Thị trường sắn và tinh bột sắn (25/11-31/11/2018) - Xuất khẩu tinh bột sắn tại Móng Cái rơi vào trạng thái đóng bang do phía Trung Quốc tạm ngưng mua hàng

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (25/11-31/11/2018) - Xuất khẩu tinh bột sắn tại Móng Cái rơi vào trạng thái đóng bang do phía Trung Quốc tạm ngưng mua hàng

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Đối với sắn lát, các đơn vị còn hàng cồn chờ xuất đi Trung Quốc đang bán nội địa khá tốt cho các nhà máy cồn nội địa và nhà máy cám cá khu vực miền Tây với giá từ 5.450-5.550 đồng/kg tại kho khu vực Quy Nhơn và Bình Phước. Tại miền Trung, nhà máy cồn Dung Quất đã bắt đầu chạy lại nên đang mua vào sắn lát. Trong khi đó, do giá cám gạo, lúa mì cao nên các nhà máy cám cá miền Tây Nguyên sang mua sắn lát nhiều hơn để thay thế.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

-

-

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%) – giá kho bán ra

-

-

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

5.800

5.800

Tây Ninh – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

-

-

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

-

-

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15% - giá kho bán ra)

5.700-5.800

5.700-5.800

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

-

-

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

-

-

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - CNF

245-250

245-250

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, tuần này lượng mì củ từ Cam đưa về luôn duy trì ở mức cao, đạt từ 8.000-9.000 tấn/ngày với giá mua tại cửa khẩu dao động từ 400-470 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sang VND từ 2.300-2.700 đồng/kg tùy chất lượng mì. Theo các thương nhân cho biết, tuần này chất lượng mì Cam đưa sang tốt hơn, trữ độ bột cao hơn do thời tiết bắt đầu chuyển sang mùa khô. Hiện nay, các nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn cung mì từ Campuchia đưa về do mì nội vùng sắp cạn và mì từ khu vực Tây Nguyên không còn về do chênh lệch giá không đáng kể. Do đó, giá mì Cam giao dịch tại cửa khẩu vẫn luôn duy trì ở mức cao dù giá tinh bột thành phẩm giảm khá mạnh và đầu ra xuất khẩu khó khăn. Do nguồn cung mì không ổn định, cộng với đầu ra xuất khẩu khó khăn nên hiện nay hầu hết các nhà máy khu vực Tây Ninh chỉ chạy cầm chừng, công suất giảm từ 50-70% so với cùng kỳ hàng năm, thậm chí còn khoảng 5-7 nhà máy vẫn tạm ngưng hoạt động, chờ sang tháng 12 khi nguồn cung mì nội vùng lẫn mì Cam nhiều hơn mới chạy lại. Tại Tây Ninh năm nay mùa mưa kết thúc sớm hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, do đó tính đến thời điểm cuối tháng 10 bà con nông dân đã bắt đầu tranh thủ xuống giống mì tại một số vùng đất gò cao khi độ ẩm phù hợp.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu vẫn giữ quanh mức 3.000 đồng/kg cho mì 30 độ. Tuy nhiên, độ bột của mì về nhà máy chỉ đạt từ 23-24% nên phải hơn 4kg củ mới được 1 kg bột. Các nhà máy đang áp dụng mức trừ hao hụt khá cao, từ 7-8% và trừ lùi 100 đồng/kg cho mỗi độ bột thấp hơn. Tin từ thương nhân cho biết, dịch khảm lá có xu hướng lan rộng tại Tây Nguyên sau khi một số khu vực mua hom từ Tây Ninh về trồng.

Tại miền Bắc, nguồn cung mì củ đầu vụ chưa có nhiều nên có nhà máy cả tuần không có mì để chạy. Hiện giá mua mì xô tại miền Bắc dao động ở nhiều quãng giá, từ 1.800-2.500 đồng/kg tùy vùng, tùy giống và tùy chất lượng sắn. Dự kiến phải sang tới giữa tháng 11 thu hoạch sắn tại miền Bắc mới rộ hơn. Tại khu vực Bắc miền Trung, sản lượng sắn năm 2018/2019 dự kiến không có nhiều thay đổi so với vụ trước do diện tích trồng sắn được mở rộng không đáng kể.

