Thị trường sắn và tinh bột sắn (3/1-9/1/2019) - Giá sắn nguyên liệu tại các vùng giảm nhẹ do nguồn cung đưa về nhà máy nhiều hơn

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (3/1-9/1/2019) - Giá sắn nguyên liệu tại các vùng giảm nhẹ do nguồn cung đưa về nhà máy nhiều hơn

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, tuần này lượng mì lát từ Cam đưa về tăng, đạt từ 15-20 xe/ngày, tương đương bình quân khoảng 500-600 tấn/ngày. Giá mì giao dịch tại cửa khẩu tăng lên mức 860-880 Riel/kg với hàng mì cục, mì vỏ giá từ 750-780 Riel/kg và hàng xô cồn giá dao động từ 720-740 Riel/kg. Tại Xa Mát, lượng mì lát đưa về đạt bình quân khoảng 1.500 tấn/ngày, trong đó giá mua dao động từ 4.500-4.650 đồng/kg với hàng mì vỏ và mì cục giá từ 5.000-5.150 đồng/kg và mì xô cồn giá mua thấp nhất 4.200 đồng/kg. Hiện các nhà máy cám miền Tây đang cho giá mua mì cục đẹp từ 5.500-5.800 đồng/kg, mì vỏ giá 5.000 đồng/kg.

Tại Hoa Lư, tuần này có thêm một số kho mở cửa mua mì lát. Hiện một số đơn vị đang gom mì đẹp từ Hoa Lư cho các đơn hàng xuất đi Hàn nên giá mì đẹp tại Hoa Lư được giao dịch từ 4.800-5.000 đồng/kg tùy chất lượng. Đối với mì xô cồn, giá cũng được đẩy lên mức 4.200-4.700 đồng/kg theo đà tăng của Tây Ninh.

Tại Quy Nhơn, mì lát từ nguồn Gia Lai và Campuchia bắt đầu có đưa về với lượng đạt khoảng 15-20 xe/ngày (chủ yếu là các xe nhỏ từ 8-20 tấn/xe), tương đương tầm 200-300 tấn, trong đó mì Cam chiếm khoảng 5-6 xe. Theo thương nhân cho biết, mì đưa về hiện có độ ẩm khoảng 17%, tốt hơn so với cùng kỳ hàng năm. Giá mua vào được nâng lên mức 4.200 đồng/kg, cao hơn 100 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, giá mua vào của nhà máy cồn Đắc Tô (Kon Tum) cũng được điều chỉnh tăng lên mức 4.200 đồng/kg. Theo đó, mì Gia Lai có xu hướng đưa về Kon Tum nhiều hơn với lượng đạt khoảng 20 xe/ngày do quãng đường vận chuyển ngắn hơn. Theo nhận định với mức giá nguyên liệu như hiện nay thì giá mì lát đưa về kho Quy Nhơn có thể sẽ tiếp tục tăng khi các kho mua vào mạnh hơn.

Tại khu vực Bắc Miền Trung, sang đến tuần này, mì lát từ Lào đưa về tăng lại do các nhà máy tinh bột giảm mua mì củ. Giá mì Lào về cửa khẩu Cầu Treo (Nghệ An) giao dịch ở mức 4.200 đồng/kg, về cửa khẩu Đông Hà (Quảng Trị) giao dịch ở mức 4.100 đồng/kg. Hôm nay một số kho khu vực Chương Mỹ (Hà Nội) bắt đầu mua vào mì Lào với giá mì độ ẩm trên 16 độ khoảng 4.500 đồng/kg.

Tại miền Bắc, một số kho bắt đầu mở kho mua mì cám nhưng lượng về ít, gồm cả mì Lào lẫn mì Sơn La. Năm nay mì Lào về được đánh giá là chất lượng xấu, độ ẩm cao hơn hàng Sơn La. Với mì Sơn La, hiện một số kho đang mua vào với giá 4.300-4.400 đồng/kg, độ ẩm 15,5-16 độ. Mì Lào từ 4.450-4.500 đồng/kg. Giá mua vào thiết lập ở mức cao, trong khi giá mua của các nhà máy TACN khu vực miền Bắc vẫn chỉ giữ quanh mức 4.600-4.800 đồng/kg, lượng mua ít nên các kho mua vào khá thận trọng. Theo tin từ thương nhân cho biết, nhu cầu hỏi mua sắn lát từ các nhà máy cồn Trung Quốc vẫn yếu với mức giá mua tại kho Sơn La chỉ từ 3.800-3.900 đồng/kg trong khi giá sắn củ vẫn cao nên các sân phơi/lò sấy chưa hoạt động. Hàng bán ra hiện nay chủ yếu được gom từ các hộ dân nên chất lượng không đồng đều.

Tin từ thương nhân cho biết, hiện giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam đi Trung Quốc có thể được chấp nhận cao nhất 220 USD/tấn CNF cho hàng cont, tương đương giá 210 USD/tấn FOB, quy đổi 4.870 đồng/kg. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 2-3 đơn vị Trung Quốc đang mua hàng nên nhu cầu cũng chưa thật sự sôi động.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Nghệ An – mì Lào (độ ẩm trên 15%)

4.200

4.200-4.300

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%) – giá kho bán ra

4.300-4.500

4.300-4.500

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.200

4.100

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

5.200

5.200

Tây Ninh – mì xô cồn vụ mới (độ ẩm trên 16%) – giá mua vào

4.200-4.650

4.200-4.700

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho bán ra)

5.000-5.150

5.000-5.200

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.200-4.700

4.200-4.700

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho bán ra)

4.800-5.000

-

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

-

-

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

4.200

4.200

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - FOB

210-215

210-215

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, tuần này giá mì củ giao dịch tại cửa khẩu được điều chỉnh khá mạnh theo mức tăng/giảm của lượng mì đưa về mỗi ngày. Trong 2 ngày cuối tuần trước, lượng mì đưa về tăng mạnh, đạt gần 300 xe (tầm 9.000 tấn), kéo giá mì giao dịch tại cửa khẩu giảm mạnh tới 30 Riel/kg, còn cao nhất 400 Riel/kg. Do giá giảm mạnh nên sang đến đầu tuần này, lượng mì Cam đưa về giảm còn khoảng 150 xe/ngày, giá mì củ được đẩy tăng từ 10-30 Riel/kgso với cuối tuần trước, lên mức phổ biến từ 390-430 Riel/kg. Trong khi đó, giá mua vào của các nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh được điều chỉnh giảm 100 đồng/kg trong tuần qua, còn mức cao nhất 2.600 đồng/kg do đầu ra xuất khẩu khó khăn.

Tại khu vực miền Bắc, do trong tuần trước thời tiết khá thuận lợi nên người dân có xu hướng nhổ mì nhiều hơn, lượng mì đưa về các đại lý và nhà máy tăng mạnh khiến giá mua vào của các nhà máy được điều chỉnh giảm 50 đồng/kg so với tuần trước, còn mức 1.650 đồng/kg tại Sơn La và từ 1.750-2.000 đồng/kg tại khu vực Thanh Hóa, Nghệ An. Tuy nhiên, kể từ đầu tuần này, thời tiết tại miền Bắc tiếp tục có mưa nên khả năng trong một vài ngày tới lượng mì củ đưa về sẽ giảm.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, sang đến tuần này thời tiết đã nắng ráo trở lại, rất thuận lợi cho việc phơi mì lát. Tuy nhiên do giá các kho đưa ra thấp, trong khi giá mì củ vẫn tốt nên người dân chưa phơi mì rộ. Do chất lượng mì thu hoạch không đồng đều nên giá mì mua xô tại ruộng đang được giao dịch ở nhiều mức khác nhau, từ 1.850-2.150 đồng/kg tùy vùng và tùy chất lượng. Tuy nhiên, giá mua vào của các nhà máy vẫn giữ ổn định từ 2.300-2.400 đồng/kg (áp dụng với mì 30 trữ độ bột). Tin từ thương nhân cho biết, năng suất mì thu hoạch khu vực Tây Nguyên năm nay giảm rất mạnh với mức giảm lên tới 40-50% do thời tiết không tốt và mì bị dịch bệnh nhiều. Tại khu vực Phú Thiện (Gia Lai), năng suất mì thu hoạch năm nay giảm còn 17-20 tấn/ha, trong khi năm ngoái là 40-50 tấn/ha.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

2.550-2.600

2.600-2.700

Tây Ninh – mì Cam

2.450-2.500

2.500-2.600

Đắc Lắc (trừ lùi 20-30 đồng/độ bột thấp hơn)

2.300-2.400

2.300-2.400

Kon Tum (trừ lùi 30-50 đồng/độ bột thấp hơn)

2.300-2.400

2.300-2.400

Phú Yên (trừ lùi 50-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.300-2.400

2.300-2.400

Gia Lai (trừ lùi 20-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.500

2.450-2.500

Sơn La (giá mua xô mì từ 24 độ bột trở lên)

1.650

1.700

Yên Bái (giá mua xô mì từ 24 độ bột trở lên)

1.600

1.600

Thanh Hóa, Nghệ An (giá mua xô mì từ 25-27 độ bột)

1.750-2.000

1.800-2.100

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, tuần này, các giao dịch vẫn trong trạng thái trầm lắng, nhu cầu hỏi mua từ phía Trung Quốc vẫn rất yếu. Theo tin từ thương nhân cho biết, hiện nay chỉ còn một số nhà máy mua lai rai, gom hàng để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán kéo dài với lượng mua không đáng kể. Giá giao dịch tại Móng Cái hiện cao nhất được mức 3.250-3.280 tệ/tấn với hàng thực phẩm. Theo tin từ thương nhân cho biết, hiện nay hàng tinh bột của Việt Nam và Thái Lan về cảng Quingdao (Trung Quốc) rất nhiều với mức giá giao dịch phổ biến từ 405-415 USD/tấn FOB.

Tại cửa khẩu Na Hình, tuần này tốc độ giao nhận hàng phía Trung Quốc có xu hướng chậm lại, ngày đi được ngày không. Các bên vẫn đang chờ đợi kết quả cuộc họp của Bộ Nông nghiệp về hướng giải quyết đối với hoạt động xuất khẩu tinh bột sắn qua kênh biên mậu.

Tin từ thương nhân cho biết, trong cuộc họp giữa Bộ NN, Bộ công thương Việt Nam với các doanh nghiệp của Việt Nam và Trung Quốc hôm thứ 6 tuần trước, phía Trung Quốc sẵn sàng mua tinh bột cho hàng giao sau Tết nguyên đán ở mức 415 USD/tấn FOB nhưng phía Việt Nam chưa muốn bán ở mức này do kỳ vọng giá tinh bột sau Tết tăng mạnh.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

400-410

400-410

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.900-3.280

2.900-3.280

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan vẫn giữ giá chào xuất khẩu ở mức 445 USD/tấn FOB và giá tinh bột nội địa duy trì mức 13,8 Baht/kg.

Trong khi đó, theo báo giá mới nhất từ Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan, giá sắn lát nội địa tại Thái Lan có xu hướng tăng nhẹ, trong khi giá xuất khẩu sắn lát lại được điều chỉnh giảm 5 USD/tấn so với tuần trước.

Thống kê từ hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu sắn lát của nước này trong năm 2018 đạt hơn 4 triệu tấn, giảm 2,6 triệu tấn (tương đương giảm 40%) so với năm 2017. Như vậy cũng giống như Việt Nam, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan giảm mạnh do nguồn cung khan hiếm và Trung Quốc giảm mạnh lượng mua trong nửa cuối năm 2018. Tính tới tháng 12/2018, lượng sắn lát tồn kho vụ cũ của Thái Lan được ước tính còn khoảng 400.000 tấn.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.55-2.75

2.55-2.75

2.70-2.90

2.10-2.30

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.20-6.50

6.20-6.40

6.20-6.50

6.15-6.40

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

14.00-14.20

14.00-14.20

14.60-14.70

13.00-13.20

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

450-460

450-460

470-475

420-430

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

215

215-220

210-215

212

             

Nguồn: Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan