này, Bộ NN Mỹ điều chỉnh tăng nhẹ dự báo sản lượng đậu tương Brazil lên mức 117 triệu tấn, tăng 500 nghìn tấn so với báo cáo tháng 3. Theo đó, sản lượng đậu tương toàn cầu niên vụ 2018/19 dự kiến đạt 360.6 triệu tấn, tăng nhẹ 500 nghìn tấn so với báo cáo tháng trước.

+ Nhu cầu đậu tương ép dầu dự kiến giảm nhẹ xuống mức 303,79 triệu tấn do sự sụt giảm của một số nước nhỏ.

Bảng 14: Cung - cầu đậu tương thế giới, 2014-2019 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Chế biến

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2017/18

339,4

153,1

153,5

295,2

101,3

2018/19 – Dự báo tháng 3/2019

360,1

154,2

151,2

303,9

107,1

2018/19 – Dự báo tháng 4/2019

360,6

154,3

151,2

303,8

107,4

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 4/2019

Do sản lượng đậu tương ép dầu giảm nên sản lượng khô đậu tương thế giới niên vụ 2018/19 dự kiến đạt 238,1 triệu tấn, giảm nhẹ 100 nghìn tấn so với dự báo tháng 3. Trong báo cáo tháng này Bộ NN Mỹ vẫn giữ dự báo nhập khẩu khô đậu tương Việt Nam ở mức 5 triệu tấn như 2 tháng trước, tăng 200 nghìn tấn so với năm ngoái.

Bảng 15: Cung - cầu khô đậu tương thế giới, 2014-2019 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Tiêu
thụ

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2017/18

232,4

64,4

60,4

228,9

12,4

2018/19 – Dự báo tháng 3/2019

238,2

66,8

62,7

234,5

11,8

2018/19 – Dự báo tháng 4/2019

238,1

66,8

62,7

234,5

11,8

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 4/2019

(Ghi chú: màu đỏ/xanh thể hiện xu hướng giảm/tăng)

II. GIÁ CẢ THẾ GIỚI

Tháng 3 giá ngô CBOT tiếp tục xu hướng giảm, trung bình tháng 3 giá ngô giao dịch trên sàn giao dịch Chicago đạt 146 USD/tấn, giảm 0,7% (tương đương giảm 1 USD/tấn) so với tháng trước và giảm 3,9% (tương đương giảm 6 USD/tấn) so với cùng kỳ năm trước. Triển vọng nguồn cung dồi dào tại Nam Mỹ tạo áp lực lớn lên ngô Mỹ trên thị trường xuất khẩu. Ở thị trường nội địa, nhu cầu ngô Mỹ cho mảng sản xuất ethanol cũng sụt giảm mạnh do lợi nhuận của ngành công nghiệp này thấp.

Hình 15: Giá ngô thế giới năm 2018-3/2019 (USD/tấn)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Đáng chú ý, giá lúa mỳ CBOT tháng 3 giảm rất mạnh, khi giảm tới 7,7% (tương đương giảm 14 USD/tấn) so với tháng trước do tồn kho lúa mỳ Mỹ vẫn rất cao. So với cùng kỳ năm ngoái, giá lúa mỳ tháng 3 năm nay cũng đã giảm 6,7% (tương đương giảm 12 USD/tấn).

Hình 16: Diễn biến giá lúa mỳ CBOT, 2018-3/2019

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Có cùng xu hướng giảm như ngô và lúa mỳ, trung bình tháng 3/2019, giá đậu tương CBOT đã giảm 0,9% so với tháng trước (tương đương giảm 3 USD/tấn) do triển vọng nguồn cung tại Nam Mỹ tăng bởi thời tiết cải thiện tại Brazil trong tháng 1 và 2.

Ngược lại, giá khô đậu tương lại tăng nhẹ 0,6% (tương đương tăng 2 USD/tấn) so với tháng trước, lên mức 340 USD/tấn do sản lượng đậu tương ép dầu giảm nên nguồn cung khô đậu tương toàn cầu có thể cũng sẽ giảm. Argentina – nước xuất khẩu khô đậu tương lớn nhất thế giới có thể xuất khẩu đậu tương thô nhiều hơn so với việc ép dầu bởi xuất khẩu đậu tương thô đang có lợi hơn so với xuất khẩu khô đậu tương và dầu đậu tương.

Hình 17: Diễn biến giá đậu tương, khô đậu tương CBOT, 2018-3/2019 (USD/tấn)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

PHỤ LỤC

Bảng 16: Lượng và kim ngạch nhập khẩu các loại nguyên liệu TACN trong tháng 3/2019

Nguyên liệu

 Lượng (tấn)

 Kim ngạch (USD)

Khô đậu tương

                        480.634

               185.555.472

Ngô hạt

                        431.751

                 89.962.722

Đậu tương

                        107.207

                 43.199.586

Lúa mỳ TACN

                        103.192

                 27.454.563

DDGS

                          92.155

                 21.932.395

Bột xương thịt

                          58.782

                 20.805.934

Khô dầu cọ

                          56.121

                    6.624.666

Cám gạo

                          42.887

                    6.733.858

Cám mỳ

                          41.826

                    8.017.028

Lúa mỳ thực phẩm

                          36.152

                 10.712.082

Phụ gia TACN

                          31.938

                 42.947.975

Gluten ngô

                          25.732

                    5.391.633

Khô dầu dừa

                          17.526

                    3.164.757

Bột gia cầm

                          17.062

                 12.448.487

Bột cá

                          16.072

                 19.839.763

Bã cải đắng

                          15.968

                    3.790.794

Bã cải ngọt

                          11.481

                    3.615.778

Bột lông vũ thủy phân

                            8.729

                    4.759.977

Bột gan mực

                            5.341

                    4.772.254

Khô dầu hướng dương

                            2.428

                       671.266

Khác

52.393

23.375.236

Tổng

                       1.655.377

545.776.226

Nguồn AgroMonitor tổng hợp từ TCHQ

Bảng 17: Sản lượng TACN cho gia súc, gia cầm và thủy sản (nghìn tấn)

 

Tháng

Gia súc và gia cầm

Thủy sản

 

1

1617,0

237,3

2

1350,0

243,9

3

1320,0

267,4

4

1262,1

280,7

5

1296,0

318,4

6

1365,0

332,5

7

1472,0

340,0

8

1516,2

375,6

9

1548,8

363,6

10

1595,2

371,4

11

1675,0

351,3

12

1758,8

360,8

2018

1

1290,4

447,8

2

1176,8

417,3

3

1174,8

464,7

4

1231,1

476,4

5

1156,5

514,7

6

1194,4

537,9

7

1170,3

531,9

8

1145,8

528,3

9

1119,3

552,9

10

1144,5

549,1

11

1163,4

546,4

12

1295,5

525,8

2019

1

1353,1

516,3

2

1177,3

450,8

3*

1288,4

500,4

Nguồn: Số liệu năm 2018 AgroMonitor tổng hợp từ Tổng cục Thống kê; 3/2019*  số liệu ước tính