Ngày 29/10 vừa qua, tại Quảng Bình, Hiệp hội sắn Việt Nam tổ chức cuộc họp với các nhà máy tinh bột sắn khu vực Bắc miền Trung để thống nhất phương hướng thu mua nguyên liệu sắn củ tươi trong giai đoạn tới. Theo đó, các nhà máy tham gia cuộc họp nhất trí sẽ cố gắng giảm giá mua sắn nguyên liệu 30 độ bột còn dưới 2.500 đồng/kg vào ngày 3/11, mỗi độ bột thấp hơn bị trừ khoảng 80 đồng/kg. Riêng đối với mì từ Lào đưa về, phương án mua tối đa là 2.600 đồng/kg cho mì 30 độ bột. Hôm nay, giá mua của các nhà máy miền Bắc có xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ còn 2.600-2.700 đồng/kg.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

3.200-3.300

3.200-3.330

Tây Ninh – mì Cam

2.900-3.050

3.000-3.150

Đắc Lắc (trừ lùi 20-30 đồng/độ bột thấp hơn)

2.900-3.100

2.900-3.100

Kon Tum (trừ lùi 30-50 đồng/độ bột thấp hơn)

3.100-3.200

3.100-3.200

Phú Yên (trừ lùi 50-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.900-3.100

2.900-3.100

Gia Lai (trừ lùi 20-80 đồng/độ bột thấp hơn)

2.900-3.100

2.900-3.100

Miền Bắc (trừ lùi 30-50 đồng/độ bột thấp hơn)

2.600-2.800

2.600-2.800

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, sang đến tuần này, các giao dịch xuất khẩu tinh bột sắn rơi vào trạng thái đóng băng khi phía Trung Quốc ngưng mua hàng của Việt Nam do giá đang được chào ở rất nhiều mức khác nhau. Thậm chí, một số chủ không có hàng vẫn cố ý chào bán với giá thấp khiến thị trường rơi vào trạng thái hỗn loạn. Theo đó phía Trung Quốc quyết định ngừng giao dịch, chờ thêm diễn biến thị trường. Ngoài ra, Thái Lan vừa có động thái giảm mạnh giá chào xuất khẩu tinh bột sắn thêm 10 USD/tấn, tạo áp lực giảm giá với hàng Việt Nam. Tỷ giá CNY/VND tiếp tục giảm mạnh, còn quanh mức 3,350 đồng đổi 1 nhân dân tệ gây bất lợi cho các giao dịch xuất khẩu hàng hóa qua kênh biên mậu.

Tại cửa khẩu Na Hình (Lạng Sơn), ước tính mỗi ngày có khoảng 800-900 tấn được giao sang Trung Quốc với giá giao dịch từ 3.550-3.600 tệ/tấn. Mức giá trên 3.600 tệ/tấn ít còn được chấp nhận. Nhu cầu mua của Trung Quốc chậm lại, chờ giá Việt Nam giảm thêm.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

490-500

495-515

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

3.500-3.650

3.500-3.700

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan vẫn giữ giá chào xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn ổn định so với tuần trước.

Trong cuộc họp diễn ra vào ngày 26/10/2018, Ủy ban điều phối sắn lát Thái Lan khuyến cáo các doanh nghiệp giữ giá sàn xuất khẩu sắn lát ở mức 250 USD/tấn FOB trong giai đoạn từ ngày 01/11-15/11/2018 do giá sắn củ nội địa giao dịch ở mức cao.

Tuần này, Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan giảm mạnh giá chào xuất khẩu tới 10 USD/tấn còn 505 USD/tấn FOB, đồng thời giá nội địa cũng giảm 0,2 baht/kg xuống còn 15,3 baht/kg.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.80-3.00

2.80-3.00

2.75-2.95

1.85-2.00

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.75-7.00

6.75-7.00

6.60-7.00

5.00-5.90

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

15.40-15.50

15.40-15.50

15.30-15.40

11.60-11.80

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

505-510

505-510

500-510

370-380

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

230-235

230-235

230-235

187

Nguồn: Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan