Thị trường sắn và tinh bột sắn (26/1-1/2/2018) - Giá mì nguyên liệu tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng do nguồn cung mì củ về nhà máy giảm mạnh

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (26/1-1/2/2018) - Giá mì nguyên liệu tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng do nguồn cung mì củ về nhà máy giảm mạnh

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Sang đến tuần này, lượng mì lát từ Campuchia đưa về các cửa khẩu tại Tây Ninh tiếp tục tăng. Trong đó, tại cửa khẩu Chàng Riệc, bình quân mỗi ngày có khoảng 25-30 xe, tương đương tầm 500-600 tấn mì lát được đưa sang, chủ yếu là hàng hàng xô cồn, mì cám về rất ít chỉ 1-2 xe/ngày. Giá giao dịch tại cửa khẩu không ngừng được đẩy tăng, lên mức cao nhất là 830 Riel/kg với hàng mì đẹp và giá thấp nhất là 740 Riel/kg với hàng mì vỏ, độ ẩm cao, tương đương giá quy đổi sang VND dao động từ 4.300-4.780 đồng/kg tùy phẩm cấp (đã bao gồm C/O và phí làm hàng). Tại cửa khẩu Xa Mát, lượng mì đưa về nhiều hơn, khoảng trên 100 xe/ngày, tức tầm 2.000-2.500 tấn/ngày với giá mua dao động từ 4.350-4.580 đồng/kg tùy phẩm cấp và phương thức thanh toán.

Tại Hoa Lư (Bình Phước), lượng mì đưa về đạt trên 100 xe/ngày, tương đương khoảng 3.000 tấn. Giá mì tại Hoa Lư cũng liên tục tăng trong tuần này do có thêm kho mở cửa mua hàng. Giá mì tại Hoa Lư tuần này được thiết lập ở mức 4.320-4.500 đồng/kg với mì xô thường và giá 4.450-4.600 đồng/kg với mì cám và mì rớt cám. Một số đơn vị chuyên làm hàng đi Hàn Quốc cũng bắt đầu mua vào mạnh.

Tại Quy Nhơn, giao dịch mì lát cũng rất sôi động do các kho đẩy mạnh mua vào. Lượng mì lát từ khu vực Gia Lai và bên Campuchia đưa về trong tuần này luôn duy trì ở mức cao, bình quân khoảng 4.500 tấn/ngày. Do có thêm nhiều kho mở cửa mua hàng nên giá mì lát đưa về các kho tại Quy Nhơn cũng liên tục được đẩy tăng, lên mức phổ biến từ 4.350-4.450 đồng/kg với mì xô thường và giá từ 4.450-4.500 đồng/kg với hàng chọn. Tính đến giữa tuần này, tại khu vực Quy Nhơn có tất cả 15 kho đã mở cửa mua hàng, với lượng mua dao động từ 20-50 xe/kho/ngày, tức kho mua nhiều nhất tầm trên 1.000 tấn/ngày.

Do giá sắn lát nội địa tăng mạnh nên giá sắn lát xuất khẩu của Việt Nam cũng được đẩy tăng lên mức 230-233 USD/tấn CNF. Tin từ thương nhân cho biết mức giá 230 USD/tấn CNF đã được phía Trung Quốc chấp nhận. Tuy nhiên, với giá nội địa vẫn đang tiếp tục tăng như hiện nay thì bán giá 230 cũng không có lãi.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

3.900

3.900

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%)

4.200-4.300

4.200-4.250

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.350-4.450

4.250-4.320

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.450-4.500

4.370-4.400

Tây Ninh – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.300-4.500

4.150-4.400

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.550-4.780

4.450-4.560

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.320-4.500

4.230-4.350

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.450-4.600

4.400-4.500

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

4.500-4.550

4.500-4.550

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

4.250-4.350

4.250-4.350

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - CNF

230-233

225-226

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Giá mì nguyên liệu tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng do nguồn cung giảm mạnh

Tại cửa khẩu Chàng Riệc (Tây Ninh), lượng mì củ từ Cam đưa về trong tuần này vẫn đạt ở mức thấp, bình quân chỉ khoảng 250 xe/ngày, tương đương tầm 5.000-6.000 tấn. Giá mì củ giao dịch tại Chàng Riệc đã giảm nhiệt sau khi vài ngày tăng nóng đầu tuần trước, còn phổ biến từ 380-420 Riel/kg. Trong khi đó, giá mì đưa về các nhà máy tinh bột tại Tây Ninh vẫn được đẩy tăng thêm 100 đồng/kg so với tuần trước, lên mức 2.500-2.800 đồng/kg do nguồn cung giảm mạnh.

Tại khu vực Tây Nguyên, keer từ cuối tuần trước, thời tiết có nắng khiến lượng mì củ đưa về các nhà máy giảm: i) Nền đất khô khó nhổ và công thuê nhổ mì cao; ii) Mì củ được đưa về các sân phơi nhiều hơn do giá sắn  lát đang tăng khá tốt. Theo đó, giá mì củ về nhà máy khu vực Tây Nguyên được điều chỉnh tăng khá mạnh, lên mức 2.150-2.450 đồng/kg tùy nhà máy và chất lượng mì đưa về. Mì từ khu vực Tây Nguyên vẫn đang được gom về Tây Ninh do chênh lệch giá giữa 2 vùng khá rộng. Theo tin từ các thương nhân cho biết, khu vực Đắc Lắc, Đắc Nông gần như đã thu hoạch xong nên mì từ Phú Yên, Kon Tum và Gia Lai là nguồn cung chính cho các nhà máy khu vực Tây Nguyên lẫn gom đi Tây Ninh tiêu thụ. Theo dự đoán, giá mì tại Tây Nguyên có thể sẽ tăng lên mức phổ biến 2.300-2.500 đồng/kg vào giai đoạn sau Tết nguyên đán.

Tại miền Bắc, thời tiết trong 2 ngày cuối tuần trước và đầu tuần này âm u và có mưa nên mì chủ yếu được đưa vào các nhà máy tinh bột sắn thay vì về các sân phơi. Riêng tại khu vực Sơn La, bà con người dân tộc đã bắt đầu nghỉ Tết nên lượng sắn củ đưa về các nhà máy lẫn sân phơi tiếp tục giảm mạnh. Giá mì củ về nhà máy tăng thêm 50 đồng/kg so với tuần trước, dao động quanh mức 1.850 đồng/kg tại Sơn La, riêng tại khu vực Thanh Hóa, Nghệ An, giá có thể mua cao nhất 2.200 đồng/kg.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

2.500-2.800

2.400-2.740

Tây Ninh – mì Cam

2.500-2.800

2.400-2.740

Đắc Lắc

2.150-2.300

2.000-2.100

Kon Tum

2.150-2.300

2.000-2.100

Phú Yên

2.270-2.400

2.050-2.150

Gia Lai

2.150-2.450

2.100-2.250

Miền Bắc (giá mua xô)

1.870-2.200

1.870-2.150

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, tình hình lên hàng vẫn rất chậm do tình trạng băng giá và tuyết rơi dày tại các tỉnh miền Đông và miền Trung (Trung Quốc) khiến nhiều tuyến đường cao tốc phải đóng cửa nên không có xe sang đón hàng. Thời tiết tại Trung Quốc được dự báo sẽ còn tiếp tục khắc nghiệt trong 6-10 ngày tới nên việc vận chuyển hàng từ cảng/cửa khẩu đi các nhà máy khu vực phía Bắc vẫn rất khó khăn. Giới thương nhân nhận định, với tình hình này các nhà máy tinh bột miền Trung và miền Nam sẽ hạn chế ra hàng, chờ sau Tết tính tiếp. Giá tinh bột sắn tại Móng Cái tăng nhẹ khoảng 30 tệ/tấn so với tuần trước, còn thấp nhất 2.700 tệ/tấn với hàng loại 2, hàng loại 1 giá vẫn giữ ở mức cao nhất là 2.950 tệ/tấn.

Tại Lạng Sơn, sang đến tuần này, việc giao hàng sang Trung Quốc bị đình trệ không chỉ với tinh bột sắn mà với nhiều mặt hàng khác nên cửa khẩu Na Hình đang bị tắc dài với hơn 100 xe nối đuôi nhau chờ giao hàng. Do thời tiết được dự báo còn tiếp tục khắc nghiệt bên phía Trung Quốc nên các chủ hàng Trung Quốc có hàng đợt này hầu hết đưa vào kho khu vực Bằng Tường. Trước tình trạng ách tắc tại Na Hình, một số doanh nghiệp chuyển hướng sang đi tại Na Nưa nhưng phía Trung Quốc ít muốn nhận hàng tại cửa khẩu này do chi phí cao.

Tại kênh xuất khẩu đường biển, chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam được đẩy tăng thêm từ 5-15 USD/tấn so với tuần trước, lên mức 410-440 USD/tấn FOB theo đà tăng của giá tinh bột sắn nội địa. Tuy nhiên, mức giá mới này hầu như chưa có giao dịch, nhu cầu từ phía Trung Quốc vẫn đang rất trầm lắng.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

410-440

405-425

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.700-2.980

2.670-2.980

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan vẫn giữ giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn ổn định theo mức giá đã được thiết lập từ tuần trước.

Tuy nhiên, theo tin từ Thái Lan cho biết, trong cuộc họp kết thúc vào chiều ngày 24/01/2018, Ủy ban điều phối giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan tiếp tục điều chỉnh tăng giá sàn thêm 4 USD/tấn, lên mức 219 USD/tấn FOB, đồng thời tăng giá sắn củ tươi (25%) lên mức thấp nhất là 2,45 Baht/kg trong giai đoạn từ 01/02-15/02/2018. Theo tính toán của phía Thái Lan, với mức giá 219 USD/tấn FOB thì chi phí sản xuất cồn tại khu vực Sơn Đông và Giang Tô (Trung Quốc) vào khoảng 5.331 tệ/tấn, trong khi giá bán thực tế đang được thiết lập quanh mức 5.413 tệ/tấn (giá cồn từ sắn) và bình quân ở mức 6.150 tệ/tấn (với giá cồn từ ngô). Do đó, các nhà sản xuất cồn tại Trung Quốc vẫn có lãi với mức giá mới mà Thái Lan đưa ra.

Trong khi đó, theo báo giá mới nhất của Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan, giá chào xuất khẩu tinh bột sắn của nước này tiếp tục tăng mạnh thêm 25 USD/tấn so với tuần trước, lên mức 465 USD/tấn FOB-cao nhất kể từ tháng 8/2013 trở lại đây, đồng thời giá tinh bột sắn nội địa cũng tăng mạnh 0,4 Baht/kg lên 13,7 Baht/kg.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.25-2.45

2.15-2.35

2.05-2.25

1.65-1.80

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.20-6.40

6.15-6.40

6.15-6.35

5.05-5.35

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

13.2-13.4

13.20-13.40

13.0-13.2

10.4-10.6

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

430-440

430-440

420-430

315-320

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

215

215

205

160

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Tin tham khảo