Thị trường sắn và tinh bột sắn (tuần 31/05-06/06/2018) - Giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam qua kênh biên mậu tăng lên mức cao nhất 3420 tệ/tấn tại Móng Cái

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (tuần 31/05-06/06/2018) - Giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam qua kênh biên mậu tăng lên mức cao nhất 3420 tệ/tấn tại Móng Cái

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Sang tháng 6, các giao dịch sắn lát nội địa lẫn xuất khẩu tiếp tục rơi vào trạng thái ảm đạm do các nhà nhập khẩu Trung Quốc tạm ngưng mua hàng do nhiều nhà máy cồn và hóa chất đang tạm nghỉ bảo dưỡng do hoạt động thanhh tra môi trường.

Theo thông tin AgroMonitor cập nhật, trong tháng 5, có ít nhất 7 tàu sắn lát vào lấy hàng tại cảng Quy Nhơn với tổng khối lượng đạt trên 40.000 tấn. Theo đó, lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 5 ước tính sẽ chỉ đạt quanh mức 50.000 tấn, đưa tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt con số 500.000 tấn, tức giảm khoảng 22,5% so với cùng kỳ năm 2017. Ước tính, lượng sắn lát tồn kho nội địa cả nước tính đến cuối tháng 5 còn khoảng trên dưới 300.000 tấn, theo đó tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam trong cả năm 2018 sẽ đạt khoảng 800.000 tấn, giảm gần một nửa so với năm 2017.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

-

-

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%) – giá kho bán ra

4.800-4.900

4.800-4.900

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.700-4.800

4.700-4.800

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

5.800

5.800

Tây Ninh – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

-

-

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho bán ra)

5.700-5.800

5.700-5.800

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

-

-

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

-

-

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - CNF

248-250

248-250

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Lượng mì củ từ Campuchia đưa về cửa khẩu Chàng Riệc trong tuần này giảm nhẹ, chỉ đạt bình quân trên 1.000 tấn/ngày do nguồn cung mì nội vùng tăng mạnh, các nhà máy chuyển qua chạy mì nội nhiều hơn. Theo đó, giá mì củ giao dịch tại Chàng Riệc cũng bị đẩy xuống, còn phổ biến quanh mức 370-450 Riel/kg, tương đương với giá quy đổi sang VND từ 2.070-2.520 đồng/kg. Do ảnh hưởng của những trận mưa lớn kéo dài liên tiếp trong 20 ngày qua khiến nhiều diện tích mì trồng đất thấp tại Tây Ninh bị ngập úng. Theo nhận định, mặc dù năm nay diện tích mì trồng mới tại Tây Ninh ước tính tăng từ 10-15% so với năm trước nhưng năng suất và sản lượng có thể sẽ không tăng tương ứng. Nguyên nhân là do mùa mưa tại Tây Ninh năm nay đến sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, đồng thời mưa lớn diễn ra liên tiếp ngay từ đầu mùa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất của cây mì do mì vẫn còn non (tầm 4-5 tháng tuổi), chủ yếu mới đang trong giai đoạn xuống củ và tạo bột. Đặc biệt là những vùng mì đất thấp. Ước tính, mì đất thấp chiếm khoảng 50% diện tích mì của tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên phần lớn đang phải nhổ non nên năng suất chỉ đạt khoảng 15-20 tấn/ha, tức giảm tới hơn 40% so với những vụ trước. Theo đánh giá của các thương nhân, nếu thời tiết tiếp tục diễn biến cực đoan như hiện nay thì trong khoảng 1 tháng nữa, thu hoạch mì đất thấp tại Tây Ninh sẽ hoàn thành được khoảng 80%. Do chất lượng mì kém, cộng với nguồn cung mì nội vùng liên tục tăng mạnh khiến giá mì củ đưa về các nhà máy tinh bột tại Tây Ninh quay đầu giảm mạnh vào giữ tuần này, từ mức 3.650-3.700 đồng/kg giảm còn 3.270-3.400 đồng/kg, tức giảm tới 300 đồng/kg. Giá tinh bột sắn vụ mới tại Tây Ninh hiện đang được bán với giá phổ biến từ 12.100-12.300 đồng/kg. Trong khi đó, giá xuất biên mậu tại Lạng Sơn và Móng Cái hiện được chấp nhận ở mức cao nhất chỉ 12.100 đồng/kg nên các doanh nghiệp chuyển qua bán nội địa hoặc tìm kiếm đầu ra từ các thị trường ngoài Trung Quốc. Theo các thương nhân cho biết, nhu cầu tiêu thụ nội địa hiện nay khá tốt, đặc biệt cho các nhà máy sản xuất giấy, thùng carton và sản xuất mì ăn liền.

Tại khu vực Tây Nguyên, hầu hết các nhà máy tinh bột sắn phải nghỉ do hết vụ, mì không còn được đưa về.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

3.270-3.700

3.350-3.700

Tây Ninh – mì Cam

3.270-3.700

3.350-3.700

Đắc Lắc

2.600-2.650

2.600-2.650

Kon Tum

2.600-2.700

2.600-2.700

Phú Yên

2.700-2.750

2.700-2.750

Gia Lai

2.600-2.700

2.600-2.700

Miền Bắc (giá mua xô)

-

-

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, sang đến tuần này các giao dịch tinh bột sắn vẫn tiếp tục rơi vào trạng thái trầm lắng do lượng hàng tồn tại bến Ka Long không còn nhiều, đồng thời cả chủ hàng bên phía Việt Nam lẫn Trung Quốc đều có động thái trữ hàng không bán ra, chờ giá tăng thêm. Ước tính mỗi ngày chỉ có khoảng 200-300 tấn tinh bột sắn được giao sang phía Trung Quốc, tất cả đều là hàng trả cho những hợp đồng đã ký trước đó. Theo tin từ các thương nhân cho biết, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam đã được phía Trung Quóc chấp nhận mua với mức giá cao nhất là 3.420 tệ/tấn, tuy nhiên hàng chưa ra tới nơi. Cũng theo tin từ thương nhân cho biết, hiện nay phía Trung Quốc đang khá thận trọng, nhu cầu tới đâu thì mua tới đó chứ không ký hợp đồng giao xa do lo ngại giá có thể quay đầu giảm. Tính đến giữa tuần này, lượng tinh bột còn tồn tại Móng Cái rất ít, chỉ 3-4 sà lan, với khối lượng khoảng trên 2.000 tấn. Những tàu tinh bột sắn từ miền Trung và miền Nam đưa ra cảng Hải Phòng trong tháng 5 hầu hết đều được đưa vào kho, chờ thêm diễn biến của thị trường. Tuần qua, tỷ giá CNY/VND tiếp tục duy trì ở mức thấp, chỉ còn quanh mức 3550 đồng đổi 1 nhân dân tệ, gây bất lợi cho những hợp đồng xuất khẩu qua kênh biên mậu.

Tại Lạng Sơn, giá xuất khẩu tinh bột sắn cũng được đẩy tăng lên cao nhất 3.400 tệ/tấn và một vài chủ hàng bên Trung Quốc có thể chấp nhận mức giá này. Lượng tinh bột giao tại Lạng Sơn vẫn đạt tầm 500-600 tấn/ngày, chủ yếu là hàng đã ký trước đó.

Do Malaysia và Indonesia đang trong tháng ăn chay nên nhu cầu mua của 2 thị trường này giảm mạnh. Các doanh nghiệp xuất khẩu của Thái Lan và Việt Nam chuyển sang chào nhiều hơn về Trung Quốc. Tuy nhiên, mức giá mà Trung Quốc chấp nhận được cao nhất khoảng 530 USD/tấn  cho hàng Thái Lan và 520 USD/tấn cho hàng Việt Nam. Trong bối cảnh tồn kho tinh bột nội địa còn ít và giá giao dịch cao thì các nhà xuất khẩu của Việt Nam cũng hạn chế bán ra, chờ giá giao biên mậu được đẩy lên.  

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

510-520

510-520

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

3150-3420

3150-3380

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan vẫn giữ nguyên giá chào xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn ở mức giá đã được thiết lập từ tuần trước.

Trong khi đó, theo báo giá mới nhất, tuần này, Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan điều chỉnh giảm mạnh giá chào xuất khẩu tinh bột sắn tới 10 USD/tấn, xuống còn 540 USD/tấn FOB do giá tinh bột nội địa giảm 0,3 baht/kg. Tuy nhiên, mức giá này vẫn cao hơn khoảng 10-15 USD/tấn so với mức giá đang giao dịch thực tế.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.85-3.05

2.95-3.15

3.00-3.20

1.55-1.70

Sắn lát nội địa

Bath/kg

7.00-7.40

7.00-7.40

7.00-7.40

4.50-4.90

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

16.40-16.60

16.40-16.60

16.20-16.40

10.30-10.50

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

550-555

550-555

545-550

325-330

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

235-240

235-240

252

155-158

Nguồn: Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan