Thịt 9/2018 - Nguồn cung heo dân khan khiến lượng heo về các bến trung chuyển đạt thấp đẩy giá heo dân tại miền Tây có điều chỉnh tăng khá trong tháng 9 vừa

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thịt 9/2018 - Nguồn cung heo dân khan khiến lượng heo về các bến trung chuyển đạt thấp đẩy giá heo dân tại miền Tây có điều chỉnh tăng khá trong tháng 9 vừa

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 9/2018

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2018

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn.

- Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina.

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Nguồn cung heo dân khan khiến lượng heo về các bến trung chuyển đạt thấp đẩy giá heo dân tại miền Tây có điều chỉnh tăng khá trong tháng 9 vừa.

-Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 8/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 2.1 triệu USD, tăng rất nhẹ so với giá trị nhập khẩu hồi tháng 7, mức tăng chỉ đạt khoảng 4.3%, tương đương 87.2 nghìn USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái, thì con số này tăng rất mạnh khi gấp tới hơn 4 lần, tương đương 1.63 triệu USD.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 8/2018 tăng khá so với tháng trước, đạt gần 33.68 triệu USD, tăng 25.5%, tương đương gần 6.84 triệu USD; so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch là khá lớn khi mức tăng gấp 2.5 lần, tương đương gần 20.5 triệu USD.

Thịt gà

-    Không có diễn biến sôi động như miền Bắc, giá gà trắng tại thị trường miền Nam có điều chỉnh tăng chậm nhưng đều qua từng tuần trong tháng 9.

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 8/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 14.76 triệu USD, tăng rất nhẹ so với tháng trước với mức tăng chưa đến 1%, tương đương gần 93 nghìn USD; nhưng lại tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm 2017, mức tăng đạt 65.4%, tương đương 5.83 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

-Tại thị trường Trung Quốc, diễn biến về tình hình dịch sốt heo châu Phi cộng với các yếu tố ngoại cảnh khác khiến giá heo hơi có những diễn biến thất thường trong tháng 9 vừa qua.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

- Từ 4-6/9 tại Bangkok, Tổ chức nông lương Liên hợp quốc FAO tiến hành cuộc họp khẩn cấp gồm Trung Quốc và 9 nước lân cận để bàn về các vấn đề liên quan đến dịch sốt heo châu Phi.

A.DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng lên hơn 1% trong năm 2019 lên 114.6 triệu tấn. Trung Quốc vẫn là quốc gia có sản lượng thịt heo ước tính cao nhất thế giới năm 2018 với gần 54.2 triệu tấn, chiếm 47.94%, tuy nhiên, những phát hiện gần đây về dịch bệnh Sốt heo châu Phi (ASF) tại quốc gia này đã có ảnh hưởng đến giá cả và quy mô đàn heo. Sản lượng của EU ước tính trong năm 2018 tăng nhẹ so với 2017, đạt 24.1 triệu tấn (chiếm 21.34%) nhưng  dự báo sang năm 2019 sẽ giảm nhẹ do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn. Mỹ tiếp tục giữ vị trí thứ 3 với hơn 11.99 triệu tấn, chiếm 10.61%.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn gần 3% trong năm 2019. Liên minh Châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với lượng ước đạt 3.05 triệu tấn trong năm 2018.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

110,422

109,941

6,719

7,237

2016

110,139

109,818

7,988

8,357

2017

110,038

110,584

7,890

8,297

Ước tính 2018

112,958

112,433

8,104

8,537

Dự báo 2019

114,585

114,211

8,397

8,790

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

EU

2,860

3,050

3,150

Mỹ

2,556

2,717

2,813

Canada

1,336

1,350

1,365

Brazil

786

685

735

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

1,620

1,750

1,875

Nhật Bản

1,475

1,510

1,525

Mê-xi-cô

1,083

1,175

1,235

Hàn Quốc

645

735

685

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2018 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng nhẹ, khoảng 1%, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Hoa Kỳ và Argentina. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng được dự báo trong năm 2019 sẽ đạt 12.72 triệu tấn, tiếp theo là Brazil với 10.2 triệu tấn, EU với 7.8 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng đạt 7.4 triệu tấn.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2019 được dự báo ở mức 10.6 triệu tấn. Trong đó, Brazil là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt2.2 triệu tấn, sau đó đến Ấn Độ với 1.62 triệu tấn và đứng thứ ba là Úc với 1.51 triệu tấn. Với nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2019 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1.4 triệu tấn, sau đó là đến Trung Quốc với 1.32 triệu tấn thịt.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2015-2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

