Thịt 1/2018 - Nhu cầu tiêu thụ có chiều hướng tích cực trong khi nguồn cung gà ra thị trường không kịp đáp ứng, đẩy giá gà tại miền Bắc có điều chỉnh tăng trong tháng 1

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thịt 1/2018 - Nhu cầu tiêu thụ có chiều hướng tích cực trong khi nguồn cung gà ra thị trường không kịp đáp ứng, đẩy giá gà tại miền Bắc có điều chỉnh tăng trong tháng 1

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 1/2018

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 10 năm 2017

- Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong  năm 2018 lên 113.1 triệu tấn

- Sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 được dự báo sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn

- Sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Giá heo hơi tại thị trường nội địa có diễn biến tích cực trong những tuần cuối tháng khi giao dịch trên biên sôi động trở lại và nhu cầu tiêu thụ nội địa khởi sắc hơn.
  • Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2017 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.91 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước, mức tăng đạt gần 0.4 triệu USD so với tháng trước, tương đương với 77.57%.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2017 tăng khá so với tháng trước, đạt 33.74 triệu USD, mức tăng khoảng 53.33%, tương đương với gần 11.74 triệu USD và cũng cao hơn gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2016.

Thịt gà

-    Nhu cầu tiêu thụ có chiều hướng tích cực trong khi nguồn cung gà ra thị trường không kịp đáp ứng, đẩy giá gà trắng tại miền Bắc có điều chỉnh tích cực trong tháng 1 vừa qua.

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2017 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt 16.21 triệu USD, tăng 37.85% tương đương 4.45 triệu USD so với tháng trước, và tăng 48.67% (tương đương 5.31 triệu USD) so với cùng kỳ năm 2016.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Tình hình thời tiết khắc nghiệt, tuyết, mưa và sương mù dày đặc khiến giá heo tại Trung Quốc liên tiếp lao dốc trong tháng 1 vừa qua

SỰ KIỆN QUỐC TẾ

Tin từ Trung Quốc cho biết, đàn heo nái và heo thịt của nước này tiếp tục giảm khá mạnh trong tháng 12 khi các trang trại bị di dời hoặc phá huỷ trước thời điểm 31/12. Theo đó, đàn heo nái giảm 6,4%- mức giảm mạnh nhất từ tháng 2/2016 và heo thịt giảm 6,8%- mức giảm mạnh nhất từ tháng 1/2016. Kể từ tháng 7/2017 trở lại đây, đàn heo nái của Trung Quốc có sự suy giảm khá mạnh, gây ra những lo ngại về sự suy giảm đàn heo thịt trong nửa đầu năm 2018.

 

 

DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ tăng gần 2% trong  năm 2018 lên 113.1 triệu tấn. Trung Quốc là nước có sản lượng thịt heo sản xuất ra lớn nhất thế giới năm 2018 với gần 54.75 triệu tấn, chiếm 48.42% tổng sản lượng thịt heo toàn cầu. Tiếp đến và khu vực EU với trên 23.35 triệu tấn và Mỹ sẽ sản xuất khoảng 12.19 triệu tấn, chiếm 10.78% trổng sản lượng. Sản lượng thịt heo của Việt Nam ước tính trong năm 2017 là 2.75 triệu tấn và dự báo năm 2018 là 2.78 triệu tấn.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

108,850

108,466

6,610

7,011

2014

110,652

109,964

6,341

6,988

2015

110,618

110,148

6,718

7,235

2016

109,969

109,667

7,973

8,320

Ước tính 2017

111,034

110,588

7,879

8,271

Dự báo 2018

113,070

112,584

8,048

8,484

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

2,377

2,589

2,706

EU

3,125

2,800

2,800

Canada

1,320

1,330

1,350

Brazil

832

810

830

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Trung Quốc

2,181

1,650

1,600

Nhật Bản

1,361

1,440

1,435

Mê-xi-cô

1,021

1,125

1,200

Hàn Quốc

615

680

655

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 10/2017 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 2% so với năm 2017, ước đạt 62,55 triệu tấn. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng dự báo trong năm 2018 sẽ đạt 12,45 triệu tấn, tiếp theo đó là Brazil 9,70 triệu tấn, EU 7,90 triệu tấn và Trung Quốc đứng thứ tư với lượng khoảng 7.11 triệu tấn thịt bò/bê sản xuất ra trong năm 2018.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2018 sẽ tăng gần 3% lên 10.1 triệu tấn. Trong đó, Ấn Độ là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt 1.85 triệu tấn, sau đó là đến Brazil với 1.83 triệu tấn và đứng thứ 3 là Úc, với giá trị là 1.53 triệu tấn. Với kim ngạch nhập khẩu, USDA dự báo, trong số các nước nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới năm 2018 thì Mỹ vẫn là thị trường chiếm vị trí số 1 với hơn 1,37 triệu tấn thịt bò/bê nhập khẩu trong năm 2018, sau đó là đến Trung Quốc với 1.03 triệu tấn.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2013-2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

60,535

58,742

7,445

9,239

2014

60,815

58,749

7,890

9,997

2015

59,699

57.819

7,631

9,545

2016

60,443

58,714

7,691

9,422

Ước tính 2017

61,373

59,362

7,748

9,791

Dự báo 2018

62,554

60,550

7,992

10,056

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Ấn Độ

1,764

1,825

1,850

Brazil

1,698

1,760

1,825

Úc

1,480

1,450

1,525

Mỹ

1,159

1,285

1,320

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2017-2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Mỹ

1,367

1,341

1,374

Trung Quốc

818

925

1,025

Nhật Bản

719

780

815

Hàn Quốc

513

550

560

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 10/2017 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2018 được dự báo sẽ tăng khoảng 1% so với năm trước, lên 91,3 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với gần 18,97 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, EU và Trung Quốc với sản lượng được dự báo trong năm 2017 lần lượt sẽ là 13,55 triệu tấn, 11,88 triệu tấn và 11,00 triệu tấn.

Nhật Bản là tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với 990 nghìn tấn. Lượng nhập khẩu của năm 2018 có sự suy giảm nhẹ so với năm 2017. Trong đó năm 2017 Nhật Bản đã nhập khẩu thịt gà lên tới 995 nghìn tấn.

Mặc dù không phải là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng do lượng tiêu thụ nội địa của Brazil thấp hơn rất nhiều so với khả năng sản xuất nên nước này tiếp tục là nước xuất khẩu thịt gà lớn nhất thế giới trong năm 2018 với gần 4,2 triệu tấn thịt gà.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2013 -2018 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2013

84,407

82,892

8,694

10,275

2014

86,765

85,154

8,902

10,478

2015

89,126

87,349

8,592

10,259

2016

89,098

87,368

8,939

10,685

Ước tính 2017

90,175

88,135

9,050

11,079

Dự báo 2018

91,278

89,091

9,274

11,444

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

 

 

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2018 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Brazil

3,889

4,000

4,150

Mỹ

3,014

3,091

3,189

EU

1,276

1,250

1,280

Thái Lan

690

770

800

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2017 (nghìn tấn)

Tên nước

2016

Ước tính 2017

Dự báo 2018

Nhật Bản

973

995

990

Mê-xi-cô

791

750

775

Ả-Rập-Xê-Út

886

780

740

EU

761

720

720

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 10/2017

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  1. THỊT LỢN/ HEO

Giá heo hơi tại thị trường nội địa có diễn biến tích cực trong những tuần cuối tháng khi giao dịch trên biên sôi động trở lại và nhu cầu tiêu thụ nội địa khởi sắc hơn.

Trong 3 tuần đầu tháng 1, giao dịch ở cả kênh biên mậu lẫn nội địa đều tương đối trầm lắng, giữ giá heo hơi tại thị trường nội địa có xu hướng ổn định quanh mức giá thiết lập từ tháng trước hoặc điều chỉnh giảm nhẹ. Những yếu tố tác động không mấy tích cực đến các giao dịch heo gồm: (1) Do biểu heo khá nhỏ, hầu hết là dưới 125 kg/con nên hầu như heo miền Bắc không còn được đóng đi biên giới phía Bắc, nên khó hỗ trợ cho giá heo nội địa; (2) Thời tiết mưa tại các tỉnh miền núi phía Bắc khiến đường trơn trượt, các xe khó vào mốc trả hàng; (3)Phía Trung Quốc tăng cường các biện pháp siết chặt kiểm soát tại một số cửa khẩu biên giới; (4) Chênh lệch giữa giá trên biên và giá nội địa ít, không hấp dẫn các lái đóng hàng đưa lên. Trước những tác động này, tính đến cuối tuần thứ 3 của tháng, giá heo hơi miền Bắc còn dao động quanh mức 32.500-33.000 đồng/kg, tổng mức giảm từ 1.000-1.500 đồng/kg so với hồi cuối tháng 12. Trong khi đó, tại thời điểm này giá heo miền Nam vẫn giữ ổn định quanh 30.500-31.500 đồng/kg. Bước sang tuần thứ 4 của tháng, tình hình giao dịch tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc có chiều hướng tích cực hơn, lượng heo giao sang Trung Quốc tăng nhẹ, cộng thêm tiêu thụ tại thị trường nội địa có những dấu hiệu khởi sắc, hỗ trợ tích cực cho giá heo tăng  trở lại. Theo đó, tại hầu khắp các vùng, giá heo hơi đều được điều chỉnh lên mức giá tốt hơn. Tại miền Bắc, mức điều chỉnh tăng đạt 1.000 đồng/kg, nâng giá heo tại đây lên quanh mức 33.500-34.000 đồng/kg và cao hơn 500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng 12/2017. Tại miền Nam, giá heo tăng 500 đồng/kg, đẩy giá heo giao dịch phổ biến ở mức 31.500 đồng/kg, và hầu như không còn giá 30.500 đồng/kg. Tại miền Tây, giá heo hơi cũng tăng 500 đồng/kg lên mức 30.500 đồng/kg, cao hơn 2.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Có cùng xu hướng, giá heo công ty tại Bình Dương cũng được điều chỉnh tăng từ 2.000-3.000 đồng/kg so với hồi tuần trước và cao hơn 4.000-4.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tại Lâm Đồng, giá heo công ty cũng điều chỉnh lên mức 31.000 đồng/kg, cao hơn 3.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tuy vậy, những ngày cuối tháng lại có diễn biến không mấy khả quan, khi thời tiết mưa tại các tỉnh miền Bắc khiến các xe khó vào mốc đóng-trả hàng, gây tồn đọng hàng trên các cửa khẩu, khiến giá heo nội địa cũng chững lại, duy trì quanh mức thiết lập từ trước đó.

Có xu hướng biến động trái ngược, trong 2 tuần đầu tháng, giá heo hơi tại cả 2 miền đồng loạt được điều chỉnh tăng từ 500-1.000 đồng/kg, tùy khu vực, nâng giá heo dân tại Đồng Nai lên quanh mức 30.000-32.000 đồng/kg và tại Thái Bình là 33.500-34.000 đồng/kg. Từ tuần thứ 3 trở về cuố tháng, giá heo 2 miền lại có biến động trái chiều nhau, khi tại Đồng Nai, sau 2 lần điều chỉnh tăng giảm liên tiếp, giá heo ngày cuối tháng giao dịch quanh mức 31.000-33.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg so với nửa đầu tháng. Trong khi đó, tại Thái Bình, cũng sau 2 lần điều chỉnh, giá bán ra chỉ còn 1 mức giá là 34.000 đồng/kg.

Theo thông tin từ thương nhân cho biết, heo giao dịch tại cửa khẩu biên giới phía Bắc vẫn chủ yếu là heo từ miền Trung và miền Nam đưa ra, giá heo lên xe dao động trong khoảng từ 29.500-30.500 đồng/kg, tùy từng thời điểm.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2017 Việt Nam đã nhập khẩu lượng thịt heo đã qua giết mổ trị giá hơn 0.91 triệu USD, tăng mạnh so với tháng trước, mức tăng đạt gần 0.4 triệu USD so với tháng trước, tương đương với 77.57%. Tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm 2016, thì con số này chưa bằng một nửa, tương đương với mức thấp hơn là 1.4 triệu USD, tương đương với 60.62%. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ sang các thị trường trong tháng 12 đạt 4.67 triệu USD, tăng khá so với tháng 11/2017, mức tăng khoảng 27.73%, tương đương với trên 1.01 triệu USD; nhưng lại giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, mức giảm lên tới 48%, tương đương với 4.3 triệu USD. Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 12 với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt gần 4.19 triệu USD, chiếm 89.83% thị phần.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2017 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2016 - 2017 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 12/2017 tăng khá so với tháng trước, đạt 33.74 triệu USD, mức tăng khoảng 53.33%, tương đương với gần 11.74 triệu USD và cũng cao hơn gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2016. Trong tháng 12, Úc tiếp tục là nước giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với tổng kim ngạch nhập khẩu bò sống từ nước này lên tới 29.7 triệu USD, chiếm 88.04% thị phần.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

TT %

1

53.9

29.71

-44.9

2

31.7

21.96

-30.9 

3

25.1

6.52

-74.0 

4

42.0

22.65

-46.05

5

37.6

45.09 

+19.92 

6

16.3

54.29 

+233.75 

7

26.8

26.68 

-0.45

8

22.9

13.18

-42.38 

9

29.9

18.26 

-38.85 

10

31.9

 27.84

 -12.80

11

16.1

 22.00

 +36.84

12

15.9

33.74 

+112.3 

Tổng

350.1

321.82

 

 

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2017 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

  1. THỊT GÀ
    1. Gà trắng

Nhu cầu tiêu thụ có chiều hướng tích cực trong khi nguồn cung gà ra thị trường không kịp đáp ứng, đẩy giá gà trắng tại miền Bắc có điều chỉnh tích cực trong tháng 1 vừa qua.

Nguồn cung gà ra thị trường khan hiếm hơn trong khi nhu cầu tiêu thụ có chiều hướng tích cực, đẩy giá gà trắng tại cả 2 miền Bắc – Nam được điều chỉnh tăng khá trong tháng 1 vừa qua. Thậm chí, ở tuần cuối của tháng, giá gà trắng tại miền Bắc được điều chỉnh tăng khá mạnh với mục đích nhằm giảm sức mua của thị trường, đảm bảo giữ đủ nguồn hàng bán cho dịp tết Nguyên Đán. Theo đó, tính đến ngày cuối tháng, giá gà trắng tại thị trường miền Bắc giao dịch quanh mức 37.500-38.000 đồng/kg, tổng mức tăng đạt 6.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Tại thị trường miền Nam, sau khi giữ ổn định trong 3 tuần đầu tháng, sang tuần thứ 4, giá gà trắng cũng được điều chỉnh tăng lên mức 33.000-34.000 đồng/kg, cao hơn từ 3.000-4.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, cũng như cùng kỳ tháng trước. Giá gà giống (1 ngày tuổi) quay đầu giảm kể từ ngày đầu tháng 1 về mức 9.500 đồng/con và duy trì mức giá này đến ngày cuối tháng.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-01/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. Gà tam hoàng

Không có biến động liên tục như gà trắng, giá gà màu tại miền Bắc chỉ có điều chỉnh duy nhất 1 lần vào tuần thứ 3 của tháng, nhưng mức tăng khá mạnh, từ 7.000-8.000 đồng/kg, nâng giá gà giao dịch trên thị trường lên quanh mức 42.000-45.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá gà màu tại miền Bắc tại thời điểm cuối tháng cao hơn khoảng 8.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Trong khi đó, tại thị trường miền Nam, giá gà vẫn giao dịch ổn định, quanh mức 44.000-45.000 đồng/kg, tương đương với cùng kỳ tháng trước. Giá gà giống (1 ngày tuổi) có điều chỉnh tăng 500 đồng/con vào tuần thứ 4, lên mức 7.000 đồng/con

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 01/2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 12/2017 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt 16.21 triệu USD, tăng 37.85% tương đương 4.45 triệu USD so với tháng trước, và tăng 48.67% (tương đương 5.31 triệu USD) so với cùng kỳ năm 2016. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 12 này với tổng kim ngạch đạt 10.11 triệu USD, chiếm 62.36% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2017 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

TT %

1

7.6

6.08

-19.73

2

5.3

7.52

+41.17

3

10.0

8.08

-19.13

4

9.0

7.56

-16.00

5

10.7

11.74 

+9.72 

6

10.1 

 9.31

-7.82

7

13.2

9.44 

-28.48

8

10.7

 8.93

 -16.54

9

6.8

7.64 

+11.92 

10

6.7

 9.12

 +36.12

11

8.5

 11.76

+ 38.89

12

10.9

16.21 

+48.67 

Tổng

99.4

113.38

 

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 – 2017 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Tình hình thời tiết khắc nghiệt, tuyết, mưa và sương mù dày đặc khiến giá heo tại Trung Quốc liên tiếp lao dốc trong tháng 1 vừa qua

Trong 10 ngày đầu tháng 1, giá heo hơi tại các tỉnh phía Bắc Trung Quốc có xu hướng điều chỉnh tăng khá do ảnh hưởng từ thời tiết tuyết rơi dày tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Đông Trung Quốc khiến giao thông đi lại khó khăn, thậm chí nhiều tuyến đường cao tốc bị chặn, lưu thông đình trệ, ảnh hưởng tới việc vận chuyển và tiêu thụ heo giữa các vùng, gây thiếu hụt nguồn cung heo ra thị trường. Thậm chí, tại thời điểm này, trung tâm khí tượng quốc gia Trung Quốc nâng mức cảnh báo lên màu vàng, mức cao thứ 3 trong hệ thống cảnh báo do tuyết rơi dày đặc tại miền Bắc và miền Trung nước này. Tuy nhiên, kể từ tuần thứ 3 cho đến hết tháng, giá heo hơi tại Trung Quốc, đặc biệt là khu vực phía Bắc nước này nối dài đà giảm, kéo tổng mức suy giảm của giá heo trung bình toàn quốc lên tới 0.87 tệ/kg. Nguyên nhân gây ra diễn biến xấu cho giá heo là do: (1) Thời tiết lạnh giá tại Trung Quốc trong những ngày đầu tháng 1 làm cho giá thành thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là giá ngô tăng cao, khiến nhiều trại phải đẩy heo ra bán để giảm chi phí chăn nuôi. Ngoài ra, việc mất điện trên diện rộng tại các tỉnh miền Bắc và Trung cũng làm các trại đẩy heo ra bán, dẫn tới nguồn cung heo ra thị trường dồi dào hơn; (2) Khi thời tiết thuận lợi hơn, việc lưu chuyển heo giữa các vùng cũng dễ dàng hơn, khiến nguồn cung giữa các vùng không còn chênh lệch nhiều; (3) Sương mù dày đặc tại các tỉnh miền Bắc Trung Quốc kể từ tuần thứ 4 của tháng do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, đã khiến cho 20 tuyến đường cao tốc phải đóng cửa và xe cộ phải xếp hàng dài, khiến cho việc vận chuyển và tiêu thụ heo giữa các vùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng; (4) Nguồn cung heo dịp cận Tết tương đối nhiều trong khi giao thông đình trệ. Tuy nhiên, do trong tháng 1 này, giá đồng nhân dân tăng tốt trên thị trường thế giới hỗ trợ cho tỷ giá CNY/VND tăng khá, nên khi quy đổi sang VND, giá heo Trung Quốc thời điểm cuối tháng vẫn đạt gần 52.000 đồng/kg.

Thống kê từ hải quan Trung Quốc cho biết, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của nước này trong tháng 12/2017 đạt hơn 110.000 tấn, tăng 11% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của Trung Quốc đạt 1,2 triệu tấn, giảm mạnh 15% so với năm 2016

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 1 năm 2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG

Sự kiện trong nước

- Từ tuần thứ 4 của tháng, tình hình giao dịch tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc có chiều hướng tích cực hơn, lượng heo giao sang Trung Quốc tăng nhẹ, cộng thêm tiêu thụ tại thị trường nội địa có những dấu hiệu khởi sắc, hỗ trợ tích cực cho giá heo được điều chỉnh tăng trở lại, với mức tăng dao động từ 500-3.000 đồng/kg, tùy khu vực.

- Theo tin từ Cục Thú ý, tính đến ngày 31/01/2018, trên cả nước không có dịch cúm xảy ra trên đàn gia cầm.

Sự kiện quốc tế

Tin từ Trung Quốc cho biết, đàn heo nái và heo thịt của nước này tiếp tục giảm khá mạnh trong tháng 12 khi các trang trại bị di dời hoặc phá huỷ trước thời điểm 31/12. Theo đó, đàn heo nái giảm 6,4%- mức giảm mạnh nhất từ tháng 2/2016 và heo thịt giảm 6,8%- mức giảm mạnh nhất từ tháng 1/2016. Kể từ tháng 7/2017 trở lại đây, đàn heo nái của Trung Quốc có sự suy giảm khá mạnh, gây ra những lo ngại về sự suy giảm đàn heo thịt trong nửa đầu năm 2018.

Thống kê từ hải quan Trung Quốc cho biết, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của nước này trong tháng 12/2017 đạt hơn 110.000 tấn, tăng 11% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, nhập khẩu thịt heo đông lạnh của Trung Quốc đạt 1,2 triệu tấn, giảm mạnh 15% so với năm 2016

 

 

Tin tham khảo