Thịt 2/2018 - Diễn biến ảm đạm ở kênh biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa đẩy giá heo hơi trong công ty và các trại dân tại cả 2 miền chững lại hoặc giảm trong tuần cuối tháng 2

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thịt 2/2018 - Diễn biến ảm đạm ở kênh biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa đẩy giá heo hơi trong công ty và các trại dân tại cả 2 miền chững lại hoặc giảm trong tuần cuối tháng 2

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 2/2018

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2017

- Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong  năm 2018 lên 113.1 triệu tấn

- Sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 được dự báo sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn

- Sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Diễn biến ảm đạm ở kênh biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa đẩy giá heo hơi trong công ty và các trại dân tại cả 2 miền có xu hướng chững lại hoặc điều chỉnh giảm trong tuần cuối tháng 2.
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.62 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, mức giảm gần 0.29 triệu USD so với tháng trước, tương đương với 31.7%.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 1/2018 giảm khá so với tháng trước, còn 21.35 triệu USD, mức giảm khoảng 36.73%, tương đương với gần 12.4 triệu USD và thấp hơn 8.36 triệu USD, tương đương với 28.14% so với cùng kỳ năm 2017.

Thịt gà

-    Thị trường có những biến động thất thường trong tháng 2 vừa qua, mức điều chỉnh giá có xu hướng trái chiều ở thời điểm trước và sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, đặc biệt là tại thị trường miền Bắc.

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 16.3 triệu USD, tăng rất nhẹ so với tháng trước, nhưng con số này lại tăng rất mạnh, mức tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước, tương đương hơn 10.22 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Tại thị trường Trung Quốc, giá heo hơi liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 2 vừa qua do nguồn cung vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ thực tế

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

Tại thị trường Trung Quốc, nguồn cung heo hơi ra thị trường vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ, khiến giá heo hơi liên tiếp được điều chỉnh giảm trong tháng 2 vừa qua. Mức giá trung bình toàn quốc được xác lập vào thời điểm cuối tháng, còn 11.78 tệ/kg, được ghi nhận là thấp nhất kể từ tháng 4/2014.  .

Thống kê từ hải quan Trung Quốc cho biết, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của nước này trong tháng 1 năm 2018, lượng thịt heo nhập khẩu đạt khoảng 116.000 tấn, tăng 4.1% so với tháng trước, tương đương với 4.566 tấn và tăng 3.8% so với cùng kỳ năm 2017, tương đương với gần 4250 tấn thịt.

 

 

DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong  năm 2018 lên 113.1 triệu tấn. Trung Quốc là nước có sản lượng thịt heo sản xuất ra lớn nhất thế giới năm 2018 với gần 54.75 triệu tấn, chiếm 48.42% tổng sản lượng thịt heo toàn cầu. Tiếp đến và khu vực EU với trên 23.35 triệu tấn và Mỹ sẽ sản xuất khoảng 12.19 triệu tấn, chiếm 10.78% trổng sản lượng. Sản lượng thịt heo của Việt Nam ước tính trong năm 2017 là 2.75 triệu tấn và dự báo năm 2018 là 2.78 triệu tấn.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

108,850

108,466

6,610

7,011

2014

110,652

109,964

6,341

6,988

2015

110,618

110,148

6,718

7,235

2016

109,969

109,667

7,973

8,320

Ước tính 2017

111,034

110,588

7,879

8,271

Dự báo 2018

113,070

112,584

8,048

8,484

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

2,377

2,589

2,706

EU

3,125

2,800

2,800

Canada

1,320

1,330

1,350

Brazil

832

810

830

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Trung Quốc

2,181

1,650

1,600

Nhật Bản

1,361

1,440

1,435

Mê-xi-cô

1,021

1,125

1,200

Hàn Quốc

615

680

655

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn, tiếp theo đó là Brazil 9,70 triệu tấn, EU 7,90 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng khoảng 7.11 triệu tấn thịt bò/bê sản xuất ra trong năm 2018.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 3% lên 10.1 triệu tấn. Trong đó, Ấn Độ là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt 1.85 triệu tấn, sau đó là đến Brazil với 1.83 triệu tấn và đứng thứ 3 là Úc, với giá trị là 1.53 triệu tấn. Với kim ngạch nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2018 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1,37 triệu tấn thịt bò/bê nhập khẩu trong năm 2018, sau đó là đến Trung Quốc với 1.03 triệu tấn.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2013-2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

60,535

58,742

7,445

9,239

2014

60,815

58,749

7,890

9,997

2015

59,699

57.819

7,631

9,545

2016

60,443

58,714

7,691

9,422

Ước tính 2017

61,373

59,362

7,748

9,791

Dự báo 2018

62,554

60,550

7,992

10,056

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Ấn Độ

1,764

1,825

1,850

Brazil

1,698

1,760

1,825

Úc

1,480

1,450

1,525

Mỹ

1,159

1,285

1,320

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

1,367

1,341

1,374

Trung Quốc

818

925

1,025

Nhật Bản

719

780

815

Hàn Quốc

513

550

560

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2017 lần lượt sẽ là 13,55 triệu tấn, 11,88 triệu tấn và 11,00 triệu tấn.

Nhật Bản là tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với 990 nghìn tấn. Lượng nhập khẩu của năm 2018 có sự suy giảm nhẹ so với năm 2017. Trong đó năm 2017 Nhật Bản đã nhập khẩu thịt gà lên tới 995 nghìn tấn.

Mặc dù không phải là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng do lượng tiêu thụ nội địa của Brazil thấp hơn rất nhiều so với khả năng sản xuất nên nước này tiếp tục là nước xuất khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với gần 4,2 triệu tấn thịt gà.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

84,407

82,892

8,694

10,275

2014

86,765

85,154

8,902

10,478

2015

89,126

87,349

8,592

10,259

2016

89,098

87,368

8,939

10,685

Ước tính 2017

90,175

88,135

9,050

11,079

Dự báo 2018

91,278

89,091

9,274

11,444

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Brazil

3,889

4,000

4,150

Mỹ

3,014

3,091

3,189

EU

1,276

1,250

1,280

Thái Lan

690

770

800

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Nhật Bản

973

995

990

Mê-xi-cô

791

750

775

Ả-Rập-Xê-Út

886

780

740

EU

761

720

720

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  1. THỊT LỢN/ HEO

Diễn biến ảm đạm ở kênh biên mậu lẫn tiêu thụ nội địa đẩy giá heo hơi trong công ty và các trại dân tại cả 2 miền có xu hướng chững lại hoặc điều chỉnh giảm trong tuần cuối tháng 2.

Trong những tuần đầu tháng 2, giao dịch heo hơi trên các cửa khẩu biên giới phía Bắc có diễn biến không mấy khả quan, hầu như không có giao dịch nào diễn ra do giá heo tại biên được trả thấp và phía Trung Quốc tăng cường các biện pháp siết chặt kiếm soát nên các lái phía Việt Nam không đưa hàng lên. Cùng với đó, tại thị trường nội địa, nhu cầu tiêu thụ chưa tăng như kỳ vọng, gây áp lực lên nguồn cung nội địa, giữ giá heo hơi cả miền Bắc và miền Nam không có điều chỉnh thêm, giá bán ra giữ ổn định quanh mức 33.500-34.000 đồng/kg tại miền Bắc và 31.500 đồng/kg tại miền Nam. Sang đến tuần cuối tháng, trước tình hình ảm đạm trên biên giới, cộng với tiêu thụ kém tại thị trường nội địa khiến giá heo hơi khu vực miền Tây và miền Nam đồng loạt được điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg. Theo đó, giá heo hơi tại miền Nam còn quanh mức 28.500-30.500 đồng/kg, thấp hơn 1.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn khoảng 2.500-4.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017. Tại miền Tây, giá heo bán ra cũng về mức 29.500 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng và thấp hơn khoảng 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tại thị trường miền Bắc, giá vẫn duy trì ổn định quanh mức 33.500-34.000 đồng/kg, tương đương với cùng kỳ tháng trước nhưng lại thấp hơn khoảng 4.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Có xu hướng biến động trái ngược, trong tuần đầu của tháng 2, tại Thái Bình, do các trại chăn nuôi lớn có xu hướng giữ heo, hạn chế lượng bán ra thị trường nên các hộ nuôi trong dân có chiều hướng ép giá, đẩy giá bán lên 35.000 đồng/kg, cao hơn 1.000 đồng/kg so với tuần cuối tháng 1. Tuy nhiên, lượng bán cũng không nhiều do số heo này chủ yếu thịt bán tại các chợ nội tỉnh. Cùng thời điểm này, giá heo hơi tại Bắc Giang cũng được nhích lên cao nhất được 34.000 đồng/kg, cao hơn 1.000 đồng/kg so với tuần trước đó. Nhưng đến tuần cuối tháng, cùng với chiều giảm của giá heo công ty miền Nam, giá heo dân Đồng Nai cũng được điều chỉnh giảm 1.000-2.000 đồng/kg, giá bán ra quanh mức 27.000-29.000 đồng/kg, thấp hơn 4.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn khoảng 6.000-7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Theo thông tin từ phía người chăn nuôi cho biết, giá heo hơi tại đây xấu đi là do: (1) Lượng heo tồn từ trong Tết vẫn còn khá nhiều, trong đó có cả lượng heo đặt cọc tiền từ trước nhưng chưa tiêu thụ được trong khi lượng heo mới đã đến biểu xuất bán, gây áp lực lên nguồn cung heo; (2) Trong tháng giêng, đặc biệt là những ngày giáp rằm tháng giêng, nhu cầu tiêu thụ thịt heo có chiều hướng suy giảm do người dân ăn chay nhiều. Tại Thái Bình, giá heo dân cũng có điều chỉnh giảm nhẹ và duy trì mức giá này cho đến cuối tháng, giá bán ra còn quanh mức 32.500-33.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, thấp hơn 2.000 so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn khoảng 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

-Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2018 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.62 triệu USD, giảm mạnh so với tháng trước, mức giảm gần 0.29 triệu USD so với tháng trước, tương đương với 31.7%. Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2016, thì con số này chưa bằng một nửa, tương đương với mức thấp hơn là 1.05 triệu USD, tương đương với 62.85%. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ sang các thị trường trong tháng 1 cũng giảm nhẹ, đạt 4.25 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng 12/2017, mức giảm gần 9%, tương đương với gần 0.42 triệu USD; và giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, mức giảm lên tới 40.7%, tương đương với 2.9 triệu USD. Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1 với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt gần 3.79 triệu USD, chiếm 89.18% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2018 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2018 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 1/2018 giảm khá so với tháng trước, còn 21.35 triệu USD, mức giảm khoảng 36.73%, tương đương với gần 12.4 triệu USD và thấp hơn 8.36 triệu USD, tương đương với 28.14% so với cùng kỳ năm 2017. Trong tháng 1, Úc tiếp tục là nước giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với tổng kim ngạch nhập khẩu bò sống từ nước này đạt 16.82 triệu USD, chiếm 78.77% thị phần.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

21.35

-36.7

2

31.7

21.96

 

 

3

25.1

6.52

 

 

4

42.0

22.65

 

 

5

37.6

45.09 

 

 

6

16.3

54.29 

 

 

7

26.8

26.68 

 

 

8

22.9

13.18

 

 

9

29.9

18.26 

 

 

10

31.9

 27.84

 

 

11

16.1

 22.00

 

 

12

15.9

33.74 

 

 

Tổng

350.1

321.82

21.35

 

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Thị trường có những biến động thất thường trong tháng 2 vừa qua, mức điều chỉnh giá có xu hướng trái chiều ở thời điểm trước và sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, đặc biệt là tại thị trường miền Bắc

Thị trường có những biến động thất thường trong tháng 2 vừa qua, mức điều chỉnh giá có xu hướng trái chiều ở thời điểm trước và sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, đặc biệt là tại thị trường miền Bắc. Cụ thể, nếu ở thời điểm trước Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ khá nhiều trong khi nguồn cung gà thị trường không đủ để đáp ứng, gây thiếu hụt, đẩy giá gà trắng liên tiếp được điều chỉnh tăng giá trong tuần đầu tiên của tháng. Nếu tính trong 1 tuần đầu tiên này, giá gà trắng tại miền Bắc được điều chỉnh tăng 2.000 đồng/kg so với tuần cuối tháng 1, và cao hơn đến 8.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng 1/2017. Tuy nhiên, sang đến tuần cuối tháng, là thời điểm sau Tết, lúc này thị trường có xu hướng biến động ngược lại do tác động từ giá cả các loại thực phẩm khác có chiều hướng rẻ hơn trước, khiến tiêu thụ gà trắng chậm lại, kéo giá gà trắng giảm trở lại. Tổng mức điều chỉnh giảm lên tới 4.000 đồng/kg, giá bán ra còn quanh mức 34.500-35.000 đồng/kg, thấp hơn 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước, nhưng vẫn cao hơn từ 6.500-7.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2017.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-02/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. Gà tam hoàng

Đối với gà màu, giá có biến động trái chiều ở 2 miền Bắc – Nam. Tại thị trường miền Bắc, sau khi có điều chỉnh tăng giá khá mạnh ở thời điểm đầu tháng 2, đẩy giá gà màu tại khu vực lên dao động từ 46.000-49.000 đồng/kg và duy trì đến cuối tháng. Mức giá này cao hơn 4.000 đồng/kg so với hồi cuối tháng 1, cao hơn 12.000-13.000 đồng/kg so với đầu tháng 1 và cao hơn 13.000-15.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Có xu hướng biến động trái ngược, giá gà màu tại thị trường miền Nam lại liên tục được điều chỉnh giảm trong tháng 2 vừa qua. Cụ thể là vào tuần thứ 1 và tuần cuối tháng, kéo giá gà màu tại khu vực này được điều chỉnh giảm mạnh, mức giảm lên đến 12.000 đồng/kg, giá bán ra còn cao nhất được 33.000 đồng/kg, thấp hơn 11.000-12.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước, nhưng vẫn cao hơn khoảng 13.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 02/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 1/2018 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 16.3 triệu USD, tăng rất nhẹ so với tháng trước, nhưng con số này lại tăng rất mạnh, mức tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước, tương đương hơn 10.22 triệu USD. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 1 này với tổng kim ngạch đạt 10.98 triệu USD, chiếm 67.35% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.3

+168.1

2

5.3

7.5 

 

 

3

10.0

8.1 

 

 

4

9.0

7.6 

 

 

5

10.7

11.74 

 

 

6

10.1 

9.31

 

 

7

13.2

9.44 

 

 

8

10.7

8.93 

 

 

9

6.8

7.64 

 

 

10

6.7

9.12 

 

 

11

8.5

11.76 

 

 

12

10.9

16.21 

 

 

Tổng

99.4

113.38

16.3

 

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2018 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Tại thị trường Trung Quốc, giá heo hơi liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng 2 vừa qua do nguồn cung vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ thực tế.

Tiếp nối chiều hướng từ những tuần cuối tháng 1, trong tuần đầu tiên của tháng 2, giá heo hơi tại Trung Quốc tiếp tục nối dài đà giảm, khi tại các tỉnh phía Bắc nước này, giá heo  hơi xuất bán được điều chỉnh giảm sâu, hầu hết các tỉnh bị kéo xuống dưới ngưỡng 14 tệ/kg, thậm chí có tỉnh như Liêu Ninh, giá heo xuống dưới mốc 13 tệ/kg, còn 12.61 tệ/kg; tại các tỉnh khu vực phía Nam, tốc độ giảm có xu hướng chậm hơn và vẫn đạt trên 14.2 tệ/kg. Nguyên nhân dẫn tới giá heo tai Trung Quốc có điều chỉnh giảm trong thời gian này có sự đóng góp của 1 số nguyên nhân sau: (1) Nguồn cung heo ra thị trường dịp cận Tết lớn tạo áp lực đẩy giá heo đi xuống do tiêu thụ thịt chưa tăng như kỳ vọng; (2) cuộc di dân lớn nhất năm của Trung Quốc dịp Tết nguyên đán đã chính thức bắt đầu kể từ 1/2 khiến cho tiêu thụ thịt heo tại các thành phố lớn sụt giảm mạnh. Bước sang những ngày giữa tháng, chính là thời gian nghỉ Tết nguyên đán của Trung Quốc, đây được xem là thời gian có diễn biến sáng ngất của heo hơi Trung Quốc kể từ hồi giữa tháng 1 cho đến hết tháng 2. Giá heo hơi có điều chỉnh tăng trở lại, tính từ ngày 12/02 đến ngày 20/02, tổng mức tăng trung bình toàn quốc đạt khoảng 0.58 tệ/kg. Tuy nhiên, chỉ ngày sau khi kết thúc kỳ nghỉ, cận đến ngày các cơ quan, trường học hoạt động trở lại thì nguồn cung heo ra thị trường tiếp tục dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ khiến giá heo hơi tại Trung Quốc lại quay đầu giảm, tổng lượng giảm lên tới 1.64 tệ/kg, kéo giá heo trung bình cả nước chỉ còn 11.78 tệ/kg, tương đương với trên dưới 42.000 đồng/kg. Mức giá này được ghi nhận là thấp nhất kể từ tháng 4/2014.   

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 2 năm 2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện trong nước

- Theo thông tin từ phía người chăn nuôi cho biết, lượng heo tồn từ trong Tết vẫn còn khá nhiều, trong đó có cả lượng heo đặt cọc tiền từ trước nhưng chưa tiêu thụ được trong khi lượng heo mới đã đến biểu xuất bán, gây áp lực lên nguồn cung heo, kéo giá heo nội địa có diễn biến không mấy khả quan trong tháng 2 vừa qua.

- Theo tin từ Cục Thú y, tính đến thời điểm ngày 28/02/2017 trên cả nước có dịch LMLM típ O xảy ra tại 03 huyện: Sông Mã, Bắc Yên và Phù Yên thuộc tỉnh Sơn La.

Sự kiện quốc tế

Tại thị trường Trung Quốc, nguồn cung heo hơi ra thị trường vượt xa so với nhu cầu tiêu thụ, khiến giá heo hơi liên tiếp được điều chỉnh giảm trong tháng 2 vừa qua. Mức giá trung bình toàn quốc được xác lập vào thời điểm cuối tháng, còn 11.78 tệ/kg, được  ghi nhận là thấp nhất kể từ tháng 4/2014.  .

Thống kê từ hải quan Trung Quốc cho biết, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của nước này trong tháng 1 năm 2018, lượng thịt heo nhập khẩu đạt khoảng 116.000 tấn, tăng 4.1% so với tháng trước, tương đương với 4.566 tấn và tăng 3.8% so với cùng kỳ năm 2017, tương đương với gần 4250 tấn thịt.

 

Tin tham khảo