59,710

57.812

7,654

9,586

2016

60,478

58,756

7,704

9,428

2017

61,624

59,674

7,953

9,967

Ước tính 2018

62,878

60,724

8,380

10,558

Dự báo 2019

63,623

61,734

8,688

10,576

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

1,856

2,100

2,200

Ấn Độ

1,849

1,665

1,625

Úc

1,485

1,630

1,510

Mỹ

1,297

1,435

1,472

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Mỹ

1,358

1,373

1,406

Trung Quốc

974

1,200

1,320

Nhật Bản

817

835

850

Hồng Kông

543

560

600

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2018 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tăng 2% so với năm trước, lên mức kỷ lục 97.8 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.7 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2019 lần lượt sẽ là 13.8 triệu tấn, 12.47 triệu tấn và 12.0 triệu tấn.

Về xuất khẩu, xuất khẩu toàn cầu được dự báo tăng mạnh hơn 4% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 11.6 triệu tấn. Mặc dù không phải là quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng Brazil lại là quốc gia xuất khẩu thịt khẩu lớn nhất thế giới năm 2019 do lượng tiêu thụ nội địa của nước này thấp hơn nhiều so với khả năng sản xuất. Lượng xuất khẩu năm 2019 của Brazil được dự báo đạt gần 3.8 triệu tấn thịt.

Trong năm 2019, Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 1.18 triệu tấn. Tiếp theo là đến Mexico và Eu, với lượng nhập lần lượt đạt 850 nghìn tấn và 680 nghìn tấn thịt.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

91,337

89,587

8,641

10,308

2016

90,276

90,740

9,173

10,725

2017

93,779

92,034

9,351

11,039

Ước tính 2018

95,594

93,787

9,363

11,153

Dự báo 2019

97,802

95,974

9,775

11,619

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

3,847

3,685

3,775

Mỹ

3,140

3,158

3,248

EU

1,335

1,425

1,500

Thái Lan

757

850

900

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Nhật Bản

1,056

1,140

1,175

Mê-xi-cô

804

845

860

EU

693

650

680

Ả Rập Xê Út

790

575

675

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2018

B. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Nguồn cung heo dân khan khiến lượng heo về các bến trung chuyển đạt thấp đẩy giá heo dân tại miền Tây có điều chỉnh tăng khá trong tháng 9 vừa qua.

Tại thị trường miền Bắc, nếu như trong 10 ngày đầu tháng, diễn biến thị trường có nhiều điểm sáng khi giao dịch có diễn biến ổn định hoặc điều chỉnh tăng nhẹ do nguồn cung heo bán ra thị trường có chiều hướng giảm so với trước do heo chưa tới lứa xuất bán,  thì kể từ nửa cuối tuần thứ 2 cho đến tuần cuối tháng, lượng bán ra lại có xu hướng tăng do có thông tin râm ran về việc dịch tả heo châu Phi đã xuất hiện ở 3 tỉnh và chính phủ công bố mức hỗ trợ 5 triệu đồng cho mỗi con heo bị tiêu huỷ khiến dân tiếp tục đẩy heo ra bán, kéo giá heo miền Bắc có điều chỉnh giảm nh.. Theo đó, giá heo dân miền Bắc tính đến hồi cuối tháng 9 còn quanh mức 51.000-53.000 đồng/kg, giảm 1.000-2.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, nhưng vẫn cao hơn 2.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 18.000-20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Có diễn biến trái ngược, tại miền Tây, nguồn cung heo dân khan hiếm do (i) Việc mua heo giống khó khăn nên các hộ chăn nuôi chưa vội xuất bán heo thịt; (ii) Trên thực tế, nguồn cung heo thịt trong dân tương đối khan, khiến lượng heo về các bến trung chuyển đạt thấp đẩy giá heo giao dịch tại bến tăng, theo đó, giá mua tại nhà vườn cũng được đẩy tăng lên. Tính đến cuối tháng, giá heo dân miền Tây dao động từ 53.000-55.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, cao hơn 2.500-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 25.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Theo tin từ thương nhân cho biết, heo từ miền Đông và Tây Nguyên tuần qua vẫn đang được gom đưa về miền Tây tiêu thụ. Tại miền Đông, do lực mua tốt từ miền Tây, cộng với nguồn cung heo dân ra thị trường cũng không còn nhiều như trước trong khi biểu heo của các công ty chăn nuôi lớn khá nhỏ nên các thương lái chuyển sang bắt heo dân nhiều hơn cũng khiến giá heo dân tại khu vực này có điều chỉnh tích cực trong tháng 9 vừa qua. Theo đó, giá bán được đẩy lên cao nhất trong khoảng từ 53.000-55.000 đồng/kg, cao hơn 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 25.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái.

Đối với heo công ty, giá heo hơi các vùng cũng đồng loạt có điều chỉnh tăng trong tháng 9. Tại thị trường miền Bắc, sau 2 lần điều chỉnh tăng, giá heo bán ra được đẩy lên quanh mức 52.000-52.500 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg so với đầu tháng, cao hơn 1.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 17.500-20.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Tương tự, tại miền Trung, giá heo cũng được điều chỉnh tăng lên 53.000 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg so với đầu tháng, cao hơn 500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 19.000-23.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Có mức tăng tốt nhất là giá heo hơi tại trường miền Nam khi tổng mức tăng là 2.000 đồng/kg, giá heo bán ra đạt mức 53.000 đồng/kg, cao hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 20.000-21.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Không nằm ngoài xu hướng chung, giá heo hơi khu vực miền Tây cũng được điều chỉnh tăng lên mức 54.000 đồng/kg, cao nhất trong các vùng miền. Với mức giá này, giá heo miền Tây cao hơn cùng kỳ tháng trước là 2.500 đồng/kg và cao hơn cùng kỳ năm trước 21.000 đồng/kg.

Hôm 14/09, Bộ NN và PTNT ban hành quyết định tạm dừng nhập khẩu thịt lợn đông lạnh từ Ba Lan và Hungary kể từ ngày 20/09 do trong thời điểm đó, 2 nước này đang có dịch tả châu Phi. Thống kê từ hải quan cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu thịt heo từ Ba Lan và Hungary chiếm hơn 1/3 tổng lượng thịt heo Việt Nam nhập khẩu từ các thị trường. Trong đó Ba Lan là đối tác lớn nhất với gần 33% do thịt heo Ba Lan rẻ nên các doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu từ tháng 5 trở lại đây. Như vậy với việc Ba Lan bị tạm dừng nhập khẩu thịt heo về Việt Nam thì lượng thịt heo nhập khẩu sẽ giảm mạnh.

Theo số liệu hải quan, nhập khẩu thịt lợn đông lạnh trong tháng 7 và tháng 8 của Việt Nam tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do giá heo nội địa cao, với lượng đạt từ 1.100-1.300 tấn/tháng. Trong đó, Ba Lan và Brazil là 2 đối tác cung ứng thịt lớn nhất cho Việt Nam. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng 2018, nhập khẩu thịt lợn của Việt Nam vẫn giảm 12% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 5.500 tấn

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình từ năm 2016-9/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 8/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 2.1 triệu USD, tăng rất nhẹ so với giá trị nhập khẩu hồi tháng 7, mức tăng chỉ đạt khoảng 4.3%, tương đương 87.2 nghìn USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái, thì con số này tăng rất mạnh khi gấp tới hơn 4 lần, tương đương 1.63 triệu USD. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ sang các thị trường trong tháng 8 đạt 4.67 triệu USD, tăng khá so với tháng trước, mức tăng đạt khoảng 51%, tương đương gần 1.6 triệu USD; nhưng nếu so sánh với cùng kỳ năm trước thì giá trị nhập khẩu lại giảm 20.5%, tương đương 1.2 triệu USD. Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 8 với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 4.18 triệu USD, chiếm 89.49% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2018 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

 

3

1.48

4.13

 

4

0.80

2.31

 

5

0.84

3.49

 

6

1.03

3.57

 

7

2.02

3.09

 

8

2.10

4.67

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2018 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 8/2018 tăng khá so với tháng trước, đạt gần 33.68 triệu USD, tăng 25.5%, tương đương gần 6.84 triệu USD; so sánh với cùng kỳ năm 2017 thì mức chênh lệch là khá lớn khi mức tăng gấp 2.5 lần, tương đương gần 20.5 triệu USD. Trong tháng 8, Úc tiếp tục là nước giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với tổng kim ngạch nhập khẩu bò sống từ nước này đạt 29.29 triệu USD, chiếm 86.98% thị phần.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

21.35

-28.15

2

31.7

21.96

18.92

-13.83

3

25.1

6.52

28.06

+330.37

4

42.0

22.65

33.58

+48.26

5

37.6

45.09 

32.70

-27.48

6

16.3

54.29 

24.47

-54.95

7

26.8

26.68 

26.84

+0.6

8

22.9

13.18

33.67

+155.5

9

29.9

18.26 

 

 

10

31.9

 27.84

 

 

11

16.1

 22.00

 

 

12

15.9

33.74 

 

 

Tổng

350.1

321.82

219.59

 

 
 

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Không có diễn biến sôi động như miền Bắc, giá gà trắng tại thị trường miền Nam có điều chỉnh tăng chậm nhưng đều qua từng tuần trong tháng 9.

Đối với gà trắng, giao dịch gà 2 miền có biến động trái chiều trong tháng 9 vừa qua. Tại thị trường miền Bắc, giá gà có diễn biến khá sôi động, giá tiếp đà giảm từ cuối tháng 8 cho đến trước nghỉ lễ 2/9, sau đó điều chỉnh tăng trong 3 tuần giữa tháng và giảm trở lại vào tuần cuối tháng. Cụ thể, trước khi nghỉ lễ 2/9, do lo ngại ế hàng dịp nghỉ lễ nên giá gà bán ra bị kéo giảm còn quanh mức 27.500-28.000 đồng/kg, nhưng, khi qua dịp lễ, do gà đã đổ bán ra khá mạnh trước lễ nên nguồn cung gà giai đoạn này có chiều hướng khan, kéo giá gà liên tiếp có điều chỉnh tăng trong 3 tuần đầu tháng, mức cao nhất đạt 34.500-35.000 đồng/kg, tổng mức tăng là 7.000 đồng/kg so với ngày đầu tháng. Tuy nhiên, sang đến tuần cuối tháng, do lượng gà đến biểu xuất chuồng nhiều hơn khiến nguồn cung gà ra thị trường dồi dào hơn, kéo giá gà giảm trở lại. Tính đến ngày cuối tháng, giá gà bán ra còn quanh mức 33.000-33.500 đồng/kg, giảm 1.500 đồng/kg so với thời điểm cao nhất trong tháng, nhưng vẫn cao hơn 3.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Không sôi động như thị trường miền Bắc, giá gà trắng tại thị trường miền Nam, giá gà trắng có điều chỉnh tăng chậm, nhưng đều qua từng tuần. Theo đó, tính đến cuối tháng, giá gà bán ra được đẩy lên mức 27.000 đồng/kg, cao hơn 3.000-4.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, cao hơn 1.000-2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn 2.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gà giống (1 ngày tuổi) giữ ở mức 9.500 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-09/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. Gà tam hoàng

Không có nhiều biến động như gà trắng, giá gà màu tại cả 2 miền Bắc – Nam có diễn biến khá ổn định trong tháng 9 vừa qua. Tại thị trường miền Bắc, giá gà có giao dịch ổn định trong suốt tháng, ở mức 38.000 đồng/kg, tương đương với tháng trước nhưng thấp hơn 1.000-2.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Còn tại thị trường miền Nam, sau khi có điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg ở tuần đầu tháng, kéo giá gà bán ra còn 34.000 đồng/kg, mức giá này được duy trì cho đến tận cuối tháng. Tính tại thời điểm cuối tháng, giá gà màu miền Nam thấp hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 5.000-6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gà giống (1 ngày tuổi) giữ ở mức 8.000 đồng/con.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 09/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 8/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 14.76 triệu USD, tăng rất nhẹ so với tháng trước với mức tăng chưa đến 1%, tương đương gần 93 nghìn USD; nhưng lại tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm 2017, mức tăng đạt 65.4%, tương đương 5.83 triệu USD. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 7 này với tổng kim ngạch đạt 5.81 triệu USD, chiếm 39.37% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2018 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.30

+168.1

2

5.3

7.5 

8.82

+17.2

3

10.0

8.1 

15.35

+89.98

4

9.0

7.6 

11.31

+49.63

5

10.7

11.74 

17.21

+46.6

6

10.1 

9.31

15.36

+64.97

7

13.2

9.44 

14.67

+55.5

8

10.7

8.93 

14.76

+65.4

9

6.8

7.64 

 

 

10

6.7

9.12 

 

 

11

8.5

11.76 

 

 

12

10.9

16.21 

 

 

Tổng

99.4

113.38

113.76

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Tại thị trường Trung Quốc, diễn biến phức tạp về tình hình dịch sốt heo châu Phi cộng với các yếu tố ngoại cảnh khác khiến giá heo hơi có những diễn biến thất thường trong tháng 9 vừa qua.

Liên quan tới dịch sốt heo châu Phi bùng phát tại Trung Quốc hồi đầu tháng 8, trong tháng 9 tiếp tục có những ổ dịch mới được phát hiện. Trong tuần đầu tháng, thông báo được phát đi vào ngày 4/9 Bộ NN Trung Quốc cho biết đã phát hiện thêm 2 điểm bùng phát dịch tại Giang Tô, nâng số điểm có dịch lên 9 điểm. Tuy nhiên, theo tin từ Trung tâm thông tin hạt có dầu và quốc gia Trung Quốc (CNGOIC) thì mức độ sát thương của dịch tả châu Phi với đàn heo Trung Quốc là không lớn do dịch phát sinh lẻ tẻ và số lượng heo tiêu huỷ mới chỉ gần 40.000 con sau hơn 1 tháng phát hiện điểm dịch đầu tiên. Nếu so với dịch heo tai xanh trên đàn lợn tại Trung Quốc năm 2007 làm thiệt hại 8% tổng sản lượng heo nước này thì mức độ thiệt hại của dịch này mới chiếm chưa tới 0,01%. Bước sang tuần thứ 2, việc phát hiện thêm ổ dịch tại An Huy-tỉnh có quy mô chăn nuôi lớn thứ 4 Trung Quốc, nâng số điểm phát dịch lên 14 điểm. Sang tuần thứ 3, Trung Quốc công bố thêm các điểm bùng phát dịch, đó là tại Hồ Nam và Inner Mongolia. Với việc dịch tả heo xuất hiện tại Inner Mongolia, tỉnh giáp với Hắc Long Giang nhưng vốn chưa bị dịch trước đó đã nâng số tỉnh có dịch tại Trung Quốc lên con số 7. Dịch tả châu Phi tuy không phát tán nhanh nhưng lại rất âm ỉ và khó dập tại quốc gia chiếm tới hơn 50% tổng đàn lợn của thế giới đã khiến cho các hoạt động sản xuất và vận chuyển bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bộ Nông nghiệp Trung Quốc ban hành quyết định mở rộng lệnh cấm vận chuyển heo sống đi ra ngoài vùng dịch tiêu thụ, trong đó có cả các tỉnh lân cận với vùng dịch (tổng có 18 tỉnh bị cấm vận chuyển heo sống đi tiêu thụ). Trong các tỉnh bị cấm lần này có Hồ Bắc và Sơn Đông- 2 tỉnh thuộc top chăn nuôi lợn lớn nhất tại Trung Quốc. Việc vận chuyển heo từ các vùng sản xuất chính đi tiêu thụ bị kiểm soát chặt, đẩy giá heo hơi tại những vùng không bị cấm tăng mạnh, đặc biệt tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc. Đến tuần cuối tháng, Trung Quốc công bố 3 ổ dịch mới là 2 tại Inner Mongolia (Nội Mông) và 1 tại Jilin (Cát Lâm). Như vậy, tính đến cuối tháng 9, dịch tả heo châu Phi đã được phát hiện tại 8 tỉnh của Trung Quốc gồm 4 tỉnh miền Bắc và 4 tỉnh miền Trung với 21 điểm dịch. Một số ý kiến từ chuyên gia dịch tễ cho rằng, dịch tả châu Phi chủ yếu được phát hiện tại những nước có nền nhiệt cao (tức quá nóng như châu Phi hoặc quá lạnh như châu Âu hoặc miền Bắc Trung Quốc) mà ít được phát hiện tại những nước có nền nhiệt thấp như Đông Nam Á. Dịch tả châu Phi vẫn diễn biến âm ỉ tại Trung Quốc mặc dù thiệt hại với đàn heo là không quá lớn.

 Theo tin từ Reuters, từ 4-6/9 tại Bangkok, Tổ chức nông lương Liên hợp quốc FAO tiến hành cuộc họp khẩn cấp gồm Trung Quốc và 9 nước lân cận để bàn về các vấn đề liên quan đến dịch. Trong một động thái khác, tính đến tháng 9, Hồng Kong cấm nhập khẩu thịt heo từ 12 tỉnh của Trung Quốc. Ngoài 5 tỉnh đã xuất hiện dịch thì Hong Kong còn cấm thêm một số tỉnh miền Bắc Trung Quốc như Bắc Kinh, Nội Mông, Hà Bắc...Liên quan tới dịch tả châu Phi mới được phát hiện tại Nhật Bản sau 26 năm, chính phủ Nhật Bản ra lệnh cấm xuất khẩu thịt heo trên toàn quốc ít nhất trong 3 tháng. Trước đó hồi đầu tháng 8, Nhật Bản cũng ra lệnh cấm nhập khẩu thịt heo qua xử lý nhiệt từ Trung Quốc sau khi Trung Quốc phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm dịch. Philippine cũng ra quyết định tạm ngưng nhập khẩu thịt heo từ những nước có dịch để đảm bảo an toàn sinh học. Trong một phát biểu, quan chức Bộ NN Nga cho biết, dịch cúm châu Phi lây lan tại Trung Quốc nhiều khả năng đến từ khu vực châu Âu, do Nga, Ghana, Rumania chỉ là một trong số ít các nước có dịch năm 2018 nhưng đã nhanh chóng được kiểm soát.

Ngoài những ảnh hưởng từ dịch bệnh, tại thời điểm giữa tháng, siêu bão Mangkhut chính thức đổ bộ vào Trung Quốc gây mưa và gió lớn tại hàng loạt các tỉnh vùng Đông Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Thâm Quyến khiến chính phủ phải tiến hành sơ tán hàng triệu dân để hạn chế thiệt hại. Mưa bão khiến việc vận chuyển heo tới các lò mổ gặp khó khăn trong khi tại miền Bắc và miền Trung Trung Quốc do ảnh hưởng của dịch bệnh, giá vẫn trong xu thế giảm, kéo giá bình quân chung tại nước này liên tục bị kéo giảm. Tính đến ngày cuối tháng, giá heo bình quân tại thị trường Trung Quốc còn 13.33 tệ/kg, giảm 1.17 tệ/kg so với thời điểm tuần thứ 2-cao nhất trong tháng.

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 9 năm 2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện trong nước

- Hôm 14/09, Bộ NN và PTNT ban hành quyết định tạm dừng nhập khẩu thịt lợn đông lạnh từ Ba Lan và Hungary kể từ ngày 20/09 do trong thời điểm đó, 2 nước này đang có dịch tả châu Phi.

Sự kiện quốc tế

Từ 4-6/9 tại Bangkok, Tổ chức nông lương Liên hợp quốc FAO tiến hành cuộc họp khẩn cấp gồm Trung Quốc và 9 nước lân cận để bàn về các vấn đề liên quan đến dịch.