Sắn 9/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 9/2018 giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng 1/4 lượng nhập khẩu của tháng 9/2017

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Sắn 9/2018 - Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 9/2018 giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng 1/4 lượng nhập khẩu của tháng 9/2017

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 09/2018

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/9/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 483,1 nghìn ha, tăng 6,9% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ 2,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 09/2018 chỉ đạt 500 tấn, tương đương so với tháng trước 7 và chỉ bằng 1/3 so với lượng nhập khẩu của cùng kỳ năm 2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 09/2018 tiếp tục tăng mạnh, đạt gần 124.000 tấn, tăng 48.000 tấn so với tháng trước và tăng trên 33.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 09/2018, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 150,3 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 65,3 triệu USD, giảm tăng 45% về lượng và tăng 44,8% về giá trị so với tháng trước. So với cùng kỳ 2017, mức giảm lên tới 50,8% do nhu cầu nhập khẩu sắn từ thị trường Trung Quốc giảm mạnh.

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 9/2018 đạt gần 33 nghìn tấn, tăng 21.000 tấn so với tháng 8 nhưng giảm tới 70% so với tháng 9/2017.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 09/2018 tăng mạnh khi đạt trên 117 nghìn tấn, tăng 39.000 tấn so với tháng trước nhưng giảm trên 41% so với cùng kỳ năm trước.

Giá cả

1. Sắn lát

Sang tháng 9, các kho tại khu vực Tây Ninh, Bình Phước và Quy Nhơn đã ngừng mua hàng do mì không còn được đưa về.

Đối với hàng mì cám, giá kho bán ra đưa về các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi với giá dao động từ 5.700-5.800 đồng/kg tại Quy Nhơn và Bình Phước.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, giá mì củ đưa về nhà máy tăng từ 100-200 đồng/kg so với tháng trước, lên mức phổ biến từ 3.300-3.500 đồng/kg do nhu cầu mua nguyên liệu của các nhà máy tăng cao.

- Tại khu vực Tây Nguyên, nguồn cung mì đầu vụ khan hiếm nên giá mua vào của các nhà máy tiếp tục tăng mạnh, dao động từ 2.800-3.300 đồng/kg tùy vùng và tùy nhà máy (giá quy đổi với mì 30 trữ độ bột).

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 09/2018 giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng ¼ lượng nhập khẩu của tháng 9/2017;

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018;

3. Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 9/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới 34,5% so với cùng kỳ năm 2017.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Diện tích sắn cả nước theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT tính đến ngày 15/9/2018 đạt 483,1 nghìn ha, tăng 6,9% so với tháng trước nhưng giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 207. Trong đó, khu vực đồng bằng sông Hồng tăng mạnh nhất tới 32,8% so với cùng kỳ tháng 8, tiếp đến là vùng trung du và miền núi phía Bắc tăng 25,6%, trong khi đó tại khu vực miền Trung và miền Nam, diện tích chỉ tăng nhẹ do hiện đang bước vào mùa thu hoạch mì chính tại đây.

Với tổng diện tích đạt trên 151,3 nghìn ha, Tây Nguyên là vùng trồng sắn lớn nhất cả nước, tiếp đến là khu vực trung du miền núi phía Bắc và Duyên hải Nam Trung Bộ (trên 96 nghìn ha).

Tính đến ngày 15/9/2018, Gia Lai vẫn là địa phương có diện tích sắn trồng mới lớn nhất cả nước, đạt 64.000 ha. Tây Ninh đứng ở vị trí thứ 2 với gần 50.000 ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo số liệu khảo sát từ Cục Bảo vệ thực vật, tính đến đầu tháng 10/2018, bệnh khảm lá sắn đã xuất hiện và gây hại trên nhiều diện tích trồng sắn tại 12 tỉnh thành thuộc khu vực miền Trung và miền Nam gồm: Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Thuận, Ninh Thuận, TP Hồ Chí Minh, Long An, Gia Lai và Phú Yên. Trong đó, tỉnh Tây Ninh bị thiệt hại nặng nhất khi có tới trên 34.000 ha sắn bị nhiễm bệnh, chiếm tới trên 96,2% tổng diện tích.

Virus gây bệnh khảm lá lan truyền theo 2 con đường là qua hom giống và qua môi giới truyền bệnh (bọ phấn trắng). Bệnh khảm lá trên cây khoai mì được đánh giá là bệnh khá nguy hiểm do mức độ lây lan nhanh và sự suy giảm nghiêm trọng về năng suất của cây mì. Đối với cây mới bị lây bệnh, năng suất giảm khoảng 30% và với cây mì trồng bằng hom giống đã bị bệnh năng suất giảm tới 60%, thậm chí là không cho thu hoạch nếu cây mì có biểu hiện bệnh ngay khi mới mọc mầm.

Tại nước láng giềng Campuchia, qua khảo sát thực tế cho thấy bệnh khảm lá đã xuất hiện tại hầu hết các vùng trồng sắn của nước này và mức độ thiệt hại là khá nghiêm trọng. Đây được coi là hậu quả của việc phát triển quá nóng diện tích sắn trồng mới trong năm qua do giá sắn tăng cao, đồng thời theo mục tiêu phát triển ngành công nghiệp sắn của chính phủ Campuchia. Hom sắn giống nhiễm virus được di chuyển qua các vùng mà không có sự kiểm soát khiến bệnh dịch lây lan và bùng phát trên diện rộng.

Cũng theo tin từ thương nhân, do diện tích sắn trồng mới tăng mạnh, nguồn cung hom giống trong nước không đủ đáp ứng nên phía Campuchia đổ sang mua hom sắn giống từ Tây Ninh rất nhiều. Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là hiện nay phần lớn hom giống mì tại Tây Ninh đều bị nhiễm bệnh khảm lá khá nặng nên có khả năng sẽ lây lan bệnh cho các vùng nguyên liệu của Campuchia.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/09/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/09/2018

154.5

328.6

483.1

15/08/2018

133.0

318.9

451.9

15/09/2017

170

323.3

493.3

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

16.2

3.0

6.9

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-9.1

1.6

-2.1

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/09/2018 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 9/2018 tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 9/2018 đạt tương đương so với tháng trước (khoảng 500 tấn) nhưng chưa bằng 1/3 so với lượng sắn lát nhập khẩu của cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt 438,6 nghìn tấn, giảm 61,4% (tương dường giảm khoảng 696 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Có xu hướng trái ngược, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng mạnh trong tháng 9 khi đạt gần 124.000 tấn, tăng 48.000 tấn so với tháng 8 và tăng trên 33.000 tấn so với tháng 9 năm 2017. Tính từ 01/01-30/09/2018, sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam mới đạt trên 700 nghìn tấn, giảm tới 40,2% (tương đương khoảng 475.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 09/2018 tăng hơn 20.000 tấn nhưng giảm tới 70% so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 9/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam phục hồi khá tốt khi tổng khối lượng xuất khẩu đạt con số gần 33 nghìn tấn, tăng 21.000 tấn so với tháng 8 nhưng giảm tới 70% (tương đương 76.000 tấn) so với tháng 9/2017. Tính chung trong 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam mới đạt trên 600 nghìn tấn, giảm 47,3% (tức thấp hơn khoảng 540.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

51,424

-38.8

5

108,714

47,586

-56.2

6

114,141

31,087

-72.8

7

133,659

19,070

-85.7

8

133,917

11,917

-91.1

9

109,356

32,879

-69.9

10

108,800

   

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

599,114

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Nhu cầu mua sắn lát của Trung Quốc tăng mạnh trở lại khi các nhà máy cồn nâng công suất hoạt động phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ cồn tăng cao trong những tháng mùa đông. Theo đó lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam trong tháng 9/2018 đạt 32,6 nghìn tấn, chiếm gần 100% tổng lượng xuất khẩu trong tháng 9.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước nhập

5

6

7

8

9

Tổng

China

27,428

29,347

4,677

5,917

32,618

540,909

Korea (Republic)

20,158

1,740

14,393

6,000

261

57,986

Malaysia

         

220

Tổng

47,586

31,087

19,070

11,917

32,879

599,114

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 09/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới 80.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 9/2018 đạt trên 117.000 tấn, tăng 39.000 tấn so với tháng 8 nhưng vẫn giảm tới 41,4% (tương đương 83.000 tấn) so với tháng 9/2017. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt 1,23 triệu tấn, giảm 25,4% so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

145,793

-18.0

5

142,321

177,686

24.8

6

174,329

138,816

-20.4

7

145,658

93,397

-35.9

8

150,812

78,095

-48.2

9

200,310

117,305

-41.4

10

182,561

   

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

1,228,320

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

5

6

7

8

9

Tổng

China

155,306

127,228

81,722

70,542

110,530

1,093,930

Indonesia

798

1,676

2,916

1,938

1,786

27,704

Malaysia

5,451

1,854

1,635

936

1,212

24,059

Taiwan

5,411

1,525

422

390

2,155

21,863

Philippines

4,197

1,606

801

782

627

22,446

Pakistan

3,296

1,796

1,754

 

68

11,735

Chile

 

1,537

978

272

102

4,874

Korea (Republic)

208

374

1,711

546

224

3,625

Papua New Guinea

190

190

595

1,130

 

3,120

Lithuania

980

532

93

189

235

2,267

USA

346

103

263

235

18

2,222

Singapore

 

36

 

36

72

1,983

South Africa

76

 

171

356

38

1,619

India

         

1,216

UAE

380

 

38

190

 

1,180

Bangladesh

394

76

38

114

94

976

Khác

643

283

259

438

144

3,500

Tổng

177,686

138,816

93,397

78,095

117,305

1,228,320

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Sang tháng 9, các kho tại khu vực Tây Ninh, Bình Phước và Quy Nhơn đã ngừng mua hàng do mì không còn được đưa về.

Đối với hàng mì cám, giá kho bán ra đưa về các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi với giá dao động từ 5.700-5.800 đồng/kg tại Quy Nhơn và Bình Phước.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016-2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Sang tháng 9/2018, nguồn cung mì củ từ Campuchia đưa về tiếp tục tăng mạnh do thu hoạch mì bên Cam đã rộ vụ, đạt bình quân khoảng hơn 100 xe/ngày, tương đương tầm 4.000 tấn/ngày. Do nguồn cung mì nội vùng giảm nên các nhà máy đổ lên mua trực tiếp tại cửa khẩu nhiều hơn, đẩy giá mì giao dịch tại cửa khẩu luôn duy trì ở mức cao, dao động từ 430-525 Riel/kg, tương đương với giá quy đổi sang VND từ 2.500-3.000 đồng/kg (chưa tính chi phí bốc dỡ và vận chuyển về nhà máy). Tương tự, giá mua vào của các nhà máy tinh bột sắn tại khu vực Tây Ninh cũng tăng khá mạnh, lên mức phổ biến từ 3.300-3.500 đồng/kg vào tuần cuối tháng 9, cao hơn từ 100-200 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, do nguồn cung mì đầu vụ khan hiếm nên mặc dù giá mì xô được các nhà máy giữ ở mức 2.450-2.500 đồng/kg cho mì từ 23-25 độ nhưng sau khi cộng thêm các loại thưởng (thưởng về khoảng cách, thưởng lượng, thưởng tạp chất…) thì giá mì 30 độ bột quy đổi phải đạt từ 2.800-3.300 đồng/kg tùy vùng và tùy nhà máy, cao hơn khá nhiều so với vụ trước.

Tuy nhiên, sang tháng 10, giá mì nguyên liệu tại các vùng quay đầu giảm trở lại do xuất khẩu khó khăn.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 09/2018 giảm mạnh so với tháng trước và chỉ bằng ¼ lượng nhập khẩu của tháng 9/2017

Theo số liệu mới nhất từ hải quan Trung Quốc cho thấy, nhập khẩu sắn lát của nước này trong tháng 9/2018 đạt 210 nghìn tấn với giá trị nhập khẩu trên 51,2 triệu USD, giảm 60.000 tấn so với tháng 8 và thấp hơn rất nhiều so với con số 820 nghìn tấn của tháng 9/2017. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc đã nhập khẩu 3,94 triệu tấn sắn lát, tương đương giá trị khoảng 927 triệu USD, giảm 1,95 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, lượng cồn nhập khẩu của nước này tiếp tục tăng mạnh trong tháng 2 và tháng 3, đưa tổng khối lượng cồn nhập về Trung Quốc trong quý I năm 2018 đạt con số cao kỷ lục, gần 495 triệu lít, gấp 20 lần so với lượng nhập khẩu của cả năm 2017. Trong đó, lượng cồn biến tính chiếm tới 424,4 triệu lít (gần như 100% được nhập từ Hoa Kỳ) và tổng lượng cồn 80% trở lên nhập khẩu trong quý I/2018 đạt trên 70,3 triệu lít (có tới 99,9% lượng cồn được nhập từ Pakistan). 5 trong số 7 tỉnh có lượng nhập khẩu lớn nhất đều thuộc khu vực Đông Bắc Trung Quốc, trong đó tỉnh Giang Tô nhập khẩu nhiều nhất với hơn 264,9 triệu lít, tiếp đến là tỉnh Quảng Đông (98,6 triệu lít), Sơn Đông (46,3 triệu lít), Bắc Kinh (43,8 triệu lít), Vân Nam (38,4 triệu lít), An Huy (37,3 triệu lít) và Thượng Hải là 12,5 triệu lít.

Bảng 7: Lượng cồn nhập khẩu của Trung Quốc theo tháng năm 2015-2018 (lít)

Năm

Tháng

Ethanol biến tính

Ethanol 80% trở lên

2015

1

22,178

62,287

2

4,280

3,772,961

3

20,231

3,739,660

4

7,128

7,434,330

5

11,266

21,148,260

6

519,281

15,513,947

7

20,325,762

48,751,228

8

12,471,049

41,058,859

9

98,350,878

23,273,830

10

30,971,172

37,990,163

11

13,143,977

4,427,230

2016

1

46,978,869

14,089

2

44,740,682

7,587

3

99,645,100

15,892

4

49,361,191

3,780,354

5

259,736,222

3,651,639

6

104,536,085

7,115,133

7

21,054,908

3,583,610

8

38,468,782

3,514

9

10,096,973

24,239

10

1,187,523

3,914

11

71,207,152

103,392

12

124,816,169

7,133

2017

1

3,765

2,411,207

2

5,096

4,210

3

16,079

16,957

4

4,030

19,056

5

3,738

5,507

6

2,436

12,333

7

5,035

282,714

8

3,767,797

328,270

9

4,681

411,038

10

4,868,181

6,292,080

11

9,858

6,456,437

12

7,123

25,916

2018

1

91,287,203

29,415,154

2

189,038,154

8,613,733

3

144,122,319

32,345,961

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ hải quan Trung Quốc

3. Xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 9/2018 tăng mạnh so với tháng trước nhưng giảm tới 34,5% so với cùng kỳ năm 2017

Theo số liệu thống kê mới nhất từ hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu sắn lát của nước này tiếp tục tăng mạnh trong tháng 9/2018 khi đạt trên 273 nghìn tấn, tăng 33% (tương đương gần 68 nghìn tấn) so với tháng 8 nhưng thấp hơn rất nhiều so với con số 417 nghìn tấn của cùng kỳ tháng 9/2017. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan đạt trên 3,22 triệu tấn, thấp hơn 1,38 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Có xu hướng trái ngược, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 9 quay đầu giảm, đạt trên 246 nghìn tấn, giảm hơn 30 nghìn tấn so với tháng trước nhưng tăng gần 26.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Tính từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2018, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 2,01 triệu tấn, giảm 210.000 tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan tăng 5 USD/tấn trong tuần đầu tiên của tháng 9, lên mức 235 USD/tấn FOB và mức giá này được duy trì đến hết tháng 9. So với cùng kỳ năm 2017, giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan đang cao hơn khoảng 50 USD/tấn.

Đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan nối dài xu hướng tăng nhẹ và đạt mức cao nhất 510 USD/tấn vào tuần cuối tháng 9 theo đà tăng của giá tinh bột nội địa, đồng thời nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc tốt hơn. Giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan hiện đang cao hơn từ 160-170 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2017.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đối với mì nguyên liệu, năng suất và chất lượng mì củ của cả Việt Nam, Thái Lan và Campuchia đều đạt thấp hơn khá nhiều so với kỳ vọng trước đó. Tại Thái Lan, năng suất sắn niên vụ 2018/2019 ước đạt chưa tới 30 triệu tấn, thấp hơn 3 tấn so với dự báo trước đó. Tại Campuchia và Việt Nam do ảnh hưởng của bệnh khảm lá bùng phát trên diện rộng khiến năng suất cây khoai mì bị sụt giảm rất mạnh. Do đó, dù diện tích tăng mạnh so với niên vụ trước nhưng sản lượng có thể sẽ không tăng như mức tăng của diện tích. Nguồn cung sắn nguyên liệu cho các nhà máy tinh bột sắn tại Tây Nguyên và Tây Ninh trong niên vụ 2018/2019 sẽ vẫn tiếp tục khó khăn khi giá thiết lập ngay từ đầu vụ đã ở mức trên dưới 3.000 đồng/kg, cao hơn tới trên 1.300-1.400 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Giá mì nguyên liệu tại các vùng luôn duy trì ở mức cao ngay từ đầu vụ do sự suy giảm mạnh về năng suất và sản lượng do dịch bệnh. Theo đó, người dân có xu hướng đưa mì củ về các nhà máy tinh bột sắn nhiều hơn thay vì làm mì lát. Do vậy, theo dự đoán nguồn cung sắn lát của Việt Nam năm nay sẽ ít hơn với cả mì nội vùng lẫn nhập khẩu từ Campuchia. Ngoài ra, mì trồng 2 năm tại khu vực Tây Nguyên không còn nên sắn lát vụ mới của Việt Nam năm nay sẽ có muộn hơn ít nhất 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm.

Đối với tinh bột sắn, dù đã bước vào quý IV, tức giai đoạn cao điểm của mùa sản xuất và tiêu thụ thực phẩm tại Trung Quốc. Tuy nhiên, nguồn cung tinh bột ngô khá dồi dào sau động thái bán ra hơn 120 triệu tấn ngô từ kho dự trữ của Trung Quốc trong giai đoạn kể từ giữa tháng 4/2018 làm giảm nhu cầu đối với tinh bột sắn. Hơn nữa, trong thời điểm tháng 7 và tháng 8, Trung Quốc đã ký mua một lượng khá lớn hàng Thái Lan với giá thấp khiến nhu cầu mua tinh bột sắn của Việt Nam yếu hơn. Ngoài ra trong bối cảnh hiện nay, đồng nhân dân tệ và đồng baht Thái tiếp tục mất giá mạnh so với đô la Mỹ và Thái Lan đang được lợi về tỷ giá nên giá xuất khẩu cuả Thái Lan cạnh tranh hơn nhiều so với của Việt Nam. Theo đó, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam được nhận định có thể sẽ giảm tiếp, đặc biệt là qua kênh biên mậu. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn cung sắn nguyên liệu của cả Việt Nam, Campuchia và Thái Lan niên vụ 2018/2019 được nhận định sẽ suy giảm khá mạnh do dịch bệnh và mưa lũ thì giá xuất khẩu tinh bột sắn trong thời gian tới sẽ không thể xuống sâu.

 

Tin tham khảo