Thức ăn chăn nuôi 11/2017 – Do lượng nhập về ở mức thấp trong nhiều tháng liên tiếp nên giá khô đậu tương miền Bắc tăng nóng trong tháng 10, tăng mạnh trong tháng 11

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thức ăn chăn nuôi 11/2017 – Do lượng nhập về ở mức thấp trong nhiều tháng liên tiếp nên giá khô đậu tương miền Bắc tăng nóng trong tháng 10, tăng mạnh trong tháng 11

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THÁNG 10/2017

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC:

  • Nguồn cung nhập khẩu có xu hướng giảm, trong khi nhu cầu các tháng cuối năm có xu hướng tăng do các nhà máy thực hiện giảm giá, khuyến mại để chạy sản lượng cuối năm, nhu cầu có chiều hướng tăng nên giá ngô đã có sự điều chỉnh tăng trong tháng 11. Trung bình tháng 11, giá ngô giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 4.607 đồng/kg và đạt 4.608 đồng/kg tại cảng Vũng Tàu, tương ứng tăng 1,1% và 0,6% so với tháng trước.
  • Do lượng nhập về ở mức thấp trong nhiều tháng liên tiếp nên giá khô đậu tương miền Bắc bắt đầu tăng nóng trong tháng 10 và tiếp tục đà tăng mạnh trong tháng 11. Trung bình tháng 11, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 9.362 đồng/kg, tăng gần 4% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.

TRIỂN VỌNG:

  • Theo ước tính của AgroMonitor, nhập khẩu ngô về Việt Nam trong tháng 12 chỉ đạt khoảng 517 nghìn tấn, ít hơn rất nhiều so với mức 758 nghìn tấn của tháng trước và mức 986 nghìn tấn của cùng kỳ năm 2016. Trong khi đó, tồn kho ngô của các DNTM nội địa có thể không quá nhiều bởi giá ngô ở mức thấp kéo dài trong 9 tháng đầu năm 2017, các DNTM thua lỗ nhiều nên các đơn vị này không tiến hành nhập nhiều mà chỉ nhập lượng đủ để giao cho các hợp đồng ký trước và còn dư ra lượng ít. Do đó với mức nhập khẩu như trên là tương đối ít nên giá ngô có thể sẽ điều chỉnh tăng tương đối mạnh trong tháng 12.
  • Đối với khô đậu tương, trong tháng 12, nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam dự kiến tiếp tục ở mức thấp, với 317 nghìn tấn. Trong đó lượng hàng về miền Bắc có thể chỉ khoảng 71 nghìn tấn nên thị trường khô đậu tương miền Bắc tiếp tục xảy ra tình trạng cháy hàng, giá nhiều khả năng sẽ tăng rất nóng. Đối với hàng tháng 1, dự kiến nguồn cung nhập khẩu chỉ khoảng 323 nghìn tấn nên giá khô đậu tương tháng 1 sẽ được giữ ở mức rất cao và nhiều khả năng phải bắt đầu từ tháng 3 giá khô đậu tương mới có dấu hiệu hạ nhiệt.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ: Ngược lại với ngô và lúa mỳ, giá đậu tương CBOT lại tiếp tục xu hướng tăng, khi tăng 1,1% so với tháng trước, lên mức 363 USD/tấn. Vụ thu hoạch tại Mỹ đã kết thúc, nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc vẫn ở mức cao là những thông tin hỗ trợ giá đậu tương đi lên. Tháng 11, giá khô đậu tương CBOT trung bình ổn định ở mức 349 USD/tấn.

DỰ BÁO USDA: Theo báo cáo cung-cầu ngày 12/12 của Bộ NN Mỹ, sản lượng ngô thế giới niên vụ 2017/18 kỳ vọng đạt 1,044 tỷ tấn, tăng 800 nghìn tấn so với dự báo tháng trước nhờ sự tăng trưởng từ Trung Quốc. Mặc dù nhiều nhà phân tích dự đoán sản lượng ngô Brazil chỉ dưới mức 90 triệu tấn nhưng trong báo cáo tháng này Bộ NN Mỹ vẫn giữ dự báo sản lượng ngô nước này ở mức 95 triệu tấn.

SỰ KIỆN TRONG NƯỚC:

  • 31/10: Hôm 31/10 Cục bảo về Thực vật đã ra công văn về việc “Tăng cường kiểm dịch thực vật nhập khẩu”, trong số các vật thể nhập khẩu và các đối tượng kiểm dịch phải đặc biệt lưu ý thì gồm có: Bột bã ngô từ Mỹ, Canada; Cám mì, cám gạo, khô dầu từ Ấn Độ; Lúa mỳ, ngô từ Mỹ, Nga, Ucraina … Thời gian vừa qua tại Việt Nam khi mặt hàng DDGS Canada bị siết chặt kiểm tra nhập khẩu (kiểm tra 100% số cont hàng nhập về Việt Nam) đã dẫn tới rủi ro cho chủ hàng có thể bị tái xuất, qua đó góp phần khiến giá DDGS giao dịch nội địa hiện vẫn ở mức cao, khoảng 5.700-5.850 đ/kg tại cảng HCM-Hải Phòng.
  • 01/11: 01/11 có nhà máy TACN đã đấu thầu để mua tổng cộng 66 nghìn tấn ngô Nam Mỹ theo hình thức nhập khẩu (mua giá Basic/Flat), trong đó 48 nghìn tấn về miền Nam và 18 nghìn tấn về miền Bắc, hàng giao tháng 1/2/3 năm 2018 (thời gian giao hàng bên cảng xuất, mỗi tháng giao 16 nghìn tấn về Nam và 6 nghìn tấn về Bắc). Những tin đồn ban đầu cho thấy giá trúng thầu có thể vào khoảng 185-186/187,8/189,2 USD/tấn cho hàng giao tháng 1/2/3 về cảng miền Nam (+3 USD/tấn về Bắc), tương đương quy đổi 4.600/4.660/4.684 đ/kg.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ:

