Thịt 3/2018 - Diễn biến trầm lắng của giao dịch biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa, tác động kéo giá heo hơi tại thị trường miền Bắc liên tiếp giảm trong tháng 3 vừa qua

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thịt 3/2018 - Diễn biến trầm lắng của giao dịch biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa, tác động kéo giá heo hơi tại thị trường miền Bắc liên tiếp giảm trong tháng 3 vừa qua

 

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 3/2018

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2017

- Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong năm 2018 lên 113.1 triệu tấn

- Sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 được dự báo sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn

- Sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

 

  • Diễn biến trầm lắng của giao dịch biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa, tác động kéo giá heo hơi tại thị trường miền Bắc liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 3 vừa qua.
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 2/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.26 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, mức giảm gần 0.36 triệu USD so với tháng trước, tương đương gần 60%.

Thịt bò

 

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 2/2018 giảm nhẹ so với tháng trước, còn 18.92 triệu USD, mức giảm khoảng 11.36%, tương đương với gần 2.42 triệu USD và thấp hơn 2.94 triệu USD, tương đương với 13.44% so với cùng kỳ năm 2017.

Thịt gà

-    Nguồn cung gà ra thị trường tạm thời đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, giữ giá gà trắng tại thị trường miền Bắc có diễn biến ổn định trong nửa cuối tháng 3.

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 2/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 8.82 triệu USD, giảm mạnh, chỉ còn hơn 1 nửa so với tháng trước, nhưng con số này lại tăng nhẹ, so với cùng kỳ năm trước, mức tăng khoảng 17.24 %, tương đương gần 1.3 triệu USD, tương đương khoảng 17.24 %.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 3 vừa qua do nguồn cung vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ.

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

Theo một nguồn tin cho hay, Bộ thương mại Trung Quốc cho biết sẽ đánh thuế 25% lên mặt hàng thịt heo nhập khẩu từ Mỹ. Năm 2017, Trung Quốc chi 237 triệu USD để nhập 127 nghìn tấn thịt heo từ Mỹ.

Theo số liệu từ hải quan Trung Quốc, lượng nhập khẩu thịt tháng 2 của nước này chỉ còn 71.712 tấn, giảm 38.4%, tương dương với 44.646 tấn thịt so với với tháng trước và giảm hơn 35% so với cùng kỳ năm 2017.

 

DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong  năm 2018 lên 113.1 triệu tấn. Trung Quốc là nước có sản lượng thịt heo sản xuất ra lớn nhất thế giới năm 2018 với gần 54.75 triệu tấn, chiếm 48.42% tổng sản lượng thịt heo toàn cầu. Tiếp đến và khu vực EU với trên 23.35 triệu tấn và Mỹ sẽ sản xuất khoảng 12.19 triệu tấn, chiếm 10.78% trổng sản lượng. Sản lượng thịt heo của Việt Nam ước tính trong năm 2017 là 2.75 triệu tấn và dự báo năm 2018 là 2.78 triệu tấn.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

108,850

108,466

6,610

7,011

2014

110,652

109,964

6,341

6,988

2015

110,618

110,148

6,718

7,235

2016

109,969

109,667

7,973

8,320

Ước tính 2017

111,034

110,588

7,879

8,271

Dự báo 2018

113,070

112,584

8,048

8,484

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

2,377

2,589

2,706

EU

3,125

2,800

2,800

Canada

1,320

1,330

1,350

Brazil

832

810

830

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Trung Quốc

2,181

1,650

1,600

Nhật Bản

1,361

1,440

1,435

Mê-xi-cô

1,021

1,125

1,200

Hàn Quốc

615

680

655

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn, tiếp theo đó là Brazil 9,70 triệu tấn, EU 7,90 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng khoảng 7.11 triệu tấn thịt bò/bê sản xuất ra trong năm 2018.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 3% lên 10.1 triệu tấn. Trong đó, Ấn Độ là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt 1.85 triệu tấn, sau đó là đến Brazil với 1.83 triệu tấn và đứng thứ 3 là Úc, với giá trị là 1.53 triệu tấn. Với kim ngạch nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2018 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1,37 triệu tấn thịt bò/bê nhập khẩu trong năm 2018, sau đó là đến Trung Quốc với 1.03 triệu tấn.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2013-2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

60,535

58,742

7,445

9,239

2014

60,815

58,749

7,890

9,997

2015

59,699

57.819

7,631

9,545

2016

60,443

58,714

7,691

9,422

Ước tính 2017

61,373

59,362

7,748

9,791

Dự báo 2018

62,554

60,550

7,992

10,056

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Ấn Độ

1,764

1,825

1,850

Brazil

1,698

1,760

1,825

Úc

1,480

1,450

1,525

Mỹ

1,159

1,285

1,320

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

1,367

1,341

1,374

Trung Quốc

818

925

1,025

Nhật Bản

719

780

815

Hàn Quốc

513

550

560

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2017 lần lượt sẽ là 13,55 triệu tấn, 11,88 triệu tấn và 11,00 triệu tấn.

Nhật Bản là tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với 990 nghìn tấn. Lượng nhập khẩu của năm 2018 có sự suy giảm nhẹ so với năm 2017. Trong đó năm 2017 Nhật Bản đã nhập khẩu thịt gà lên tới 995 nghìn tấn.

Mặc dù không phải là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng do lượng tiêu thụ nội địa của Brazil thấp hơn rất nhiều so với khả năng sản xuất nên nước này tiếp tục là nước xuất khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với gần 4,2 triệu tấn thịt gà.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

84,407

82,892

8,694

10,275

2014

86,765

85,154

8,902

10,478

2015

89,126

87,349

8,592

10,259

2016

89,098

87,368

8,939

10,685

Ước tính 2017

90,175

88,135

9,050

11,079

Dự báo 2018

91,278

89,091

9,274

11,444

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Brazil

3,889

4,000

4,150

Mỹ

3,014

3,091

3,189

EU

1,276

1,250

1,280

Thái Lan

690

770

800

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Nhật Bản

973

995

990

Mê-xi-cô

791

750

775

Ả-Rập-Xê-Út

886

780

740

EU

761

720

720

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  1. THỊT LỢN/ HEO

Diễn biến trầm lắng của giao dịch biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa, tác động kéo giá heo hơi tại thị trường miền Bắc liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 3 vừa qua.

Bước sang tháng 3, giao dịch heo hơi tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc tiếp tục có diễn biến ảm đạm, các chủ heo Trung Quốc hầu như không còn nhu cầu gọi hàng, cùng với đó, tiêu thụ nội địa khá yếu, không đủ lực để hỗ trợ cho thị trường, tác động khiến giá heo hơi tại thị trường miền Bắc có một tháng biến động không mấy khả quan, liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 3 vừa qua.  Theo đó, tính đến ngày cuối tháng, giá heo hơi tại khu vực này còn giao dịch quanh mức 29.000-30.000 đồng/kg, thấp hơn 3.500-4.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 3.500-4.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Không có điều chỉnh giảm liên tiếp như heo miền Bắc, thị trường heo hơi miền Nam chỉ điều chỉnh giảm 1 lần trong tháng 3 và sau đó đến cận cuối tháng, giá có chiều hướng nhích nhẹ trở lại với mức tăng tương đương, kéo giá heo về như tuần đầu tháng. Cụ thể, sau khi được điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg vào tuần thứ 2 của tháng, giá heo hơi về giao dịch quanh mức 27.500-30.500 đồng/kg. Nhưng đến nửa cuối của tuần thứ 4, trước tác động của nguồn cung heo trong các trại dân khu vực này khan hiếm hơn, khiến các lái có chiều hướng bắt heo công ty nhiều hơn, đẩy giá heo công ty tại thị trường miền Nam tăng nhẹ trở lại, giao dịch phổ biến từ 28.500-30.500 đồng/kg. Mức giá này tương đương so với cùng kỳ tháng trước, nhưng lại thấp hơn 1.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Tại miền Trung, sau khi được điều chỉnh giảm 2.000 đồng/kg vào tuần đầu tiên, giá heo bán ra duy trì cho tới hết tháng, dao động từ 29.000-31.000 đồng/kg.

Có xu hướng biến động tương tự, giá heo dân tại Đồng Nai cũng được điều chỉnh tăng nhẹ trở lại sau khi có những biến động không mấy khả quan trong nửa đầu tháng 3. Cụ thể, tính đến ngày giữa tháng, giá heo hơi trong các trại dân chỉ còn giao dịch trong dịch quanh mức 25.000-27.500 đồng/kg. Nhưng càng tiến về gần cuối tháng, khi nguồn cung heo trong dân có xu hướng sụt giảm hơn so với trước, giá heo cũng được nâng lên phổ biến 27.000-30.000. thậm chí có giá 31.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá heo dân Đồng Nai đã tăng lại 1.000-2.000 đồng/kg so với tuần trước đó, cao hơn lượng tương đương so với cùng kỳ tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Tại Thái Bình, nếu như ở tuần đầu tiên của tháng, giá heo bán ra được quanh mức 32.000-32.500 đồng/kg, thì đến ngày giữa tháng chỉ còn dao động 29.000-31.000 đồng/kg và sau đó lại được điều chỉnh tăng trở lại, lên quanh mức 31.000-31.500 đồng/kg, nhưng vẫn thấp hơn 1.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng và thấp hơn 1.500-2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước.

Theo thông tin từ thương nhân cho biết, ở thời điểm nửa cuối tuần thứ 2 của tháng, giá heo to lên xe miền Nam được kéo về mức 23-24.000 đồng/kg, hấp dẫn các lái đóng hàng ra Bắc tiêu thụ do chênh lệch giá cho lãi khá, lượng đóng ra khoảng 4-5 xe/ngày. Giới thương nhân cũng thông tin thêm, trong tháng 3 này, có thời điểm biểu heo dân từ 60-100 kg/con được hút đi các tỉnh miền Trung như các tỉnh Huế, Quy Nhơn, Đà Nẵng do heo trong công ty biểu to.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 2/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.26 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, mức giảm gần 0.36 triệu USD so với tháng trước, tương đương gần 60%. Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017, thì con số này là tương đối nhỏ, thấp hơn đến 1.73 triệu USD, tương đương với gần 87%. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ sang các thị trường trong tháng 2 cũng giảm khá mạnh so với tháng trước, khi chỉ đạt 2.76 triệu USD, mức giảm đến 35.01%, tương đương với gần 1.5 triệu USD; và cũng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, mức giảm lên tới 60.5%, tương đương với 4.22 triệu USD. Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 2 với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 2.31 triệu USD, chiếm 83.77% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2018 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2018 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 2/2018 giảm nhẹ so với tháng trước, còn 18.92 triệu USD, mức giảm khoảng 11.36%, tương đương với gần 2.42 triệu USD và thấp hơn 2.94 triệu USD, tương đương với 13.44% so với cùng kỳ năm 2017. Trong tháng 2, Úc tiếp tục là nước giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với tổng kim ngạch nhập khẩu bò sống từ nước này đạt 15.05 triệu USD, chiếm 79.54% thị phần.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

21.35

-36.7

2

31.7

21.96

18.92

-13.4

3

25.1

6.52

 

 

4

42.0

22.65

 

 

5

37.6

45.09 

 

 

6

16.3

54.29 

 

 

7

26.8

26.68 

 

 

8

22.9

13.18

 

 

9

29.9

18.26 

 

 

10

31.9

 27.84

 

 

11

16.1

 22.00

 

 

12

15.9

33.74 

 

 

Tổng

350.1

321.82

40.27

 

 

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Nguồn cung gà ra thị trường tạm thời đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, giữ giá gà trắng tại thị trường miền Bắc có diễn biến ổn định trong nửa cuối tháng 3

Tiếp nối xu hướng biến động từ tuần cuối tháng 2, trong tuần đầu tháng 3, giá gà trắng tại thị trường miền Bắc tiếp tục đi xuống, với tổng mức điều chỉnh giảm lên tới 7.500 đồng/kg, kéo giá gà trắng tại thời điểm này còn quanh mức 27.000-27.500 đồng/kg. Tuy nhiên, kể từ tuần thứ 2 trở về đến cuối tháng, giá gà tại miền Bắc có diễn biến tích cực, liên tiếp được điều chỉnh tăng giá trở lại. Tính đến cuối tháng, giá gà trắng tại khu vực này đã lên quanh mức 35.500-36.000 đồng/kg, cao hơn 8.500 đồng/kg so với tuần đầu tháng, cao hơn 1.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và cao hơn khoảng 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Có diễn biến sôi động hơn, giá gà trắng tại thị trường miền Nam liên tiếp có những biến động trái chiều trong tháng 3 vừa qua. Cụ thể, trong 2 tuần đầu tháng, giá gà tại khu vực này có điều chỉnh giảm mạnh, xuống thấp nhất còn quanh mức 17.000-18.000 đồng/kg, mức giá này duy trì trong gần 1 tuần. Sau đó, giá gà lại được điều chỉnh tăng trở lại lên dao động từ 25.000-26.000 đồng/kg. Tuy nhiên, mức giá này vẫn thấp hơn 6.000 đồng/kg so với ngày đầu tháng, thấp hơn lượng tương đương so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn khoảng 10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Nguyên nhân khiến giá gà điều chỉnh tăng là do một số công ty lớn có xu hướng hạn chế bán ra, gây thiếu hụt nguồn cung gà trên thị trường, tác động đến giá gà giao dịch trên thị trường. Giá gà giống (1 ngày tuổi) giữ ổn định ở mức 9.500 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-03/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. Gà tam hoàng

 

Có diễn biến ổn định hơn, giá gà màu tại cả thị trường miền Bắc và miền Nam đều không có nhiều biến động trong tháng 3 vừa qua. Tại thị trường miền Nam, giá gà duy trì ổn điịnh quanh mức 32.000-33.000 đồng/kg trong cả tháng qua. Mức giá này tương đương với tuần cuối tháng 2/2018, nhưng lại cao hơn 6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tại thị trường miền Bắc, sau khi có điều chỉnh giảm giá vào tuần đầu tiên của tháng, giá gà màu được kéo về mức 42.000-43.000 đồng/kg và giữ cho đến ngày cuối tháng. Với mức giá này, giá gà màu miền Bắc hiện thấp hơn 4.000-6.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước, nhưng lại cao hơn khoảng 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá gà giống (1 ngày tuổi) giữ ổn định ở mức 7.000 đồng/con.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 03/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 2/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 8.82 triệu USD, giảm mạnh, chỉ còn hơn 1 nửa so với tháng trước, nhưng con số này lại tăng nhẹ, so với cùng kỳ năm trước, mức tăng khoảng 17.24 %, tương đương gần 1.3 triệu USD, tương đương khoảng 17.24 %. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 1 này với tổng kim ngạch đạt 5.84 triệu USD, chiếm 66.25% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.3

+168.1

2

5.3

7.5 

8.82

+17.2

3

10.0

8.1 

 

 

4

9.0

7.6 

 

 

5

10.7

11.74 

 

 

6

10.1 

9.31

 

 

7

13.2

9.44 

 

 

8

10.7

8.93 

 

 

9

6.8

7.64 

 

 

10

6.7

9.12 

 

 

11

8.5

11.76 

 

 

12

10.9

16.21 

 

 

Tổng

99.4

113.38

25.12

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 3 vừa qua do nguồn cung vẫn vượt trên nhu cầu tiêu thụ.

Tiếp nối xu hướng biến động của tháng 2, giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc trong tháng 3 vừa qua tiếp tục nối dài đà giảm do nguồn cung heo ra thị trường vẫn dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ. Tính đến ngày cuối tháng, giá heo hơi giao dịch trung bình toàn quốc chỉ còn ở mức 10.42 tệ/kg, thấp hơn 1.58 tệ/kg so với ngày cuối tháng 2. Lý do khiến nguồn cung heo dư phải kể đến 2 nguyên nhân chính yếu sau: (1) Giá thành các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô và khô đậu tương tăng mạnh, tạo sức ép lên chi phí chăn nuôi khiến người chăn nuôi tiếp tục đẩy mạnh bán heo ra thị trường để giảm lỗ; (2) Sự bùng nổ của các siêu trang trại trong 2 năm qua tại Trung Quốc cũng khiến cho nguồn cung heo nội địa của Trung Quốc tăng mạnh.

Theo số liệu từ hải quan Trung Quốc, lượng nhập khẩu thịt tháng 2 của nước này chỉ còn 71.712 tấn, giảm 38.4%, tương dương với 44.646 tấn thịt so với với tháng trước và giảm hơn 35% so với cùng kỳ năm 2017. Lượng nhập khẩu này được xem là thấp nhất trong vòng 2 năm trở lại đây.   

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 3 năm 2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện trong nước

- Theo thông tin từ giới thương nhân cho biết, trong tháng 3 này, có thời điểm biểu heo dân từ 60-100 kg/con được hút đi các tỉnh miền Trung như các tỉnh Huế, Quy Nhơn, Đà Nẵng do heo trong công ty biểu to.

- Theo tin từ Cục Thú y, tính đến thời điểm ngày 31/03/2018 trên cả nước hiện không có ổ dịch LMLM nào mới phát sinh tại các địa phương.

Sự kiện quốc tế

Theo một nguồn tin cho hay, Bộ thương mại Trung Quốc cho biết sẽ đánh thuế 25% lên mặt hàng thịt heo nhập khẩu từ Mỹ. Năm 2017, Trung Quốc chi 237 triệu USD để nhập 127 nghìn tấn thịt heo từ Mỹ.

Tin tham khảo