Thị trường sắn và tinh bột sắn (19/1-23/1/2018) - Giá cồn từ ngô và sắn tại Trung Quốc tiếp tục giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ yếu

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (19/1-23/1/2018) - Giá cồn từ ngô và sắn tại Trung Quốc tiếp tục giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ yếu

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, lượng mì lát từ Campuchia đưa về tăng khá mạnh, đạt bình quân khoảng 25 xe/ngày, tương đương tầm 500-600 tấn, chủ yếu là hàng mì vỏ và mì xô cồn, mì cám về rất ít, chỉ 1-2 xe/ngày. Giá giao dịch mì lát tại Chàng Riệc vẫn tiếp tục tăng, lên mức cao nhất 790-795 Riel/kg với hàng mì đẹp và giá phổ biến từ 720 Riel/kg với mì xô thường, tương đương giá quy đổi sang VND từ 4.150-4.560 đồng/kg tùy phẩm cấp (đã bao gồm C/O và phí làm hàng). Tại cửa khẩu Xa Mát, mì được đưa về nhiều hơn với lượng bình quân khoảng 50-60 xe/ngày, thậm chí có ngày lượng về tăng đột biến tới gần 100 xe.

Tại Hoa Lư (Bình Phước), lượng mì lát đưa về trong tuần này tiếp tục xu hướng giảm, bình quân khoảng 50-60 xe/ngày, tương đương khoảng 1.500-2.000 tấn/ngày. Mì về ít, cộng với một số kho mở cửa mua hàng khiến giá mì lát tại Hoa Lư cũng liên tục được đẩy tăng, đặc biệt là hàng mì đẹp do nhu cầu mua của các kho tăng cao. Theo đó, giá mì xô cồn tăng lên mức phổ biến từ 4.230-4.350 đồng/kg, giá từ 4.400-4.500 đồng/kg với mì cám và mì rớt cám. Do giá mì củ bên Cam tiếp tục được đẩy lên cao, do đó nhiều khả năng mì lát đưa về các cửa khẩu Đông Nam Bộ sẽ còn tiếp tục giảm.

Tại Quy Nhơn (Bình Định), lượng mì lát từ khu vực Gia Lai và Campuchia đưa về trong tuần này tăng mạnh so với tuần trước, đạt bình quân khoảng 160-170 xe/ngày, tương đương tầm trên 3.000 tấn/ngày. Do nhu cầu mua vào của khác kho vẫn khá lớn nên giá mì lát đưa về các kho tại Quy Nhơn trong tuần này tăng từ 50-70 đồng/kg so với tuần trước, lên mức phổ biến từ 4.250-4.320 đồng/kg với hàng mì xô và giá 4.370-4.400 đồng/kg với hàng chọn. Tính đến giữa tuần này, có tất cả 11 đơn vị đã mở kho mua hàng, trong đó đơn vị mua nhiều nhất cũng đạt bình quân trên 40 xe/ngày và ít nhất cũng khoảng 10 xe/ngày. Hiện nay, mì củ tại khu vực Tây Nguyên vẫn được hút về các nhà máy tinh bột do giá nguyên liệu vẫn tiếp tục tăng mạnh nên lượng mì lát đưa về Quy Nhơn vẫn thấp hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Tại miền Bắc, giá sắn lát cũng tăng thêm 50 đồng/kg so với tuần trước, lên mức 4.200-4.250 đồng/kg do nhu cầu mua mì của các nhà máy TACN tăng trở lại.

Tin từ Trung Quốc cho biết, giá sắn lát xuất FOB của Thái Lan tiếp tục tăng thêm 3 USD/tấn, lên 215-218 USD/tấn, tương đương giá CNF 226-229 USD/tấn, cao hơn giá chào từ Việt Nam. Tuy nhiên, theo tin từ thương nhân, phía Trung Quốc vẫn chỉ chấp nhận cao nhất 220 USD/tấn CNF cho sắn lát Việt Nam. Tình hình trầm lắng của thị trường xuất khẩu có thể còn kéo dài tới Tết âm lịch do phía Việt Nam không chấp nhận bán giá thấp còn Trung Quốc không chấp nhận mua giá cao. 

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La- mì đi Trung Quốc (độ ẩm trên 17%)

3.900

3.900

Sơn La – mì đi nhà máy cám nội địa (độ ẩm dưới 15%)

4.200-42.50

4.200

Quy Nhơn – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.250-4.320

4.200-4.250

Quy Nhơn – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.370-4.400

4.330

Tây Ninh – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.150-4.400

4.000-4.250

Tây Ninh – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.450-4.560

4.300-4.400

Bình Phước – mì xô cồn (độ ẩm trên 16%)

4.230-4.350

4.150-4.300

Bình Phước – mì cám (độ ẩm dưới 15%)

4.400-4.500

4.350-4.400

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang – mì cám đi Trung Quốc (độ ẩm 15-16%)

4.500-4.550

4.500-4.550

Cửa khẩu Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai – mì cồn đi Trung Quốc (độ ẩm 19-20%)

4.250-4.350

4.250-4.350

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (USD/tấn, CNF)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Quy Nhơn/Sài Gòn - CNF

225-226

223-225

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Giá mì nguyên liệu tại Tây Ninh tiếp tục tăng mạnh do nguồn cung mì Cam về cửa khẩu đạt thấp

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, lượng mì củ từ Cam đưa về trong tuần này giảm mạnh, chỉ đạt từ 200-250 xe/ngày, tương đương tầm 4.000-6.000 tấn/ngày. Theo đó, giá mì củ giao dịch tại cửa khẩu liên tục được đẩy tăng, lên mức 440-450 Riel/kg với hàng chọn và mì xô giá cũng tăng lên mức phổ biến từ 370 Riel/kg trở lên, thậm chí mức giá 460 Riel/kg cũng đã được thiết lập do cung không đủ cầu. Do giá mì tại cửa khẩu tăng mạnh khiến giá mì đưa về các nhà máy tinh bột tại Tây Ninh trong tuần này cũng có sự biến động khá lớn và được giao dịch ở nhiều mức giá từ 2.400-2.740 đồng/kg tùy nhà máy và chất lượng mì đưa về. Trong đó phổ biến là từ 2.500-2.700 đồng/kg, giá dưới 2.500 đồng/kg chỉ còn 1-2 nhà máy áp dụng. Do giá mì nguyên liệu tăng quá cao trong khi tình hình xuất khẩu vẫn rất trầm lắng nên nhiều nhà máy phải chọn phương án tạm ngưng sản xuất hoặc chạy cầm chừng chờ thêm diễn biến của thị trường.

Tại khu vực Tây Nguyên, do thời tiết vẫn khá âm u không thuận lợi cho việc phơi mì lát nên mì củ vẫn có xu hướng đưa về nhà máy nhiều hơn. Tuy nhiên, giá mì nguyên liệu về các nhà máy vẫn tiếp tục tăng thêm 50 đồng/kg so với tuần trước, lên mức 2.000-2.100 đồng/kg tại Đắc Lắc và Kon Tum, tại Phú Yên là 2.050-2.150 đồng/kg. Theo nhận định của các thương nhân, khi thời tiết tại Tây Nguyên nắng rộ, thuận lợi cho phơi mì lát thì giá mì nguyên liệu có thể tăng vượt mức 2.200-2.300 đồng/kg tùy vùng.  

Tại Sơn La, thời tiết có mưa nhiều trong những ngày gần đây khiến việc thu hoạch sắn thuận lợi hơn, cộng với giá mì hiện đang khá tốt nên lượng mì đưa về các nhà máy và sân phơi tăng mạnh. Do đó, giá mì củ được điều chỉnh giảm nhẹ 50 đồng/kg so vói tuần trước, còn dao động từ 1.870-2.150 đồng/kg. Tuy nhiên, theo tin từ thương nhân cho biết, giá mì sẽ khó giảm thêm do tại một số huyện của tỉnh Sơn La, sắn đã thu hoạch gần xong nên khi giá giảm bà con sẽ giảm tiến độ thu hoạch.

Giá mì tươi tại Đắc Lắc, Phú Yên và Tây Ninh (đồng/kg)

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

2.400-2.740

2.250-2.450

Tây Ninh – mì Cam

2.400-2.740

2.250-2.450

Đắc Lắc

2.000-2.100

1.950-2.050

Kon Tum

2.000-2.100

1.950-2.050

Phú Yên

2.050-2.150

2.000-2.150

Gia Lai

2.100-2.250

2.100-2.250

Miền Bắc (giá mua xô)

1.870-2.150

1.920-2.150

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, trong 2 ngày cuối tuần trước và đầu tuần này, tình hình lên hàng bên Đông Hưng vẫn rất chậm do các đò chen chúc nhau, tuy nhiên sang đến giữa tuần này, tình trạng đã được cải thiện khi trật tự giao nhận của các đò đã được thiết lập lại. Theo đó, ước tính mỗi ngày có khoảng 2.000 tấn tinh bột sắn được lên bên phía Đông Hưng và lượng đò từ Đông Hưng về bến Ka Long nhận hàng cũng nhiều hơn. Giá tinh bột sắn tại Móng Cái được đẩy tăng nhẹ 20-30 tệ/tấn do nhu cầu có xu hướng tốt hơn, dao động từ 2.670-2.950 tệ/tấn. Tuy nhiên, hiện nay mực nước trên sông Ka Long xuống thấp, dự kiến phải đến cuối tuần này mới lên trở lại nên các sà lan vẫn dỡ hàng bình thường nhưng khó di chuyển. Đồng nhân dân tệ tiếp tục tăng giá mạnh so với đô la Mỹ, qua đó hỗ trợ cho tỷ giá CNY/VND tăng, rất tốt cho các giao dịch kênh biên mậu.

Tại Lạng Sơn, mỗi ngày chỉ có khoảng 500-600 tấn tinh bột sắn được giao qua cửa khẩu Na Hình. Do giá mì nguyên liệu khu vực Tây Ninh và Tây Nguyên tăng nên những đơn vị có hàng lưu kho tại Lạng Sơn vẫn tiếp tục không bán ra.

Tại kênh xuất khẩu đường biển, giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 10-20 USD/tấn so với tuần trước, lên mức 405-425 USD/tấn FOB do giá nguyên liệu tăng mạnh.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

405-425

385-415

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.670-2.980

2.650-2.980

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan vẫn giữ giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn ổn định theo mức giá đã được thiết lập từ tuần trước, trong khi giá sắn lát nội địa lại được điều chỉnh giảm nhẹ 0,05 Bath/kg so với tuần trước.

Trong khi đó, theo báo giá mới nhất của Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan, giá chào xuất khẩu tinh bột sắn của nước này tăng thêm 5 USD/tấn, lên mức 440 USD/tấn FOB, đồng thời giá tinh bột sắn nội địa cũng tăng 0,1 Bath/kg so với tuần trước.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi (25%)

Bath/kg

2.15-2.35

2.15-2.35

2.05-2.25

1.65-1.80

Sắn lát nội địa

Bath/kg

6.15-6.40

6.20-6.40

6.15-6.30

5.05-5.35

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

13.20-13.40

13.20-13.40

13.00-13.20

10.4-10.6

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

430-440

430-440

420-430

315-320

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

215

215

205

160

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Tin tham khảo