Thị trường sắn và tinh bột sắn (16/2-22/2/2017) - Giá sắn lát nội địa tiếp tục tăng nhẹ

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Thị trường sắn và tinh bột sắn (16/2-22/2/2017) - Giá sắn lát nội địa tiếp tục tăng nhẹ

Giá sắn lát nội địa tiếp tục tăng nhẹ do nhu cầu mua vào của các kho cho các tàu chuẩn bị vào lấy hàng

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam đi Trung Quốc cho hàng giao tháng 2 tăng nhẹ lên mức 175 USD/tấn cho hàng tàu và 171-173 USD/tấn cho hàng cont. Tin từ thương nhân cho biết, nhu cầu hỏi mua sắn của Trung Quốc trong tuần này có xu hướng tăng trở lại, đặc biệt cho hàng giao trong tháng 3 và tháng 4. Tuy nhiên, mức giá mà Trung Quốc chấp nhận cho sắn lát Việt Nam chỉ từ 173-174 USD/tấn cho hàng tàu, hàng giao cuối tháng 2, đầu tháng 3, 171-172 USD/tấn CNF cho hàng cont. Cước cont từ Việt Nam đi Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh lên mức 380-400 USD/cont 28 tấn.

Tại Quy Nhơn, lượng hàng đưa về trong tuần nàychỉ đạt tầm 5.000 tấn/ngày. Tin từ thương nhân cho biết, mì Cam về cửa khẩu Lệ Thanh được trộn cát rồi mang về Quy Nhơn tiêu thụ khiến các kho tiếp tục nhập hàng thận trọng. Giá mì xô về Quy Nhơn giữ phổ biến ở mức 3.350-3.390 đồng/kg với mì xô thường và 3.400-3.470 đồng/kg với xô đẹp, tăng nhẹ so với cuối tuần trước. Dự kiến trong cuối tháng 2 và đầu tháng 3, có 7 tàu vào lấy hàng tại cảng Quy Nhơn với tổng lượng đạt gần 60.000 tấn.

Tại Đắc Lắc, đầu tuần này trời đổ mưa nên chất lượng mì tại các sân phơi không được tốt. Sang đến giữa tuần, trời hửng nắng trở lại nên các sân phơi tiếp tục mua mì vào phơi. Nhà máy cồn Đại Việt nâng giá mua mì chuẩn về nhà máy lên mức 3.750 đồng/kg.

Tại cửa khẩu Chàng Riệc của Tây Ninh, số xe mì về cửa khẩu đạt trung bình 80-90 xe/ngày với giá giao dịch như sau: mì vỏ 565-580 Riel/kg; mì xô thường 550-555 Riel/kg; xô đẹp 590-600 Riel/kg. Mì về Tây Ninh chủ yếu là mì xô thường và mì vỏ còn mì cám rất ít.

Tại cửa khẩu Hoa Lư (Bình Phước), tổng lượng mì về cửa khẩu mỗi ngày đạt khoảng 5.000 tấn. Giá mì xô thường tăng nhẹ lên mức 3.240-3.270 đồng/kg. Riêng đối với mì cám, do lượng mì về tăng nên giá giảm còn 3.500 đồng/kg. Thời tiết tại Cam có nắng nên lượng mì cám về cửa khẩu tăng so với trước. Tuy nhiên, nhu cầu mua mì cám của các nhà máy hiện vẫn rất chậm. 

Tại Sơn La, thời tiết đang rất thuận lợi cho việc phơi mì nên các sân phơi đẩy mạnh mua mì nguyên liệu để phơi. Do giá mì củ về sân phơi tăng nên giá mì lát bán tại Sơn La tuần này được điều chỉnh tăng thêm 50 đồng/kg, lên mức 3.500-3.550 đồng/kg với hàng rời, 3.600-3.650 đồng/kg với mì đóng bao đi nhà máy. Do các nhà máy TACN khu vực Hưng Yên, Hải Dương vẫn giữ giá mì đóng bao về nhà máy từ 3.950-4.000 đồng/kg nên các kho có xu hướng trữ mì lại, không đưa về nhà máy. Dự kiến mì tại Sơn La thu hoạch đến cuối tháng này là hết do sản lượng mì năm nay giảm so với năm trước và thời điểm cuối tháng 2 mì bắt đầu mọc mầm, giảm trữ bột. Đối với mì đi Trung Quốc, giá giao dịch tại Sơn La vào khoảng 3.200 đồng/kg, tăng so với thời điểm trước Tết, nhu cầu lấy khá tốt.

Theo ước tính của thương nhân, từ sau Tết nguyên đán trở lại đây, nhu cầu lấy sắn lát của Trung Quốc qua cửa khẩu của Lào Cai và Hà Giang khá tốt, ước đạt trên 2.000 tấn/ngày. Do đó, mì củ tại Yên Bái cũng đang được đem phơi khá nhiều với giá mì C tại Yên Bái được giao dịch khoảng 3.400 đồng/kg.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La – mì xô vụ mới

3.500-3.550

3.450-3.500

Tây Ninh – mì xô thường

3.300

3.250-3.300

Quy Nhơn – mì xô thường

3.350-3.390

3.300-3.350

Bình Phước – mì xô thường

3.240-3.270

3.220-3.260

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (giá FOB, USD/tấn)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

FOB – Quy Nhơn/Sài Gòn (mì vụ mới)

162-163

162-163

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Tại cửa khẩu Chàng Riệc (Tây Ninh), lượng mì về vào giữa tuần này tăng mạnh trở lại, lên mức 8.000 – 10.000 tấn/ngày do giá mì về cửa khẩu được đẩy tăng. Theo đó, giá mì về cửa khẩu Chàng Riệc tăng lên mức 260-270 Riel/kg cho mì 29-30  độ, 210-230 Riel/kg cho mì xô. Do giá mì về cửa khẩu tăng nên giá mì về nhà máy tinh bột sắn khu vực Tây Ninh cũng tăng nhẹ lên mức 1.480-1.500 đồng/kg. Do giá mì tại khu vực Tây Nguyên tăng mạnh nên mì từ Đắc Lắc, Phú Yên không còn được đưa về Tây Ninh. Tin từ thương nhân cho biết, do mưa lớn kéo dài nên khu vực quanh khu vực hồ Dầu Tiếng vẫn bị ngập, khiến cho diện tích trồng mì quanh khu vực này năm nay sẽ giảm mạnh tới 60-70%.

Với mức giá bán CNF 295 USD/tấn về tới Quingdao Trung Quốc, tương đương giá 6.600 đồng/kg tại cảng TPHCM thì giá tinh bột sắn tại nhà máy khu vực Tây Ninh chỉ còn khoảng 6.200 đồng/kg. Với mức giá nguyên liệu dao động quanh ngưỡng 1.500 đồng/kg thì sau khi cộng tiền nguyên liệu và khấu hao, chi phí sản xuất tinh bột sắn tại Tây Ninh vào khoảng 6.100 đồng/kg. Do đó, với lợi nhuận từ việc bán bã sắn và chênh lệch từ giá bán thành phẩm thì các nhà máy Tây Ninh vẫn có lãi với mức giá xuất khẩu như trên.

Tại Đắc Lắc, giá mì về nhà máy Eakar và Krongbong tuần này được điều chỉnh tăng 50-100 đồng/kg dao động ở mức 1.400-1.500 đồng/kg tuỳ nhà máy và tuỳ nguồn cung mì xa gần. Thời tiết tại Đắc Lắc có nắng trở lại nên các sân phơi mua mì khá mạnh để làm mì C cung ứng đi các nhà máy TAGS. Theo ước tính, với độ bột của mì đạt gần 30% như hiện nay, 2 kg mì tươi sẽ làm được 1,3 kg mì C.

Tại Đắc Nông, giá mì giao dịch cũng tăng, lên mức 1.500-1.600 đồng/kg tuỳ nhà máy. Tại Kon Tum, giá mì cũng có xu hướng tăng lên mức 1.450-1.550 đồng/kg. Theo tính toán của thương nhân, giá mì tại khu vực Tây Nguyên vào đầu tháng 3 có thể điều chỉnh tăng lên mức 1.550-1.650 đồng/kg do thu hoạch mì tại một số vùng đã vãn trong khi giá mì lát hiện đang khá tốt.

Tại Phú Yên, tuần này nhà máy mì Đồng Xuân và Sông Hinh cũng tăng giá mua mì thêm 50-100 đồng/kg, lên mức 1.450-1.500 đồng/kg.