  • 09/11: Hôm 09/11 Trung Quốc đã tuyên bố sẽ bỏ thuế giá trị gia tăng (GTGT 11%) đối với mặt hàng DDGS nhập khẩu, động thái được xem có thể là yếu tố giúp lượng hàng từ Mỹ nhập vào Trung Quốc gia tăng. Tuy nhiên thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp vẫn được giữ nguyên. Hiện Trung Quốc đang áp mức thuế chống bán phá giá đối với DDGS nhập khẩu từ Mỹ là 42,2-53,7%, thuế chống trợ cấp từ 11,2-12%.
  • 20/11: Ấn Độ đã tăng thuế nhập khẩu dầu thực vật lên mức cao nhất trong hơn một thập kỷ qua trong nỗ lực cố gắng hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước. Nước này đã tăng thuế nhập khẩu dầu cọ thô gấp đôi, lên mức 30% và dầu cọ tinh luyện từ 25% lên 40%. Thuế nhập khẩu dầu đậu tương thô từ 17,5% lên 30%, trong khi dầu đậu tương tinh luyện tăng từ 20% lên 35%.

PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC           

I. NGÔ HẠT

1. Diễn biến giá cả

Theo số liệu sơ bộ của TCHQ, trong tháng 11, nhập khẩu ngô của Việt Nam đạt 757,9 nghìn tấn, tuy giảm gần 13% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung nhập khẩu có xu hướng giảm, trong khi nhu cầu các tháng cuối năm có xu hướng tăng do các nhà máy thực hiện giảm giá, khuyến mại để chạy sản lượng cuối năm, nhu cầu có chiều hướng tăng nên giá ngô đã có sự điều chỉnh tăng trong tháng 11. Trung bình tháng 11, giá ngô giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 4.607 đồng/kg và đạt 4.608 đồng/kg tại cảng Vũng Tàu, tương ứng tăng 1,1% và 0,6% so với tháng trước. Ngoài ra, việc một số nhà máy TACN lớn đầu thầu mua nhiều ngô từ các DNTM nội địa mà không nhập khẩu trực tiếp cũng có tác dụng làm giảm tồn kho nguyên liệu nội địa, hỗ trợ giá ngô tăng.

Đối với ngô nội địa Sơn La, do thu hoạch ngô nội địa trong tháng 11 đã gần cuối vụ cùng với việc giá ngô nhập khẩu điều chỉnh tăng nên giá ngô nội địa cũng có xu hướng tăng, khi tăng 1% so với trung bình tháng 10, lên mức 4.704 đồng/kg. Tồn kho ngô Sơn La nội địa cuối năm nay có thể ít hơn cuối năm ngoái rất nhiều do đầu năm nay giá ngô dao động ở mức thấp, các nhà kho trữ kho lại bị thua lỗ nhiều nên năm nay họ đã bán nhiều từ đầu mùa.

Hình 1: Đồ thị giá ngô chào bán tại cảng miền Bắc và miền Nam 2016-11/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2016-11/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 3: So sánh giá ngô nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2016-11/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Triển vọng

Trên thị trường thế giới hiện nay thu hoạch ngô của Mỹ đã kết thúc do vậy trong thời gian tới những thông tin về tình hình thời tiết, tiến độ, năng suất cây trồng ở Nam Mỹ sẽ là những yếu tố chính có ảnh hưởng nhiều lên giá thị trường. Hiện tại Argentina đang đối mặt với tình trạng khô hạn, nếu tình trạng này kéo dài thì sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triên của ngô. Còn tại Brazil, hiện một số báo cáo phân tích đã cắt giảm mạnh dự báo sản lượng ngô niên vụ 2017/18 do giá ngô ở mức thấp khiến cho nông dân chuyển sang trồng đậu tương nhiều hơn, ngoài ra thời tiết năm nay tại Brazil có thể sẽ không thuận lợi khiến cho năng suất ngô sụt giảm. Informa dự báo sản lượng ngô niên vụ 2017/18 chỉ đạt 89 triệu tấn, giảm 3 triệu tấn so với dự báo tháng trước của họ. Safras ước tính tổng sản lượng ngô của Brazil ở mức 90,52 triệu tấn, giảm 18,87 triệu tấn so với niên vụ trước. INTL FCStone dự báo tổng sản lượng ngô Brazil chỉ đạt 86,9 triệu tấn cả hai vụ. Với những thông tin bất lợi như trên thì nhiều khả năng giá ngô thế giới sẽ có xu hướng tăng trong ngắn hạn.

Theo ước tính của AgroMonitor, nhập khẩu ngô về Việt Nam trong tháng 12 chỉ đạt khoảng 517 nghìn tấn, ít hơn rất nhiều so với mức 758 nghìn tấn của tháng trước và mức 986 nghìn tấn của cùng kỳ năm 2016. Trong khi đó, tồn kho ngô của các DNTM nội địa có thể không quá nhiều bởi giá ngô ở mức thấp kéo dài trong 9 tháng đầu năm 2017, các DNTM thua lỗ nhiều nên các đơn vị này không tiến hành nhập nhiều mà chỉ nhập lượng đủ để giao cho các hợp đồng ký trước và còn dư ra lượng ít. Do đó với mức nhập khẩu như trên là tương đối ít nên giá ngô có thể sẽ điều chỉnh tăng tương đối mạnh trong tháng 12.

Về đầu ra chăn nuôi, giá heo có thể có triển vọng tăng trong thời gian tới do xuất khẩu heo biên mậu qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc khá tốt. Nhu cầu tiêu thụ thịt của Trung Quốc hồi phục mạnh mẽ, đặc biệt các tỉnh miền Bắc Trung Quốc. Ngoài ra, việc Trung Quốc phá bỏ các trại nuôi nhỏ, lẻ không đủ tiêu chuẩn môi trường và dịch chuyển đàn lên vùng nuôi chính ở khu vực phía Bắc có thể khiến cho tổng đàn của Trung Quốc trong ngắn hạn giảm, do đó Trung Quốc có thể sẽ phải tăng nhập heo của Việt Nam để bổ sung lượng thiếu hụt. Vì vậy nhu cầu tiêu thụ ngô có thể sẽ tăng mạnh hơn so với dự kiến trước đó.

3. Thương mại

Bảng 1: Lượng nhập khẩu ngô từ 01/2016 đến 11/2017 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2016

2017

2016

2017

1

      412.616

      227.061

      363.371

      363.297

2

      324.574

      476.725

      161.439

      154.245

3

      286.380

      108.476

      517.363

      183.875

4

      249.745

      384.481

      225.305

      379.161

5

      214.795

      381.782

      218.055

      490.192

6

      165.346

      316.071

      163.843

      227.704

7

      213.124

      244.679

      234.178

      284.284

8

      270.092

      276.405

      321.394

      313.876

9

      481.309

      345.017

      705.178

      385.957

10

      527.545

      424.168

      661.870

      446.448

11

      398.119

      321.568

      304.296

      436.342

12

      527.595

 

      458.647

 

Tổng

   4.071.241

   3.506.433

   4.334.940

   3.665.381

Nguồn: AgroMonitor

Bảng 2: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 11/2017

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

TĐ T&T

41,0

TM

CT CP MAVIN AUSTFEED

4,0

SX

CT CP Đại Hữu

3,8

SX

CT TNHH JAPFA COMFEED VN

3,4

SX

CT CP ABC VN

3,1

SX

CT TNHH Minh Hiếu - Hưng Yên

3,0

SX

CT TNHH New Hope VN

3,0

SX

CT CP PT CN Nông thôn

2,9

SX

CT CP DD Hồng Hà

2,8

SX

CT CP Nam Việt

2,1

SX

CT TNHH Cj Vina Agri

1,6

SX

CT CP Anova Feed

1,5

SX

CT TNHH Cargill VN

1,5

SX

CT CP XNK Nhất Thành

1,5

TM

CT TNHH LEONG HUP FEEDMILL VN

1,5

SX

CT TNHH SX - TM Đại Uy

1,4

SX

CT CP DD Quốc Tế Đài Loan

1,4

SX

CT CP TM & Vận Tải Tràng An

1,4

TM

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

1,4

SX

CT TNHH SX - TM Tân Châu

1,3

SX

Khác

16,3

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 50%, DNTM chiếm 50% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 4: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 11/2017, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng 3: Tỷ trọng nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 11/2017

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

TĐ T&T

26,9

TM

CT TNHH TM XNK Khai Anh - Bình Thuận

18,0

TM

CT TNHH ANT

5,9

SX

CT TNHH EMIVEST FEEDMILL VN

5,7

SX

CT CP hóa chất CN Tân Long

5,2

TM

CT CP Greenfeed VN

3,8

SX

CT TNHH New Hope VN

2,6

SX

CT TNHH JAPFA COMFEED VN

2,5

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

2,5

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

2,5

SX

CT TNHH Cargill VN

2,4

SX

CT TNHH ARCHER DANIELS MIDLAND VN

2,3

TM

CT TNHH TM - DV XNK Miền Tây

2,2

TM

CT TNHH Vi Na

1,6

SX

CT CP Anova Trade

1,4

TM

CT CP Anova Feed

1,3

SX

CT TNHH XNK Vi Na Đại Việt

1,2

TM

CT CP TM & Vận Tải Tràng An

1,2

TM

CT TNHH Cj Vina Agri

1,1

SX

CT TNHH DE HEUS

1,1

SX

Khác

8,7

 

Tổng

100,0

DNSX chiếm 41%, DNTM chiếm 59% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 5: Nhập khẩu ngô theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 11/2017, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

II. KHÔ ĐẬU TƯƠNG

1. Diễn biến giá cả

Do lượng nhập về ở mức thấp trong nhiều tháng liên tiếp nên giá khô đậu tương miền Bắc bắt đầu tăng nóng trong tháng 10 và tiếp tục đà tăng mạnh trong tháng 11. Trung bình tháng 11, giá khô đậu tương giao dịch tại cảng Cái Lân đạt 9.362 đồng/kg, tăng gần 4% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ, trong tháng 11, lượng khô đậu tương nhập khẩu về cảng miền Nam chỉ đạt 54 nghìn tấn.

Có cùng xu hướng, giá khô đậu tương miền Nam cũng tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, lên mức 9.165 đồng/kg trong tháng 11. Miền Bắc xảy ra tình trạng cháy hàng, nhiều DNTM có xu hướng gom hàng từ Nam kéo ra Bắc để trả nhà máy và bán nhưng lượng cũng không có nhiều nên cuối tháng 11 giá khô đậu tương giao ngay tại miền Bắc đã lên trên 10.000 đồng/kg và thậm chí đến tuần thứ hai của tháng 12 một số DNTM đã đẩy giá chào bán khô đậu tương lên mức 11.000 đồng/kg, tuy nhiên lượng cũng không có nhiều.

So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế quy đổi của các DNTM và giá giao dịch tại cảng có thể thấy, nhờ sự tăng giá mạnh trong tháng 11 nên các DNTM đã có thể bán khô đậu tương cao hơn giá thành nhiều, chênh lệch giữa giá bán thực tế và chi phí nhập khẩu về cảng Vũng Tàu là 738 đồng/kg và tại cảng Cái Lân là 1.063 đồng/kgs.

Hình 6: Đồ thị giá khô đậu tương chào bán tại cảng miền Bắc và miền Nam 2014-11/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor

Hình 7: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Bắc, 2016-11/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 8:: So sánh giá khô đậu tương nhập khẩu thực tế của DNTM và giá giao dịch tại cảng miền Nam, 2016-111/2017 (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Triển vọng

Theo số liệu thống kê của AgroMonitor, trong tháng 12, nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam tiếp tục ở mức thấp, với 317 nghìn tấn. Trong đó lượng hàng về miền Bắc có thể chỉ khoảng 71 nghìn tấn nên thị trường khô đậu tương miền Bắc tiếp tục xảy ra tình trạng cháy hàng, giá nhiều khả năng sẽ tăng rất nóng. Đối với hàng tháng 1, dự kiến nguồn cung nhập khẩu chỉ khoảng 323 nghìn tấn nên giá khô đậu tương tháng 1 sẽ được giữ ở mức rất cao và nhiều khả năng phải bắt đầu từ tháng 3 giá khô đậu tương mới có dấu hiệu hạ nhiệt.

Xét về nhu cầu, theo tham vấn của AgroMonitor đối với các nhà máy thì sản lượng thức ăn cho cá tháng 12 vẫn tiếp tục tăng khá do cá hiện đang trong giai đoạn lớn, phải tầm tháng 1, tháng 2 mới bắt đầu thu hoạch. Tuy nhiên, sản lượng thức ăn cho tôm lại giảm do thu hoạch tôm vụ 2 đã kết thúc, hiện người nuôi đang vệ sinh ao/đầm để chuẩn bị thả nuôi vụ mới vào đầu năm sau. Ngoài ra, tại miền Bắc do thời tiết bắt đầu lạnh nên tỷ lệ thả nuôi mới cũng giảm, do đó theo ước tính của AgroMonitor trong tháng 12 sản lượng thức ăn thủy sản của Việt Nam tăng thêm khoảng 2% so với tháng trước. Theo đó nhu cầu khô đậu tương cho thức ăn thủy sản cũng tăng 2% (tương đương tăng 3 nghìn tấn) so với tháng 11.

Bảng 4: Thông tin hàng tàu khô đậu tương dự kiến cập cảng Việt Nam trong tháng 12/2017

Tên tàu

Lượng (tấn)

Xuất xứ

Chủ hàng

Tình trạng tàu

Ngày rời cảng

Ngày dự kiến về VN

Vũng Tàu (tấn)

Cái Lân (tấn)

DARYA SHANTI

        44,600

Argentina

Marubeni

Đã rời cảng

22/10/17

29/11/17

44600

0

LEON

        44,000

Mỹ

 AGP

Đã rời cảng

11/11/17

03/12/17

0

         44,000

MG EARTH

          6,300

Brazil

Marubeni

Đã rời cảng

04/11/17

12/12/17

0

6300

ASIAN TRIUMPH

        37,574

Argentina

 Marubeni

Đã rời cảng

09/11/17

13/12/17

37574

0

YASA H MEHMET

        63,543

Argentina

Cargill

Đã rời cảng

11/11/17

17/12/17

   

SASEBO GLORY

        70,183

Argentina

 Glencore

Đã rời cảng

14/11/17

26/12/17

         18,185

51998

Nguồn: AgroMonitor

3. Thương mại

Bảng 5: Lượng nhập khẩu khô đậu tương từ 01/2016 đến 11/2017 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2016

2017

2016

2017

1

         68.599

         62.373

      158.103

      247.312

2

      149.805

      353.180

      169.851

      201.864

3

      151.150

         99.441

      210.082

      236.576

4

      101.729

      217.885

      264.801

      166.070

5

      103.135

         76.666

      257.665

      273.372

6

      183.811

      177.995

      306.811

      411.485

7

      222.016

      115.716

      332.113

      214.701

8

      205.125

         66.772

      393.013

      289.776

9

      144.615

      134.214

      252.588

      247.789

10

         74.678

         66.125

      284.665

      280.777

11

      133.539

         54.000

      263.016

      231.976

12

      107.106

 

      208.299

 

Tổng

   1.645.309

   1.424.368

   3.101.008

   2.801.699

Nguồn: AgroMonitor

Bảng 6: Tỷ trọng nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 11/2017

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT CP ABC VN

13,0

SX

CT CP Nam Việt

7,4

SX

CT CP XNK Nhất Thành

5,3

TM

CT TNHH DV NN Văn Sơn

5,3

TM

CT TNHH Cj Vina Agri

5,3

SX

CT TNHH SX - TM Đại Uy

5,3

SX

CT CP Appe Jv VN

4,6

SX

CT CP DD Quốc Tế Đài Loan

4,4

SX

CT CP MAVIN AUSTFEED

4,1

SX

CT CP TACN Pháp Việt

3,8

SX

CT CP CN sinh học Tân Việt

3,5

SX

CT TNHH Tong Wei VN

3,2

SX

CT CP SX - TM Thành Long

3,0

SX

CT CP SX - TM Hoàn Dương

2,6

SX

CT CP Việt Pháp

2,6

SX

CT TNHH Lạc Hồng

2,6

SX

CT CP Thuận Phát VN

2,0

TM

CT TNHH LEONG HUP FEEDMILL VN

1,8

SX

CT CP CN Sinh Học Anyou VN

1,8

SX

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

1,8

SX

Khác

16,8

 

Tổng

100,0

DNSX 85%, DNTM 15% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 9: Nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Bắc trong tháng 11/2017, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Tại khu vực miền Nam, lượng khô đậu tương về cảng trong tháng 10 đạt 300,1 nghìn tấn, hàng nhập khẩu trực tiếp của DNSX chiếm hơn 64% tỷ trọng.

Bảng 7: Tỷ trọng nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 10/2017

Doanh nghiệp

Tỷ trọng (%)

Loại DN

CT CP Chăn nuôi C,P, VN

26,2

SX

TĐ T&T

16,0

TM

CT TNHH TM XNK Khai Anh - Bình Thuận

10,4

TM

CT TNHH UNI - PRESIDENT VN

4,5

SX

CT CP Việt Pháp Proconco

4,1

SX

CT TNHH ANT

4,1

SX

CT TNHH Cargill VN

3,4

SX

CT TNHH JAPFA COMFEED VN

2,4

SX

CT TNHH DE HEUS

2,3

SX

CT CP Greenfeed VN

1,8

SX

CT TNHH EMIVEST FEEDMILL VN

1,7

SX

CT TNHH SX - TM - DV Trọng Phúc

1,6

SX

CT TNHH Tong Wei VN

1,6

SX

CT TNHH XNK Vi Na Đại Việt

1,6

TM

CT TNHH SX - TM Đại Uy

1,4

SX

CT CP XNK Nhất Thành

1,4

TM

CT CP DD NN Quốc tế (Anco)

1,2

SX

CT TNHH TAGS Lái Thiêu

1,1

SX

CT TNHH MTV Marubeni VN

1,0

TM

CT TNHH Dachan (Vn)

1,0

SX

Khác

11,2

 

Tổng

100,0

DNSX 67%, DNTM 33% tỷ trọng

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 10: Nhập khẩu khô đậu tương theo doanh nghiệp về cảng miền Nam trong tháng 11/2017, so sánh với tháng trước và cùng kỳ năm trước (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

III. Cám gạo

1. Diễn biến giá cả và triển vọng

Trong tháng 11 giá cám gạo nội địa bình quân  tại kho ở khu vực Sa Đéc, Lấp Vò, Cái Bè (cám khô, xơ dưới 7%, kho gạo bán ra) quanh mức 5.799 đ/kg tăng mạnh hơn 1,5% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Ngay từ đầu tháng 10 giá cám gạo nội địa đã tăng mạnh do nguồn cung khan hiếm, giá bán cám được quyết định bởi các nhà máy gạo (các nhà máy có cám) còn các đơn vị thương mại cần hàng để trả nợ hợp đồng vẫn phải gom mua và chạy theo giá lên. Đến đầu tháng 11, giá điều chỉnh giảm trở lại bởi giá thiết lập ở mức quá cao khiến cho nhu cầu tiêu thụ yếu. Tuy vậy đến giữa tháng 11 giá lại bắt đầu tăng cao trở lại, về mốc 6.000 đồng/kg khi mà các nhà máy và DNTM không thế chờ được nữa buộc phải mua vào lại. Đến cuối tháng 11 giá điều chỉnh giảm nhẹ bởi nguồn cung cám Campuchia về nhiều hơn, các thương mại đẩy mạnh mua vào để dìm giá nội địa đi xuống. Tuy nhiên do nguồn cung vẫn rất khan hiếm nên nhiều khả năng giá cám gạo sẽ tiếp tục dao động ở mức cao cho đến hết tháng 12 và chỉ có thể hạ nhiệt vào đầu năm tới khi thu hoạch lúa Đông Xuân nhiều hơn.

Hình 11: Đồ thị giá cám gạo tại Sa Đéc, Cái Bè (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thương mại

Bảng 8: Lượng nhập khẩu cám gạo từ tháng 01/2016–11/2017 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2016

2017

2016

2017

1

21.570

     10.882

18.726

       9.990

2

14.182

     15.039

15.357

     15.791

3

19.519

     16.169

20.658

       9.080

4

13.135

     17.345

12.950

     12.210

5

11.025

     18.848

21.055

       7.106

6

11.523

       6.325

9.689

       9.516

7

7.984

     13.782

9.491

           813

8

6.518

       7.397

5.056

       7.865

9

4.404

     15.794

3.601

     11.848

10

4.697

     14.896

8.108

       8.320

11

5.235

15.560

2.963

     11.465

12

5.901

 

6.372

 

Tổng

125.695

152,037

134.028

104,005

Nguồn: AgroMonitor

IV. Lúa mỳ

Đối với lúa mỳ, do nguồn cung nhập khẩu về tương đối nhiều nên trong tháng 11, giá lúa mỳ TACN giao dịch tại cảng Vũng Tàu đạt trung bình 4.907 đồng/kg, giảm 0,4% so với tháng trước. Theo số liệu sơ bộ của TCHQ, trong tháng 11 nhập khẩu lúa mỳ TACN về cảng miền Nam đạt 84,2 nghìn tấn.

Ngược lại với miền Nam, tại miền Bắc giá lúa mỳ tăng nhẹ, với mức tăng 0,6% so với tháng trước, lên mức 4.959 đồng/kg xá cảng Cái Lân. Theo số liệu sơ bộ của TCHQ, trong tháng 11 nhập khẩu lúa mỳ TACN về cảng miền Bắc đạt 54,5 nghìn tấn. Trong tháng 12, với việc giá ngô có thể tăng mạnh và giá sắn lát ở mức cao thì nhiều khả năng giá lúa mỳ TACN cũng sẽ có sự điều chỉnh tăng. Tuy nhiên mức tăng có thể không quá mạnh bởi nguồn cung nhập khẩu dự kiến vẫn rất dồi dào. Theo thương nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 3, một DNTM lớn dự định sẽ nhập 10 tàu lúa mỳ Nga về Việt Nam.

Hình 12: Đồ thị giá lúa mỳ TACN bán tại cảng miền Bắc và miền Nam (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thương mại

Bảng 9: Lượng nhập khẩu lúa mỳ TACN từ 01/2016 đến 11/2017 (tấn)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tháng

2016

2017

2016

2017

1

         39.629

         30.427

      111.853

         70.282

2

           3.918

         76.464

      125.588

      203.979

3

           6.338

      374.898

         32.763

      366.936

4

         49.240

         67.527

      200.205

         54.384

5

         67.650

      165.664

      107.120

         83.869

6

         78.542

      123.471

         27.736

      130.937

7

               786

      103.625

         78.485

      126.298

8

      166.063

         44.220

      397.462

      211.273

9

      175.814

           6.077

      386.408

           8.606

10

      115.289

         75.721

      178.146

      115.818

11

         90.799

         54.541

      163.815

         84.261

12

         74.265

 

      131.456

 

Tổng

      868.332

1.122.635

   1.941.038

1.456.642

Nguồn: AgroMonitor

PHẦN 2: THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

I. DỰ BÁO CUNG – CẦU NGŨ CỐC THẾ GIỚI

- Theo báo cáo cung-cầu ngày 12/12 của Bộ NN Mỹ, sản lượng ngô thế giới niên vụ 2017/18 kỳ vọng đạt 1,044 tỷ tấn, tăng 800 nghìn tấn so với dự báo tháng trước nhờ sự tăng trưởng từ Trung Quốc. Mặc dù nhiều nhà phân tích dự đoán sản lượng ngô Brazil chỉ dưới mức 90 triệu tấn nhưng trong báo cáo tháng này Bộ NN Mỹ vẫn giữ dự báo sản lượng ngô nước này ở mức 95 triệu tấn.

Về nhu cầu tiêu thụ, dự kiến tổng nhu cầu ngô năm 2017/18 sẽ đạt khoảng 1,068 tỷ tấn, tăng 1,4 triệu tấn so với dự báo tháng trước. Mức tăng nhu cầu lớn hơn mức tăng sản lượng nhưng do dự trữ vụ cũ mang sang được điều chỉnh tăng nên dự kiến tồn kho cuối niên vụ 2017/18 vẫn đạt khoảng 204 triệu tấn, tăng 200 nghìn tấn so với dự báo tháng 11.

Cung - cầu ngô thế giới, 2014-2017 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

1009.0

127.8

977.6

206.2

2015/16

959.7

136.7

958.6

209.3

2016/17

1074.7

141.8

1062.6

226.5

2017/18 – Dự báo tháng 11/2017

1043.9

151.4

1066.6

203.8

2017/18 – Dự báo tháng 12/2017

1044.7

151.4

1068.0

204.0

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 12/2017

- Báo cáo cung-cầu tháng này Bộ NN Mỹ điều chỉnh tăng khá mạnh sản lượng lúa mỳ thế giới niên vụ 2017/18, khi tăng hơn 3,2 triệu tấn so với dự báo tháng trước, lên mức 755,2 triệu tấn nhờ sự tăng trưởng của Canada. Sản lượng lúa mỳ Canada ước đạt 30 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với dự báo tháng trước.

Do sản lượng tăng nên dự kiến sản lượng lúa mỳ xuất khẩu của Canada sẽ tăng 1 triệu tấn so với dự báo tháng 11, lên mức 22 triệu tấn. Bộ NN Mỹ cũng điều chỉnh tăng dự báo xuất khẩu lúa mỳ Nga và Ucraina thêm 500 nghìn tấn, lên mức 33,5 triệu tấn và 17 triệu tấn.

Cung - cầu lúa mỳ thế giới, 2014-2017 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản lượng

Thương mại

Tiêu thụ

Tồn kho

2014/15

725.9

161.4

705.4

214.5

2015/16

734.8

170.8

709.0

241.9

2016/17

753.8

182.2

739.6

255.6

2017/18 – Dự báo tháng 11/2017

751.9

182.1

740.0

267.5

2017/18 – Dự báo tháng 12/2017

755.2

183.7

742.1

268.1

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 12/2017

- Đối với đậu tương, Bộ NN Mỹ cắt giảm nhẹ dự báo sản lượng đậu tương toàn cầu 400 nghìn tấn, xuống mức 348,4 triệu tấn. Sản lượng các nước lớn như Mỹ, Brazil, Argentina đều không có sự điều chỉnh so với báo cáo tháng trước.

Xuất khẩu đậu tương Argentina trong năm kinh doanh 2017/18 được kỳ vọng tăng 500 nghìn tấn, lên mức 8,5 triệu tấn do các tháng cuối năm 2017 nông dân và nhà xuất khẩu găm hàng, hạn chế bán ra để chờ xuất sau thời điểm 01/01/2018 (khi thuế xuất khẩu giảm 0,5%/tháng).

Cung - cầu đậu tương thế giới, 2014-2017 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Chế biến

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2014/15

318.8

125.9

122.2

262.7

77.1

2015/16

312.7

132.8

131.9

278.6

73.0

2016/17

351.2

147.6

144.6

288.5

96.2

2017/18 – Dự báo tháng 11/2017

348.8

152.4

150.1

301.9

97.8

2017/18 – Dự báo tháng 12/2017

348.4

152.4

150.4

301.5

98.3

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 12/2017

- Trong báo cáo cung-cầu tháng 12, sản lượng khô đậu tương các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Argentina cũng không có sự điều chỉnh so với tháng trước.

Các chỉ tiêu về thương mại cũng không có nhiều thay đổi so với dự báo trước.

Cung - cầu khô đậu tương thế giới, 2014-2017 (triệu tấn)

Niên vụ

Sản
lượng

Thương mại

Tiêu
thụ

Tồn
kho

Xuất khẩu

Nhập khẩu

2014/15

207.2

63.6

60.1

202.0

12.2

2015/16

218.6

67.6

63.9

215.8

11.5

2016/17

226.4

65.0

60.7

222.4

12.2

2017/18 – Dự báo tháng 11/2017

237.1

67.2

64.0

234.2

12.0

2017/18 – Dự báo tháng 12/2017

236.9

67.2

63.9

233.8

12.3

Nguồn: FAS/USDA báo cáo tháng 12/2017

 (Ghi chú: màu đỏ/xanh thể hiện xu hướng giảm/tăng)

II. GIÁ CẢ THẾ GIỚI

Tháng 10 giá ngô CBOT tiếp tục chiều hướng giảm, khi giảm 1,5% so với tháng trước và giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước, xuống mức 135 USD/tấn. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do triển vọng năng suất ngô Mỹ tăng và áp lực nguồn cung từ vụ thu hoạch kỷ lục tại Mỹ. Đến cuối tháng 11, vụ thu hoạch ngô tại Mỹ đã kết thúc, tình hình thời tiết tại Nam Mỹ sẽ chi phối rất lớn đến diễn biến giá ngô thế giới thời gian tới.

Hình 14: Diễn biến giá ngô CBOT, 2016-11/2017 (USD/tấn, FOB)

Nguồn: IMF

Có cùng xu hướng với ngô, giá lúa mỳ CBOT tháng 11 cũng giảm gần 1,9% so với tháng trước, xuống mức 156 USD/tấn. Nguồn cung kỷ lục tại biển Đen, lúa mỳ Nga xuất khẩu với giá hết sức cạnh tranh là nguyên nhân chính đẩy giá lúa mỳ thế giới đi xuống.  

Hình 15: Diễn biến giá lúa mỳ CBOT, 2016-11/2017 (USD/tấn)

Nguồn: IMF

Ngược lại với ngô và lúa mỳ, giá đậu tương CBOT lại tiếp tục xu hướng tăng, khi tăng 1,1% so với tháng trước, lên mức 363 USD/tấn. Vụ thu hoạch tại Mỹ đã kết thúc, nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc vẫn ở mức cao là những thông tin hỗ trợ giá đậu tương đi lên. Tháng 11, giá khô đậu tương CBOT trung bình ổn định ở mức 349 USD/tấn.

Hình 16: Diễn biến giá đậu tương và khô đậu tương CBOT, 2016-11/2017 (USD/tấn)

Nguồn: IMF

PHỤ LỤC

I. SỰ KIỆN TRONG NƯỚC

- 31/10: Hôm 31/10 Cục bảo về Thực vật đã ra công văn về việc “Tăng cường kiểm dịch thực vật nhập khẩu”, trong số các vật thể nhập khẩu và các đối tượng kiểm dịch phải đặc biệt lưu ý thì gồm có: Bột bã ngô từ Mỹ, Canada; Cám mì, cám gạo, khô dầu từ Ấn Độ; Lúa mỳ, ngô từ Mỹ, Nga, Ucraina … Thời gian vừa qua tại Việt Nam khi mặt hàng DDGS Canada bị siết chặt kiểm tra nhập khẩu (kiểm tra 100% số cont hàng nhập về Việt Nam) đã dẫn tới rủi ro cho chủ hàng có thể bị tái xuất, qua đó góp phần khiến giá DDGS giao dịch nội địa hiện vẫn ở mức cao, khoảng 5.700-5.850 đ/kg tại cảng HCM-Hải Phòng.

- 01/11: 01/11 có nhà máy TACN đã đấu thầu để mua tổng cộng 66 nghìn tấn ngô Nam Mỹ theo hình thức nhập khẩu (mua giá Basic/Flat), trong đó 48 nghìn tấn về miền Nam và 18 nghìn tấn về miền Bắc, hàng giao tháng 1/2/3 năm 2018 (thời gian giao hàng bên cảng xuất, mỗi tháng giao 16 nghìn tấn về Nam và 6 nghìn tấn về Bắc). Những tin đồn ban đầu cho thấy giá trúng thầu có thể vào khoảng 185-186/187,8/189,2 USD/tấn cho hàng giao tháng 1/2/3 về cảng miền Nam (+3 USD/tấn về Bắc), tương đương quy đổi 4.600/4.660/4.684 đ/kg.

- 08/11: có nhà máy TACN tại miền Nam đã tiến hành đấu thầu để mua ngô (mua nhập khẩu/mua nội địa) giao tháng 1-2-3-4 (thời gian giao hàng tới nhà máy) với lượng 3.500 tấn/tháng. Theo thương nhân mức giá này CNF thấp nhất mà các nhà cung cấp nước ngoài hiện nay có thể đồng ý bán cho cho hàng ngô Nam Mỹ giao tháng 1-2-3 (thời gian giao bên cảng xuất) vào khoảng 186-187 USD/tấn về cảng miền Nam, tương đương quy đổi 4.625 đ/kg. Ngoài ra nhà máy này cũng đấu thầu để mua khô đậu tương với lượng 2.000 tấn/tháng cho hàng giao tháng 2-3-4 tới nhà máy.

-21/11: Có nhà máy TACN lớn sẽ đấu thầu mua nhập khẩu hoặc nội địa 1.800 tấn khô dầu cọ về khu vực miền Nam. Trong đó 800 tấn giao tháng 12 từ 15/12/2017-15/01/2018 (tại cảng HCM/kho người mua) và 1.000 tấn giao tháng 1/2018 (tại cảng HCM/kho người mua). Ngoài ra, nhà máy này cũng đấu thầu mua nhập khẩu hoặc nội địa 900 tấn khô dầu dừa về khu vực miền Nam. Trong đó 270 tấn giao từ 15-31/12/2017 (tại cảng HCM/kho người mua); 450 tấn giao tháng 1/2018 (tại cảng HCM/kho người mua) và 180 tấn giao 01-15/02/2018 (tại cảng HCM/kho người mua).

- 29/11: có nhà máy TACN lớn đầu thầu mua 38 nghìn tấn ngô, giá trúng thầu ở quanh mức 185 USD/tấn (tương đương khoảng 4.585 đồng/kg) về cảng miền Nam và 188 USD/tấn (tương đương khoảng 4.635 đồng/kg) về cảng miền Bắc. Có tin đồn, DNTM lớn của Việt Nam trúng toàn bộ lô này.

II. SỰ KIỆN QUỐC TẾ

- 02/11: Theo báo cáo của Văn phòng USDA tại Trung Quốc, nhập khẩu đậu tương của nước này trong năm 2017/18 có thể tăng lên mức kỷ lục 99,8 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với báo cáo tháng 10 của USDA.

- 06/11: Chính phủ Iraq xác nhận đã mua 500 nghìn tấn lúa mỳ mùa đông đỏ cứng của Mỹ.

- 07/11: Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, trong tháng 10 nước này đã nhập 5,86 triệu tấn đậu tương, giảm 28% so với tháng trước và thấp hơn kỳ vọng thị trường.

- 09/11: Hôm 09/11 Trung Quốc đã tuyên bố sẽ bỏ thuế giá trị gia tăng (GTGT 11%) đối với mặt hàng DDGS nhập khẩu, động thái được xem có thể là yếu tố giúp lượng hàng từ Mỹ nhập vào Trung Quốc gia tăng. Tuy nhiên thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp vẫn được giữ nguyên. Hiện Trung Quốc đang áp mức thuế chống bán phá giá đối với DDGS nhập khẩu từ Mỹ là 42,2-53,7%, thuế chống trợ cấp từ 11,2-12%.

- 13/11: Hàn Quốc đấu thầu mua 65 nghìn tấn ngô, giá thấp nhất là 188 USD (C&F).

- 14/11: Hàn Quốc tiếp tục mua 60 nghìn tấn ngô Mỹ, với giá 191,96 USD/tấn lấy từ Vịnh Mỹ hoặc Panawa.

- 15/11: Hàn Quốc mua 68 nghìn tấn ngô, nguồn gốc tùy chọn, với giá 188,78 USD/tấn (C&F).

- 15/11: Ai Cập sẽ tăng cường kiểm tra trở lại đối với lúa mỳ nhập khẩu và không chấp nhận lúa mỳ nhiễm nấm ergot – một loại nấm phổ biến trong lúa mỳ. Động thái này có thể khiến tốc độ nhập khẩu lúa mỳ của Ai Cập chậm lại.

- 15/11: Trong cuộc thăm dò của Reuters với 11 nhà phân tích, sản lượng đậu tương của Brazil niên vụ 2017/18 ước đạt 109,4 triệu tấn, cao hơn so với mức 108 triệu tấn dự báo hiện tại của USDA nhưng thấp hơn mức 114 triệu tấn của năm ngoái.

- 15/11: Ai Cập tuyên bố sẽ tăng cường kiểm tra trở lại đối với lúa mỳ nhập khẩu và không chấp nhận lúa mỳ nhiễm nấm ergot – một loại nấm phổ biến trong lúa mỳ. Động thái này có thể khiến tốc độ nhập khẩu lúa mỳ của Ai Cập chậm lại.

- 20/11: Có tin đồn, Mỹ đã bán ngô cho Trung Quốc, hàng đi từ cảng phía Tây Bắc Thái Bình Dương. Tuy các kho dự trữ ở Trung Quốc còn lượng ngô rất lớn nhưng chất lượng rất kém, chứa nhiều mycotoxin.

- 20/11: Ấn Độ đã tăng thuế nhập khẩu dầu thực vật lên mức cao nhất trong hơn một thập kỷ qua trong nỗ lực cố gắng hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước. Nước này đã tăng thuế nhập khẩu dầu cọ thô gấp đôi, lên mức 30% và dầu cọ tinh luyện từ 25% lên 40%. Thuế nhập khẩu dầu đậu tương thô từ 17,5% lên 30%, trong khi dầu đậu tương tinh luyện tăng từ 20% lên 35%.

III. LƯỢNG NHẬP KHẨU CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU TACN TRONG THÁNG 10/2017

Bảng 16: Lượng nhập khẩu các loại nguyên liệu TACN trong tháng 10/2017

Loại nguyên liệu

Tháng 10/2017 (nghìn tấn)

Thay đổi so với tháng trước (%)

Thay đổi so với cùng kỳ năm trước (%)

Ngô hạt

487

26

-26

Khô đậu tương

300

21

5

Lúa mỳ TACN

122

1,318

-31

Lúa mỳ thực phẩm

88

-37

-48

Đậu tương

78

-2

-50

DDGS

28

12

-47

Khô dầu cọ

23

33

134

Phụ gia TACN

21

-14

-9

Bã cải ngọt

14

-2

-9

Bột cá

13

-2

-14

Gluten ngô

9

0

257

Bột gia cầm

8

-10

2

Bột xương thịt

7

-29

-47

Cám gạo

7

-39

-12

Cám mỳ

7

-65

-69

Khác

36

86

56

Tổng

1,250

21

-24

Nguồn AgroMonitor tổng hợp từ TCHQ

Bảng 17: Sản lượng TACN cho gia súc, gia cầm và thủy sản (nghìn tấn)

 

Tháng

Gia súc và gia cầm

Thủy sản

2016

1

1683,8

289,7

2

1322,8

219,0

3

1609,8

284,8

4

1615,5

288,1

5

1620,0

303,6

6

1790,3

330,2

7

1858,7

314,9

8

1847,2

317,9

9

1822,1

315,1

10

1871,2

323,5

11

1456,6

286,9

12

1654,8

270,0

2017

1

1338,2

237,3

2

1051,3

243,9

3

1192,3

267,4

4

1166,1

280,7

5

1085,5

318,4

6

1199,7

332,5

7

1288,4

340,0

8

1433,3

375,6

9

1502,1

363,6

10

1578,3

368,2

Nguồn: Sản lượng thức ăn thủy sản AgroMonitor tổng hợp từ Tổng cục Thống kê; Sản lượng TAGS&GC là con số AgroMonitor ước tính.

 

 

Tin tham khảo