Thị trường sắn và tinh bột sắn (4/4-11/4/2019) - Giá tinh bột thành phẩm tại Tây Ninh giảm nhẹ
 

Thị trường sắn và tinh bột sắn (4/4-11/4/2019) - Giá tinh bột thành phẩm tại Tây Ninh giảm nhẹ

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Tại cửa khẩu Xa Mát, tuần này lượng mì đưa về tăng trở lại, đạt bình quân khoảng 25 xe/ngày, tương đương tầm 800 tấn/ngày, trong đó hầu hết là hàng kho đẩy ra bán, hàng mới phơi chất lượng kém, chỉ đủ điều kiện đi nhà máy cồn nên các kho từ chối mua. Đối với hàng mì cục, năm nay bên Cam trữ rất ít nên lượng đưa về chỉ còn lai rai vài xe/ngày. Giá mua vào của các kho tăng lên mức 4.700-4.850 đồng/kg với hàng mì vỏ và giá cao nhất 5.200 đồng/kg với hàng mì cục. Tại cửa khẩu Chàng Riệc, các kho đã ngừng mua mì lát để trữ điều nên không có xe nào đưa về.

Tại Hoa Lư, lượng mì đưa về cả cửa khẩu giảm mạnh, chỉ còn khoảng 3 xe/ngày, tương đương khoảng 100 tấn/ngày. Hiện chỉ còn 1 kho đang tiến hành mua mì với giá mua từ 4.900-4.950 đồng/kg. Một số kho tại Hoa Lư đang cắt kho bán ra với giá từ 5.050-5.100 đồng/kg cho hàng mì vỏ hoặc hàng rớt cám.

Tại Quy Nhơn, sang đến tuần này, lượng mì lát từ Gia Lai đưa về giảm, đạt bình quân khoảng 30 xe/ngày, tương đương khoảng từ 1.000 tấn/ngày. Trong đó 2 đơn vị mua nhiều nhất đạt từ 10-15 xe/kho/ngày. Giá mua vào của các kho vẫn dao động quanh mức 4.600-4.650 đồng/kg, tuy nhiên hàng đủ điều kiện với mức giá 4.650 đồng/kg rất ít. Theo ước tính của thương nhân, tổng lượng tồn kho sắn lát vụ mới tại Quy Nhơn tính đến giữa tháng 4 đạt trên 200.000 tấn, trong đó kho nhiều nhất đạt trên 50.000 tấn.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Nghệ An – mì Lào (độ ẩm trên 15%)

4.600-4.650

4.600-4.650

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15% - giá kho mua vào)

4.500-4.700

4.500-4.700

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.600-4.650

4.500-4.650

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá mua vào)

4.800-4.850

4.800-4.850

Tây Ninh – mì xô cồn vụ mới (độ ẩm trên 16%) – giá mua vào

4.700-4.850

4.650-4.850

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%) – giá mua vào

4.900-5.200

4.900-5.100

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.900-4.950

4.850-4.950

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho mua vào)

5.000-5.300

5.000-5.300

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

5.700

5.700

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

4.600-4.700

4.600-4.700

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Diễn biến giá sắn lát khô nội địa tại Quy Nhơn và Tây Ninh trong năm 2018-2019 (đồng/kg)-hàng xô thường

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, FOB)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - FOB

220-225

220-225

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, do phía Cam chuẩn bị nghỉ tết, đồng thời giá mì củ giao dịch tại cửa khẩu luôn duy trì ở mức thấp khiến lượng mì đưa về cửa khẩu giảm mạnh trong tuần này, chỉ đạt tầm 40-50 xe/ngày. Giá mua tại cửa khẩu chỉ dao động quanh mức 340-400 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sangVND từ 2.000-2.300 đồng/kg. Do có thêm một số nhà máy chạy lại khiến giá mua vào tăng 50 đồng/kg, lên mức 2.650-2.700 đồng/kg thay vì mức giá dự kiến 2.600 đồng/kg trước đó. Thời tiết tại Tây Ninh nắng gắt trở lại, nền đất cứng hơn khiến lượng mì nội vùng đưa về nhà máy ít hơn nên dù đầu ra xuất khẩu khó khăn nhưng giá nguyên liệu tại Tây Ninh sẽ khó điều chỉnh giảm.

Tại khu vực Tây Nguyên, trong 2 ngày cuối tuần trước, giá mì củ được điều chỉnh giảm mạnh tới 100 đồng/kg do: (i) Mì bị rớt độ bột do đã vào cuối vụ thu hoạch và mưa xuống; (ii) Một số nhà máy bị hỏng máy phải sửa chữa và nghỉ bảo dưỡng nên lượng mì về các nhà máy còn lại bị dư so với công suất, đẩy giá giảm. Hiện các nhà máy khu vực Đắc Lắc, Phú Yên cho giá mì xô 24-25 độ bột vào khoảng 2.000-2.050 đồng/kg. Tuy nhiên sang đến đầu tuần này, giá mì củ được điều chỉnh tăng trở lại, lên mức 2.100 đồng/kg (giá mì xô) do nguồn cung mì tiếp tục giảm. Thu hoạch mì tại nhiều vùng trồng lớn khu vực Gia Lai, Phú Yên đã xong được khoảng 85%-90% nên nông dân cũng không vội nhổ mì đưa về nhà máy khi giá thấp khiến cho các nhà máy không có đủ nguyên liệu để chạy đủ 1 ca nên buộc phải nâng giá mua. Theo dự đoán của một số thương lái lớn, giá mì xô dự kiến sẽ tăng lên mức 2.300-2.400 đồng/kg trong thời gian tới.

Tại Sơn La, hiện vẫn chỉ còn 01 nhà máy tinh bột sắn còn chạy với giá mua vào vẫn ổn định ở mức 1.900 đồng/kg (giá mua xô), lượng về lai rai do đã vào cuối vụ. Dự kiến trong khoảng 10-15 ngày nữa, nhà máy tại Sơn La sẽ nghỉ chạy do chất lượng sắn củ tươi kém hơn do đã vào mùa mưa. Tại khu vực Thanh Hóa và Nghệ An, các nhà máy đã nghỉ chạy do lượng sắn củ đưa về rất ít.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2019 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

2.650-2.700

2.600-2.700

Tây Ninh – mì Cam

2.650-2.700

2.600-2.700

Đắc Lắc (trừ lùi 20-30 đồng/độ bột thấp hơn)

2.400-2.500

2.500-2.600

Kon Tum (trừ lùi 30-50 đồng/độ bột thấp hơn)

2.400-2.500

2.500-2.600

Phú Yên (trừ lùi 50-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.400-2.500

2.500-2.600

Gia Lai (trừ lùi 20-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.400-2.500

2.500-2.600

Sơn La (giá mua xô mì từ 24 độ bột trở lên)

1.900

1.900

Yên Bái (giá mua xô mì từ 24 độ bột trở lên)

1.800

1.800

Thanh Hóa, Nghệ An (giá mua xô)

-

-

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại kênh giao dịch biên mậu, tuần này phía Trung Quốc đã đi làm trở lại sau tết Thanh minh, tuy nhiên các giao dịch vẫn rất chậm do nhu cầu hỏi mua tinh bột từ các nhà máy tại Trung Quốc yếu. Tại cửa khẩu Móng Cái, ước tính mỗi ngày có khoảng 600-700 tấn tinh bột sắn được giao sang bến Đông Hưng, tuy nhiên chủ yếu là vào kho bên Trung Quốc chứ hàng đi thẳng nhà máy ít. Giá giao dịch tại Móng Cái tiếp tục được điều chỉnh giảm từ 20-100 tệ/tấn so với tuần trước, còn cao nhất 3.180 tệ/tấn với hàng thực phẩm và giá giảm chỉ còn từ 2.700-2.750 tê/tấn với hàng bột công nghiệp. Tại cửa khẩu Na Hình (Lạng Sơn), giá giao dịch cũng giảm 20 tệ/tấn, còn cao nhất 3.080 tệ/tấn với hàng bột thực phẩm. Lượng tinh bột sắn giao được cũng khá ít, tầm 200-300 tấn/ngày chủ yếu cho các hợp đồng đã ký trước đó. Theo nhận định của thương nhân, tình hình xuất nhập khẩu tại khu vực Lạng Sơn dự kiến vẫn sẽ trầm lắng trong ít nhất khoảng 10 ngày tới. Từ 1/4 thuế nhập khẩu tinh bột sắn chính ngạch của Trung Quốc giảm từ 16% còn 13% nên hàng đi tiểu ngạch không còn lợi thế so với hàng chính ngạch. Hiện Trung Quốc chủ yếu lấy tinh bột thực phẩm còn hàng tinh bột công nghiệp từ Tây Ninh đưa ra gần như không giao được do Trung Quốc không có nhu cầu với loại hàng này.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

435-440

435-440

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.700-3.180

2.800-3.200

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan tiếp tục duy trì giá chào xuất khẩu ở mức 465 USD/tấn, đồng thời giá bán nội địa cũng duy trì ở mức 13,8 baht/kg.

Tương tự, tuần này Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan cũng giữ giá chào xuất khẩu ở mức 460-465 USD/tấn FOB, trong khi đó giá tinh bột nội địa quay đầu giảm 0,1 baht/kg so với tuần trước, còn dao động từ 13,7-13,8 baht/kg.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.30-2.50

2.30-2.50

2.30-2.50

2.80-3.00

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.10-6.50

6.10-6.50

5.90-6.30

7.10-7.40

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

13.70-13.80

13.70-13.90

13.60-13.80

16.10-16.30

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

460-465

460-465

455-460

545-550

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

220

220

215-220

252

             

Nguồn: Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan

Tin tham khảo