Tại miền Bắc, giá mì củ về các nhà máy tinh bột khu vực Yên Bái tuần này vẫn được giữ ở mức 1.250 đồng/kg cho mì 30 độ, trừ lùi từ 30-50 đồng/kg với mỗi độ bột thấp hơn. Tại Sơn La, nhu cầu mua của các sân phơi hiện rất lớn do thời tiết thuận lợi, cộng thêm các sân phơi bị trống hàng dịp Tết nên ai cũng muốn mua vào. Giá mì củ tại Sơn La tăng mạnh lên mức 1.450-1.480 đồng/kg với hàng đẹp và 1.250-1.300 đồng/kg với hàng xô. Với giá này thì mì chủ yếu về các sân phơi, không về nhà máy. Theo ước tính của thương nhân, với tình hình sắn lát đang được hút đi Trung Quốc như hiện nay thì chỉ cuối tháng này, đầu tháng sau là thu hoạch sắn tại Sơn La và Yên Bái kết thúc, các nhà máy sẽ không còn nguyên liệu để chạy.

Giá mì tươi tại Tây Ninh và Phú Yên (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

1.480-1.500

1.480

Tây Ninh – mì Cam

1.450-1.480

1.450-1.480

Đắc Lắc

1.400-1.500

1.400

Kon Tum

1.450-1.550

1.400-1.450

Phú Yên

1.450-1.500

1.400

Sơn La

1.450-1.480

1.450-1.480

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Tại Móng Cái, cuối tuần trước và đầu tuần này do mực nước trên sông Ka Long khá thấp, các xà lan không thể di chuyển được hoặc phải hạ tải trọng nên lượng hàng xuất sang Trung Quốc rất ít. Tuy nhiên sang đến giữa tuần này, nước trên sông Ka Long lên trở lại nên các sà lan từ Hải Phòng được vào bến cảng nhiều hơn. Theo ước tính tại bến sông Ka Long hiện có 35 sà lan với tải trọng bình quân 500 tấn/sà lan đang dỡ hàng tại các bến cảng. Lượng hàng đưa sang Trung Quốc được khoảng 2.000-3.000 tấn/ngày nhưng phía Trung Quốc vẫn lên hàng khá chậm. Giá tinh bột sắn tại Móng Cái vẫn giữ ổn định ở mức 2.050-2.300 đồng/kg tuỳ phẩm cấp.

Tại cửa khẩu Na Hình của Lạng Sơn, lượng giao sang Trung Quốc khá ổn định được khoảng 1.000 tấn/ngày. Nhu cầu lấy hàng của Trung Quốc với hàng loại 1 tăng, giá cũng có xu hướng tăng khoảng 30 tệ/tấn, lên mức cao nhất 2.300 tệ/tấn. Đối với tinh bột sắn loại 2, nhu cầu lấy chậm, giá vẫn ổn định.  

Chào giá tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan và Việt Nam tăng trở lại. Theo đó, giá chào của Việt Nam tăng lên mức 295-300 USD/tấn, Thái Lan 310-315 USD/tấn, trong đó mức phổ biến cho Việt Nam là 295 USD/tấn, Thái Lan 310 USD/tấn. Các nhà máy tinh bột lớn của Việt Nam hầu như không bán ra ở mức này do lo ngại giá nguyên liệu nội địa có thể tăng mạnh trở lại.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

295-300

290-295

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

2.050-2.300

2.050-2.300

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này, Hiệp hội thương mại sắn Thái Lan điều chỉnh tăng giá sắn lát nội địa thêm 0,05-0,1 Bath/kg, giá xuất khẩu cũng tăng nhẹ 3 USD/tấn, lên 160-163 USD/tấn FOB

Tuần này, Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan vẫn giữ giá xuất khẩu tinh bột sắn ở mức 340 USD/tấn, đồng thời, giá tinh bột nội địa cũng được giữ ở mức giá 11,0 Bath/kg.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi

Bath/kg

1.60-1.75

1.60-1.75

1.65-1.80

2.0-2.1

Sắn lát nội địa

Bath/kg

5.00-5.35

4.90-5.30

5.05-5.35

5.25-5.60

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

10.30-10.50

10.3-10.5

10.4-10.6

11.8-12.0

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

315-320

315-320

315-320

355-365

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

160-163

160

160

165-170

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp