Sửa Nghị định 109 ngành gạo, rồi sao nữa?

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Sửa Nghị định 109 ngành gạo, rồi sao nữa?

Việc sửa Nghị định 109/2010/NĐ-CP (NĐ 109), nút thắt trong ngành gạo là điều cần thiết. Nhưng sửa thế nào và xa hơn nữa cần thay đổi những gì? Vấn đề này đã được nhiều doanh nghiệp và chuyên gia thảo luận tại tọa đàm "Trao đổi với doanh nghiệp về định hướng sửa đổi Nghị định 109/2010/NĐ-CP" (*) diễn ra chiều nay, 22-2.

Câu chuyện mới trên nền cũ

Tại tọa đàm, ông Ngô Văn Nam, đại diện Công ty TNHH ADC, một doanh nghiệp hoạt động trong ngành gạo, cho biết ADC có vùng nguyên liệu 35.000 héc ta, liên kết với 16.000 nông dân, các điều kiện về sản lượng và kho bãi đáp ứng các điều kiện đặt ra trong NĐ 109 nhưng ADC vẫn chọn xuất khẩu ủy thác qua một công ty nhỏ khác.

Lý do, như ông Nam chia sẻ, việc xin giấy phép xuất khẩu gạo rất phiền phức và tốn không dưới 20.000 đô la Mỹ. Chưa kể, mỗi lần xuất khẩu, doanh nghiệp phải khai báo số lượng, rồi hàng tồn kho... cho Bộ Công Thương. Điều này làm ADC tốn thêm nhiều nguồn lực không cần thiết. Do vậy, dù hoàn toàn đủ điều kiện nhưng ADC vẫn chọn xuất khẩu ủy thác chứ không xin giấy phép xuất khẩu trực tiếp.

"NĐ 109 không tác động nhiều đến hoạt động kinh doanh của chúng tôi nhưng vì sự phát triển chung của ngành gạo, tôi nghĩ đã đến lúc bỏ đi nghị định này", vị đại diện ADC phát biểu.

Như vậy, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ muốn xuất khẩu trực tiếp lại bị vướng NĐ 109 thì nội dung nghị định này lại chẳng điều chỉnh ăn nhập gì với những doanh nghiệp lớn như ADC.

Những lưu ý

Tương tự như đại diện ADC, nhiều doanh nghiệp và các chuyên gia đều đồng tình đã đến lúc nên bỏ hoặc sửa đổi nghị định này. Nhưng sửa đổi nghị định thì cần lưu ý gì?

Trước khi góp ý cụ thể, ông Trần Tiến Khai, Phó trưởng phòng Quản lý khoa học - Nghiên cứu quốc tế, trường Đại học Kinh tế TPHCM, kể lại câu chuyện lịch sử ra đời của NĐ 109. Trước năm 2010, nhu cầu gạo trên thị trường thế giới lớn, cung nhỏ hơn cầu, nên kích thích nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Điều này tạo ra sự hỗn loạn của thị trường. Thậm chí, các doanh nghiệp tư nhân còn tranh mua nguyên liệu, dẫn đến nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhà nước không có đủ hàng để thực hiện các hợp đồng tập trung G2G (hợp đồng mua bán cấp chính phủ giữa hai quốc gia). Không thực hiện hợp đồng được thì phải đền tiền. Với tình hình như vậy, NĐ 109 ra đời để tạo lập sự ổn định.

Tiếp tục câu chuyện, ông Khai cho rằng khi chúng ta bỏ đi điều kiện tham gia xuất khẩu gạo, sẽ có nhiều doanh nghiệp gia nhập thị trường. Và chuyện tranh nhau khách hàng, nguồn nguyên liệu có thể diễn ra, hỗn loạn thị trường trong ngắn hạn, rất dễ xảy ra. Quan trọng hơn, nhìn bình diện thế giới, cung lớn hơn cầu, thị trường xuất khẩu chính của chúng ta là các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Philippines, Indonesia với sản phẩm gạo trung cấp. Trong bối cảnh hiện nay, gạo rất dễ bị rớt giá, ép giá và người chịu thiệt cuối cùng lại là nông dân.

"Tóm lại, cá nhân tôi hoàn toàn đồng ý bỏ đi những điều kiện kinh doanh trong NĐ 109, nhưng cần lưu ý khả năng xảy ra hỗn loạn thị trường trong ngắn hạn để có giải pháp điều chỉnh", ông Khai phát biểu.

Với vấn đề, liệu có nên đưa điều kiện bắt buộc có vùng nguyên liệu đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo vào văn bản khi sửa NĐ 109, một số đại biểu cho rằng không cần thiết vì khi doanh nghiệp muốn xuất khẩu gạo, theo quy luật thị trường và yêu cầu từ nhà nhập khẩu, chuyện xây dựng vùng nguyên liệu là điều tất yếu. Đã tất yếu thì không cần đưa vào quy định.

Tuy vậy, ông Lê Thanh Tùng, đại diện Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đặt tình huống, nếu doanh nghiệp xuất khẩu mà không có vùng nguyên liệu thì chuyện họ phá vùng nguyên liệu của doanh nghiệp khác hoàn toàn có thể xảy ra.

Bổ sung ý kiến ông Tùng, bà Đặng Thị Liên, Giám đốc Công ty Thực phẩm Long An, cho rằng không nên bỏ quy định vùng nguyên liệu nhưng cũng không nên ra điều kiện diện tích tối thiếu phải đạt được. Chuyện xây dựng vùng nguyên liệu là phải có, nhưng diện tích bao nhiều, nên để doanh nghiệp chủ động theo khả năng và nhu cầu thị trường.

Chuyển sang vấn đề số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, bà Liên cho rằng nên cân nhắc vì khi có nhiều doanh nghiệp nhỏ gia nhập thị trường, có thể họ sẽ phá giá, rồi làm hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến những doanh nghiệp khác.

Trước lo ngại của bà Liên, ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, chia sẻ câu chuyện ngành cá tra. Với ngành này, theo ông, các doanh nghiệp nhỏ đóng vai trò rất quan trọng và hoàn thiện chuỗi giá trị trong ngành.

Cụ thể, ông kể, trước đây, trong ngành cá tra, các doanh nghiệp lớn toàn làm phần ngon, còn phần xương xẩu, khó nhai như xử lý mỡ cá, dành cho những doanh nghiệp nhỏ. Nhờ những doanh nghiệp nhỏ xử lý, các bộ phận của con cá đều được tận dụng, vừa giảm chi phí sản xuất, vừa giảm gánh nặng môi trường. Chính họ hoàn thiện chuỗi cá tra và khai phá những giá trị mới. Khi những giá trị mới được khai phá và thị trường mở rộng, các doanh nghiệp lớn lại bắt đầu quan tâm đến những thứ mà trước đây họ bỏ qua.

Theo vị Giám đốc VCCI Cần Thơ, vai trò của các doanh nghiệp trong ngành gạo cũng tương tự ngành cá tra, đều rất cần thiết để hoàn thiện thị trường.

Nhìn lại vai trò của Hiệp hội lương thực

Đối với thủ tục xuất khẩu gạo, ông Dũng cho rằng doanh nghiệp chỉ cần đăng ký với cơ quan quản lý là được, không phải xin giấy phép và cũng không phải đăng ký qua Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA). Chuyện quản lý số liệu xuất khẩu để lập báo cáo và quản lý, mọi thông tin đều có thể lấy được từ hải quan, nên không việc gì phải đăng ký qua VFA. Tại sao ngành cá làm được mà ngành gạo làm không được?

Đề cập đến VFA, nhiều chuyên gia tại tọa đàm cho rằng cần nhìn nhận lại vai trò của tổ chức này. Ông Trần Tiến Khai cho rằng cần cải tổ VFA một cách thực chất và đưa tổ chức này hoạt động theo quy luật thị trường, thật sự dân chủ. Nếu không cải cách VFA, thì việc điều chỉnh NĐ 109 có lẽ cũng không hiệu quả bao nhiêu.

Theo ông Chu Tiến Quang, chuyên gia trong mạng lưới Liên minh Nông nghiệp, VFA hiện nay có nhiều quyền hạn nhưng lại không có quy định về trách nhiệm. Ông Quang đề nghị cần có thêm một cơ chế kiểm soát VFA trong quá trình làm việc và kiến nghị có thêm hội thảo có sự góp mặt của VFA để các bên cùng thảo luận.

Đề cập đến VFA là đề cập đến một vấn đề khác lớn hơn. Theo ông Võ Hùng Dũng, VFA như cánh tay nối dài giúp nhà nước quản lý ngành gạo. Tư duy quản lý này đã có từ lâu và muốn thay đổi VFA, cần thay đổi tư duy quản lý.

Bây giờ, đặt ra vấn đề khác, bỏ qua VFA, một số doanh nghiệp có thể tự lập thành hội để tương trợ nhau trong kinh doanh? Câu trả lời, về lý thuyết, theo ông Dũng, là có thể được với điều kiện các doanh nghiệp này phải viết điều lệ, rồi làm đơn xin thành lập và gửi đến Bộ Nội vụ chờ xét duyệt. Quy trình có thể kéo dài cả năm, hoặc hơn mà chưa chắc được.

Do vậy, trong buổi tọa đàm, ông Dũng gợi ý ban tổ chức cần nghiên cứu thêm vấn đề này để có những góp ý cần thiết trước khi luật về hội ra đời.

TBKTSG Online

Tin tham khảo