Thị trường sắn và tinh bột sắn (22/12-28/12/2017) - Giá mì nguyên liệu khu vực miền Bắc và Tây Nguyên tăng trở lại

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (22/12-28/12/2017) - Giá mì nguyên liệu khu vực miền Bắc và Tây Nguyên tăng trở lại

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Mì lát từ Sơn La hiện vẫn chủ yếu làm hàng mì cồn đi Trung Quốc do nhu cầu tiêu thụ tốt, chất lượng không cần quá cao như hàng mì cám đi nhà máy TACN nội địa. Tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc, mì lát xuất sang Trung Quốc đang rất thuận lợi với giá lên tới cửa khẩu từ 4.200-4.300 đồng/kg.

Tại cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát (Tây Ninh), kể từ cuối tuần trước lượng mì lát từ Cam đưa về có xu hướng tăng, đạt bình quân khoảng 10-15 xe/cửa khẩu/ngày tương đương tầm 300 tấn/ngày, bao gồm cả mì vỏ và mì cục. Giá mì lát mua tại cửa khẩu phổ biến từ 690-765 Riel/kg tùy phẩm cấp hàng, thậm chí mức giá 770-780 Riel/kg cũng đã được thiết lập, tương đương giá quy đổi sau khi cộng C/O và chi phí làm hàng dao động từ 4.150-4.400 đồng/kg. Tuy nhiên, theo các thương nhân cho biết, mì lát từ Cam đưa sang hiện nay có chất lượng rất kém, độ ẩm cao trên 20% nên các một số kho không dám mua vào để trữ, chỉ một số đơn vị có đơn hàng chuẩn bị xuất mới chấp nhận mua bổ sung.

Tại Hoa Lư (Bình Phước), mì lát từ Cam đưa về cũng tăng rất mạnh so với tuần trước, đạt bình quân khoảng 70-80 xe/ngày, tương đương khoảng 1.000 tấn, cá biệt có ngày tăng lên đến 2.000 tấn. Giá mua mì lát của các kho tại khu vực Hoa Lư khá cao và ổn định từ 700-750 Riel/kg, trong đó giá 700-730 Riel/kg cho mì đất đỏ và giá từ 740-750 Riel/kg cho mì trắng, tương đương giá quy đổi sang VND từ 4.150-4.350 đồng/kg.

Tại Quy Nhơn, kể từ đầu tuần này các kho cũng bắt đầu mở cửa mua hàng với giá cho hàng giao tại kho từ 4.000-4.200 đồng/kg, tuy nhiên lượng đưa về vẫn rất ít, ngày nhiều nhất chưa tới 100 tấn, chủ yếu là hàng từ Gia Lai đưa xuống. Mì Cam cũng bắt đầu có đưa về khu vực này nhưng chất lượng mì rất kém, độ ẩm cao trên 20% không đủ điều kiện lưu kho nên các bên cũng hạn chế mua vào. Theo các thương nhân cho biết, thời tiết tại khu vực Tây Nguyên mới có nắng nhẹ trở lại trong vài ngày gần đây nên mì phơi chưa đủ nắng, do vậy lượng mì đưa về trong tuần này chỉ túc tắc vài xe/ngày. Dự kiến ít nhất phải 10-15 ngày nữa (nếu thời tiết thuận lợi) mì lát từ khu vực Gia Lai mới có nhiều hơn.

Đối với kênh xuất khẩu, tin từ thương nhân cho biết, một số đơn vị bắt đầu chào bán ra với giá từ 220-225 USD/tấn CNF. Tuy nhiên, phía Trung Quốc hiện chỉ chấp nhận giá từ 218-223 USD/tấn CNF cho cả hàng cont lẫn hàng tàu. Nhu cầu mua lẫn bán của cả 2 bên khá chậm do lượng hàng từ Việt Nam vẫn chưa có nhiều.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

3.800-3.850

3.850

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%)

4.050

4.050

Quy Nhơn – mì vụ mới (độ ẩm trên 16%)

4.000-4.200

-

Tây Ninh – mì vụ mới (độ ẩm trên 16%)

4.150-4.400

4.300-4.400

Bình Phước – mì vụ mới (độ ẩm trên 16%)

4.150-4.350

4.300-4.400

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

4.450-4.500

4.450-4.500

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

4.200-4.300

4.200-4.250 

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

FOB – Quy Nhơn/Sài Gòn

220-225 (CNF)

212-220 (FOB)

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Giá mì nguyên liệu khu vực miền Bắc và Tây Nguyên tăng trở lại

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, lượng mì củ từ Cam đưa về trong tuần này vẫn rất nhiều, đạt bình quân từ 350-400 xe/ngày, tương đương tầm khoảng 8.000-10.000 tấn/ngày. Giá mua mì tại cửa khẩu dao động từ 310-365 Riel/kg, tương đương giá quy đổi sang VND từ 1.750-2.060 đồng/kg. Trong bối cảnh đầu ra khó khăn và giá xuất khẩu tinh bột sắn giảm mạnh như hiện nay, hầu hết các nhà máy đang phải chạy cầm chừng với công suất 1 ca/ngày hoặc thậm chí 2 ngày 1 ca. Giá mì đưa về nhà máy tinh bột tại Tây Ninh vẫn giữ ổn định quanh mức 2.250-2.350 đồng/kg.

Tại khu vực Tây Nguyên, việc giá mì củ giảm mạnh trong tuần trước đã khiến lượng mì đưa về nhà máy giảm rất mạnh trong những ngày đầu tuần này. Do vậy, ngay sau đó các nhà máy đã phải điều chỉnh giá tăng trở lại. Tuy nhiên, do giao dịch tinh bột sắn đầu ra yếu nên các nhà máy cũng mua với mức cầm chừng hoặc điều chỉnh tăng hạn chế.

Tại Sơn La, kể từ đầu tuần này giá mì xô về các sân phơi tăng lên mức phổ biến từ 1.650-1.700 đồng/kg tùy chất lượng. Nhu cầu mua hàng của các sân phơi rất lớn do mì lát đi Trung Quốc hút hàng. Nhà máy tinh bột sắn Sơn La vẫn cho giá mua vào 1.700 đồng/kg cho mì 30 độ bột nên có rất ít mì đưa về do giá này không tốt bằng giá đưa về sân phơi. Mì từ Sơn La về các nhà máy khu vực Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An được cho từ 1.900-2.050 đồng/kg cho mì 30 độ bột tùy chất lượng mì đưa về và tùy khoảng cách xa gần.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2017 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

2.250-2.350

2.250-2.350

Tây Ninh – mì Cam

2.250-2.350

2.250-2.350

Đắc Lắc

1.870-1.950

1.750-1.900

Kon Tum

1.850-1.950

1.750-1.850

Phú Yên

1.850-1.900

1.700-1.900

Gia Lai

1.850-2.150

1.750-2.100

Miền Bắc (giá mua xô)

1.700-2.050

1.580-2.000

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, các giao dịch vẫn rất chậm do các đò bên Đông Hưng (Trung Quốc) khó lên hàng. Do các sà lan tại Móng Cái giải phóng hàng chậm, tiền phạt lưu sà lan nhiều nên một số chủ hàng phía Việt Nam có động thái đưa hàng lên kho Hải Phòng, chờ giải phóng xong hàng tại Móng Cái và chờ giá lên mới đưa ra tiếp. Lượng đò tồn bên Đông Hưng vẫn rất nhiều tạo áp lực giảm mạnh lên giá giao dịch tại cửa khẩu. Theo đó, tinh bột sắn loại 2 thậm chí giảm xuống dưới 2.500 tệ/tấn nhưng vẫn không có giao dịch. Đối với tinh bột loại 1, giá cũng giảm nhe còn cao nhất 2.950 tệ/tấn. Tính đến giữa tuần này, do ảnh hưởng của không khí lạnh gây mưa và biển động mạnh nên các tàu tinh bột sắn từ miền Trung và miền Nam ra cảng Hải Phòng phải neo vào các vịnh, không thể tiếp tục hành trình. Theo các thương nhân cho biết, lượng hàng lưu kho tại Hải Phòng tính tới cuối tuần này cũng khá nhiều nhưng không đáng kể so với lượng tồn kho của cùng kỳ năm trước, do đó áp lực bán ra không lớn. Tại cảng Quingdao (Trung Quốc), các tàu tinh bột sắn Trung Quốc mua từ Việt Nam, Thái Lan với giá khoảng 390-410 USD/tấn (tương đương giá tại cảng 2.600-2.700 tệ/tấn, chưa kể VAT) nay mới về đến cảng nên nhu cầu mua mới của Trung Quốc cũng khá chậm.

Tại Lạng Sơn, giao dịch cũng rất chậm do phía Trung Quốc gây sức ép giảm giá. Một số đơn vị bắt đầu chấp nhận bán giá thấp hơn kéo giá giao dịch tại Lạng Sơn giảm còn 2.700-2.980 tệ/tấn. Mức giá trên 3.000 tệ/tấn được giao dịch rất ít. Một số đơn vị lớn cũng có xu hướng kéo hàng vào kho tại khu vực Lạng Sơn, không bán ra chờ giá tăng thêm.

Tại kênh xuất khẩu đường biển, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam cũng có sự điều chỉnh giảm khá mạnh từ 10-25 USD/tấn so với tuần trước, xuống mức 375-410 USD/tấn FOB, giao dịch cũng rất trầm lắng.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

375-410

400-420

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.500-2.980

2.600-3.000

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan vẫn giữ giá sắn lát xuất khẩu ổn định ở mức giá đã được thiết lập từ tuần trước, trong khi đó giá sắn lát nội địa tiếp tục tăng nhẹ 0,05 bath/kg. Tuy nhiên, theo tin mới nhất từ Thái Lan cho biết, trong phiên họp ngày 24/12 các hiệp hội sắn Thái Lan đã thống nhất tăng giá sàn xuất khẩu sắn lát thêm 7 USD/tấn, lên mức 212 USD/tán FOB cho giai đoạn từ 01-15/01/2018. Theo tính toán từ các nhà xuất khẩu sắn lát Thái Lan, với mức giá 212 USD/tấn FOB, giá thành sản xuất cồn tại Trung Quốc chỉ vào khoảng 5.326 tệ/tấn trong khi giá giao dịch thực tế đang là 6.169 tệ/tấn, tức là các nhà máy cồn vẫn có lãi khá với mức giá mới.

Có cùng xu hướng tăng, tuần này Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan điều chỉnh tăng giá xuất khẩu thêm 5 USD/tấn lên mức 435 USD/tấn FOB, đồng thời giá tinh bột sắn nội địa cũng tăng thêm 0,1 bath/kg lên 13,3 bath/kg sau gần 1 tháng giữ ổn định.  

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.05-2.25

2.05-2.25

2.05-2.15

1.65-1.80

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.15-6.35

6.15-6.30

5.90-6.20

5.40-5.70

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

13.00-13.20

13.00-13.20

12.60-12.80

10.5-10.7

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

420-430

420-430

405-415

320-325

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

205

205

196

175

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp