Thị trường sắn và tinh bột sắn (25/5-31/5/2018) - Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan giảm giá chào xuất khẩu sắn lát thêm 5 USD/tấn so với tuần trước

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (25/5-31/5/2018) - Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan giảm giá chào xuất khẩu sắn lát thêm 5 USD/tấn so với tuần trước

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Các giao dịch sắn lát nội địa lẫn xuất khẩu của Việt Nam trong tuần này đều trong trạng thái trầm lắng, gần như không có giao dịch do đã hết vụ và các nhà nhập khẩu Trung Quốc đã ngừng mua mì lát do các nhà máy cồn tại Trung Quốc đang phải nghỉ bảo dưỡng do các hoạt động thanh tra môi trường.

Tại các cửa khẩu Đông Nam Bộ, mì lát từ Campuchia không còn đưa về Việt Nam do các kho đóng cửa, ngừng mua hàng.

Tại khu vực Quy Nhơn, chỉ còn duy nhất 1 kho mở cửa mua hàng lai rai do mì trên nguồn đã cạn nên lượng mì lát đưa về chỉ 1-2 xe/ngày với tổng trọng lượng chỉ đạt khoảng 10-20 tấn/ngày. Giá mua vẫn giữ ở mức 4.700-4.800 đồng/kg. Theo các thương nhân cho biết, sang đến đầu tháng 6, tình hình xuất hàng tại Quy Nhơn sẽ sôi động hơn, dự kiến sẽ có khoảng 2-3 tàu sắn lát vào lấy hàng với tổng khối lượng đạt trên dưới 20.000 tấn.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

-

-

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%) – giá kho bán ra

4.800-4.900

4.800-4.900

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.700-4.800

4.700-4.800

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

5.800

5.800

Tây Ninh – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

-

-

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho bán ra)

5.700-5.800

5.700-5.800

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

-

-

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

-

-

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - CNF

248-250

250-255

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Sang đến tuần này, lượng mì củ từ Campuchia đưa về cửa khẩu Chàng Riệc tăng mạnh trở lại, đạt bình quân khoảng 70-80 xe/ngày, tương đương tầm trên 2.000 tấn/ngày. Mì đưa sang chủ yếu bằng những xe có tải trọng lớn, từ 30-40 tấn/xe, cá biệt có xe lên tới 50 tấn. Mặc dù mì vụ mới bên Cam vẫn khá non, trữ độ bột thấp, chỉ đạt từ 18-20% nhưng do giá mua mì tươi của Việt Nam vẫn đang rất tốt nên người dân Campuchia có xu hướng đưa sang nhiều hơn. Tuần này, giá mì củ từ Cam đưa về Chàng Riệc được giao dịch phổ biến quanh mức 400-470 Riel/kg, giảm 5-10 Riel/kg so với tuần trước, tương đương giá quy đổi sang VND từ 2.240-2.630 đồng/kg. Nguyên nhân là do các nhà máy chuyển qua mua mì nội địa nhiều hơn khiến nhu cầu mua đối với mì Cam giảm. Năm nay, mùa mưa tại Tây Ninh đến sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, những trận mưa lớn diễn ra liên tiếp trong 2 tuần gần đây khiến nhiều diện tích mì trồng đất thấp phải thu hoạch sớm do bị ngập úng, đặc biệt là tại khu vực xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu. Do mì còn non, phần lớn mới chỉ được khoảng 4 tháng tuổi nên trữ độ bột cũng rất thấp, theo đó giá mì mua xô tại ruộng chỉ từ 2.000-2.300 đồng/kg. Giá mì củ đưa về các nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh hiện đang được thiết lập ở nhiều mức giá khác nhau, dao động từ 3.350-3.700 đồng/kg tùy nhà máy. Do chất lượng mì Cam lẫn mì nội vùng hiện nay đều kém, cao nhất chỉ đạt 27% (mì loại này rất ít) nên phải mất tới 4-4,5 kg củ tươi mới ra được 1 kg tinh bột, theo đó giá thàn sản xuất có thể lên tới 11.600-11.700 đồng/kg. Trong khi đó, giá xuất khẩu tinh bột sắn kênh biên mậu hiện nay cao nhất chỉ đạt 12.000 đồng/kg nên các nhà máy có xu hướng trữ hàng hoặc bán nội địa thay vì xuất khẩu sang Trung Quốc theo kênh biên mậu.

Tại khu vực Tây Nguyên, sang đến tuần này gần như tất cả các nhà máy tinh bột phải nghỉ do hết vụ, mì không còn được đưa về.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

3.350-3.700

3.400-3.500

Tây Ninh – mì Cam

3.350-3.700

3.400-3.500

Đắc Lắc

2.600-2.650

2.600-2.650

Kon Tum

2.600-2.700

2.600-2.700

Phú Yên

2.700-2.750

2.700-2.750

Gia Lai

2.600-2.700

2.600-2.700

Miền Bắc (giá mua xô)

-

-

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tuần này, tại Móng Cái, các giao dịch tinh bột sắn rơi vào trạng thái trầm lắng do lượng hàng tồn tại bến Ka Long không còn nhiều và các chủ hàng bên phía Việt Nam muốn trữ hàng không bán ra, chờ giá tăng thêm. Ước tính mỗi ngày chỉ có khoảng 500-700 tấn tinh bột sắn được giao sang phía Trung Quốc, tất cả đều là hàng trả cho những hợp đồng đã ký trước đó với giá từ 3100-3350 tệ/tấn tùy phẩm cấp. Tin từ các thương nhân cho biết, giá tinh bột sắn của Việt Nam (hàng mới) đã được phía Trung Quốc chấp nhận mua với giá cao hơn từ 30-50 tệ/tấn, lên mức cao nhất 3380 tệ/tấn với hàng loại 1 và hàng loại 2, giá từ 3150 tệ/tấn trở lên. Tuy nhiên, dự kiến phải mất khoảng 10-15 ngày nữa hàng từ khu vực miền Trung và miền Nam mới ra đến Móng Cái nên các giao dịch tinh bột sắn tại đây sẽ tiếp tục ảm đạm đến hết tuần đầu tháng 6. Ngoài ra, do tỷ giá CNY/VND có xu hướng giảm mạnh trong thời gian gần đây, chỉ còn quanh mức 3550 đồng đổi 1 nhân dân tệ, gây bất lợi cho những giao dịch xuất khẩu qua đường biên mậu. Theo đó, dù giá xuất theo đồng tệ có điều chỉnh tăng từ 30-50 tệ/tấn nhưng giá quy đổi sang VND thực tế không tăng hoặc tăng không đáng kể nên các chủ hàng phía Việt Nam cũng chỉ bán ra với lượng rất hạn chế, chờ thêm diễn biến của thị trường.

Tương tự tại Lạng Sơn, giá xuất khẩu tinh bột sắn cũng được đẩy tăng từ 10-20 tệ/tấn so với tuần trước, lên mức cao nhất là 3.360-3.370 tệ/tấn với hàng loại 1. Do nhu cầu ký mới ít nên lượng tinh bột giao tại Lạng Sơn vẫn chỉ khoảng 500-700 tấn/ngày, chủ yếu trả cho các hợp đồng đã ký trước đó.

Tin từ thương nhân cho biết, giá xuất khẩu tinh bột của Việt Nam và Thái Lan đi Trung Quốc chỉ được chấp nhận quanh mức 500-520 USD/tấn FOB, giảm khoảng 10 USD/tấn so với tuần trước do nhu cầu mua của Trung Quốc chậm. Tuy nhiên, tại những thị trường ngoài Trung Quốc như Indonesia, Malaysia, Đài Loan, giá có thể được chấp nhận cao hơn khoảng 10 USD/tấn.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

510-520

510-520

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

3150-3380

3100-3350

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan điều chỉnh giảm tiếp giá chào xuất khẩu sắn lát thêm 5 USD/tấn so với tuần trước, còn mức 235-240 USD/tấn FOB do đầu ra xuất khẩu khó khăn.

Đối với tinh bột sắn, giá chào xuất khẩu của Thái Lan vẫn được giữ ở mức 550-555 USD/tấn FOB, tuy nhiên theo tin từ các thương nhân cho biết giá xuất khẩu thực tế của Thái Lan sang thị trường Trung Quốc chỉ đạt cao nhất 520 USD/tấn.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.95-3.15

2.95-3.15

2.85-3.05

1.55-1.70

Sắn lát nội địa

Bath/kg

7.00-7.40

7.00-7.40

7.00-7.40

4.50-4.80

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

16.40-16.60

16.40-16.60

16.10-16.30

10.30-10.50

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

550-555

550-555

545-550

325-330

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

235-240

240-245

252

155-158

Nguồn: Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan

Tin tham khảo