Sắn 10/2017 - Giá sắn nguyên liệu tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 10 do nguồn cung khan hiếm

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Sắn 10/2017 - Giá sắn nguyên liệu tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 10 do nguồn cung khan hiếm

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 10/2017

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/10/2017 tổng diện tích gieo trồng sắn của cả nước đạt 477,1 nghìn ha, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 9/2017 chỉ đạt gần 1.700 tấn, giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước và đạt mức thấp nhất kể từ tháng 10/2015 trở lại đây.

- Nhập khẩu sắn củ tươi đạt trên 90.000 tấn, tăng nhẹ so với tháng trước và cao gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm 2016.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 10/2017, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam chỉ đạt 292,2 nghìn tấn tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 84,4 triệu USD, giảm 5,6% về lượng và tăng nhẹ 0,1% về giá trị so với tháng trước. Trong đó:

- Xuất khẩu sắn lát đạt gần 109 nghìn tấn, tương đương so với tháng trước và tăng gấp 2 lần so với lượng sắn lát xuất khẩu của cùng kỳ năm 2016.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 10/2017 đạt 182,6 nghìn tấn, giảm 8,9% so với tháng trước và giảm khoảng 4,6 % so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cả

1. Sắn lát

Giá giao dịch sắn lát tại thị trường nội địa tiếp tục tăng mạnh trong tháng 10 theo đà tăng của giá xuất khẩu, lên mức phổ biến từ 4.150-4.200 đồng/kg (hàng giao tại kho người bán) khu vực Quy Nhơn, Tây Ninh và Hoa Lư (Bình Phước).

2. Sắn củ tươi: Giá xuất khẩu tinh bột sắn tăng mạnh, cộng với nguồn cung sắn củ tươi khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ đẩy giá sắn nguyên liệu tại các khu vực trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 10.

Tại Tây Ninh, giá sắn củ tươi đưa về nhà máy tăng lên mức 2.100-2.250 đồng/kg với mì nội và giá 2.000-2.100 đồng/kg với mì củ từ Cam đưa về.

Tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, giá mì nguyên liệu tiếp tục có xu hướng tăng do nguồn cung mì khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ. Cụ thể, tại Đắc Lắc và Kon Tum giá dao động từ 1.850-1.950 đồng/kg; tại Gia Lai giá từ 1.850-2.100 đồng/kg và tại Phú Yên giá mua vào từ 1.800-1.850 đồng/kg.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 10/2017 nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao do nhu cầu mua sắn lát của các nhà máy vẫn rất lớn;

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 10/2017, đồng loạt tăng mạnh so với tháng trước.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Tháng 10 là thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ ở hầu hết các vùng trên cả nước. Do vậy, diện tích sắn trồng mới được thống kê đến ngày 15/10 có sự gia tăng không đáng kể so với cùng kỳ tháng trước và tập trung chủ yếu ở khu vực Nam Bộ. Riêng tại các tỉnh miền Bắc, diện tích gieo trồng mới gần như vẫn giữ nguyên so với cùng kỳ tháng trước do bà con nông dân đang tập trung cho thu hoạch lúa mùa và trồng các loại hoa màu vụ đông.

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến giữa tháng 10/2017, diện tích gieo trồng sắn cả nước đạt 477,1 nghìn ha, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2016.

 Tình hình nguồn cung sắn niên vụ 2017/2018 đang trở thành vấn đề nóng với các doanh nghiệp sản xuất tinh bột sắn do diện tích trồng sắn tại các vùng trồng chính đều giảm khá mạnh so với cùng kỳ năm trước. Số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT cho thấy, tính đến ngày 15/10/2017, hầu hết các vùng trên cả nước đều có sự suy giảm về diện tích sắn trồng mới nhưng mức giảm không đáng kể (dưới 10%), riêng khu vực Trung du và miền núi phía Bắc giảm mạnh nhất là 22,8%. Tuy nhiên, theo nhận định của các thương nhân diện tích trồng mì thực tế tại các tỉnh thấp hơn rất nhiều, có thể giảm tới 40% hoặc cao hơn so với cùng kỳ năm trước do phần lớn diện tích sắn được chuyển qua trồng mía, nghệ, keo và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Gia Lai và Tây Ninh tiếp tục là 2 địa phương trồng sắn lớn nhất cả nước tính đến thời điểm thống kê ngày 15/10/2017, với diện tích trồng mới đạt lần lượt là 65 nghìn ha và 49,1 nghìn ha. Tiếp đó là tỉnh Kon Tum với 38,6 nghìn ha, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm 2016

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến ngày 15/10/2017 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/10/2017

138.0

339.1

477.1

15/09/2017

138.0

323.3

461.3

15/10/2016

123.1

348.6

471.7

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.0

4.9

3.4

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

12.1

-2.7

1.1

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến ngày 15/10/2017 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh vào tháng 10/2017, trong khi đó sản lượng sắn lát nhập khẩu gần như bằng 0 do tồn kho sắn lát vụ cũ bên Campuchia đã cạn

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 10 tiếp tục tăng mạnh khi đạt tới 157,8 nghìn tấn, tăng 74,6% so với tháng 9 và tăng tới 111,5% so với cùng kỳ tháng 10 năm 2016. Tính chung 10 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã nhập khẩu trên 1,33 triệu tấn sắn củ tươi từ Lào và Campuchia với giá trị đạt khoảng 110,5 triệu USD, tăng 62% về lượng và tăng 57,8% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Có xu hướng trái ngược, nhập khẩu sắn lát của nước ta trong tháng 10 tiếp tục duy trì ở mức rất thấp khi chỉ đạt 1,2 nghìn tấn, giảm 28,3% so với tháng trước và giảm 29,3% so với cùng kỳ năm trước do tồn kho sắn lát vụ cũ bên Cam đã cạn, trong khi sắn lát vụ mới chưa được đưa về do mùa mưa bên Cam chưa kết thúc và giá sắn củ hiện đang khá tốt nên người dân chuyển qua bán sắn củ tươi thay vì phơi mì lát. Tính chung từ đầu năm đến nay, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu về Việt Nam đạt gần 1,14 triệu tấn, tăng 78% so với cùng kỳ năm 2016.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 10/2017 đạt tương đương so với tháng trước và tăng gấp 2 lần so vơi cùng kỳ năm trước

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan cho thấy, trong tháng 10/2017 Việt Nam đã xuất khẩu được gần 109 nghìn tấn sắn lát, đạt tương đương so với tháng trước và cao gấp 2 lần so với tháng 10/2016. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2017, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 1,25 triệu tấn, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước (tương đương khoảng 56,4 nghìn tấn).

Nhu cầu mua sắn lát từ các nhà nhập khẩu Trung Quốc vẫn khá tốt, nhưng do lượng tồn kho của Việt Nam không còn nhiều khiến lượng hàng xuất khẩu trong tháng 10 vẫn duy trì ở mức thấp, gần 109 nghìn tấn, tương đương so với tháng 9 nhưng cao gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu trên 1,18 triệu tấn sắn lát từ Việt Nam, chiếm 95,3% thị phần. Trong khi đó, lượng sắn lát Trung Quốc nhập từ Thái Lan trong 10 tháng đầu năm nay là gần 5,2 triệu tấn.

Nhu cầu mua sắn lát từ 2 thị trường truyền thống khác là Hàn Quốc và Indonesia tiếp tục trầm lắng. Đặc biệt là thị trường Indonesia, trong 5 tháng liên tiếp kể từ tháng 6/2017 đến nay không có một đơn hàng tinh bột sắn nào được xuất sang thị trường này. Nguyên nhân được nhận định là sản lượng sắn củ tươi của Indonesia trong năm 2017 khá tốt, có thể đáp ứng được phần lớn nhu cầu tiêu thụ sắn trong nước nên nhập khẩu sắn lát và tinh bột sắn của nước này đều giảm khá mạnh.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

145,244

43,846

-69.8

2

157,670

162,755

3.2

3

299,594

246,722

-17.6

4

260,694

84,051

-67.8

5

121,338

108,714

-10.4

6

53,205

114,141

114.5

7

55,789

133,659

139.6

8

125,353

133,917

6.8

9

28,110

109,356

289.0

10

55,419

108,800

96.3

11

49,847

   

12

52,939

   

Tổng

1,405,202

1,245,960

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2017 (tấn)

Nước nhập

5

6

7

8

9

10

Tổng

China

106,328

113,923

112,970

127,288

109,052

108,583

1,187,814

Korea (Republic)

108

107

20,688

6,519

108

217

53,990

Indonesia

2,058

 

 

 

 

 

3,295

Malaysia

 

111

 

111

196

 

642

Sri Lanka

219

 

 

 

 

 

219

Tổng

108,714

114,141

133,659

133,917

109,356

108,800

1,245,960

 

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 10/2017 đạt trên 182 nghìn tấn, giảm nhẹ so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 10/2017 đạt 182,6 nghìn tấn, giảm 8,9% so với tháng trước và giảm khoảng 4,6% so với tháng 10 năm 2016. Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, tổng lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 1,82 triệu tấn, tăng 9,3% (tương đương mức tăng khoảng 155,4 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Trong 10 ngày đầu tháng 10, do phía Trung Quốc nghỉ lễ Quốc khánh dài ngày nên tình hình xuất khẩu khá trầm lắng cả ở kênh biên mậu lẫn đường biển. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng 10, lượng xuất khẩu tinh bột sắn tăng mạnh do nhu cầu mua tinh bột sắn của Trung Quốc sôi động trở lại.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

223,141

123,014

-44.9

2

132,078

248,330

88.0

3

231,833

283,493

22.3

4

189,891

177,730

-6.4

5

136,949

142,321

3.9

6

122,726

174,329

42.0

7

137,558

145,658

5.9

8

160,556

150,812

-6.1

9

147,075

200,310

36.2

10

191,342

182,561

-4.6

11

239,379

   

12

255,157

   

Tổng

2,167,685

1,828,558

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam tính đến tháng 10/2017 với lượng nhập khẩu đạt 171,3 nghìn tấn, chiếm 93,8%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 1,6 triệu tấn tinh bột sắn từ Việt Nam, chiếm 88% tổng thị phần. Nhu cầu từ các thị trường ngoài Trung Quốc như Philippines, Malaysia, Indonesia và Đài Loan vẫn rất yếu và có xu hướng giảm mạnh trong 3 tháng trở lại đây.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2017 (tấn)

Thị trường nhập khẩu

6

7

8

9

10

Tổng

China

151,779

123,938

137,740

189,032

171,300

1,609,205

Philippines

4,347

3,447

1,500

2,792

1,891

45,503

Malaysia

2,963

2,168

3,386

1,350

2,731

42,643

Indonesia

5,931

8,135

836

247

361

39,456

Taiwan

3,952

2,021

649

2,474

2,428

31,987

India

1,054

85

1,387

171

 

12,567

Singapore

241

0

170

564

537

7,833

Papua New Guinea

494

2,052

3,040

494

1,026

7,106

UAE

698

736

408

736

380

4,686

Japan

0

1,020

228

 

136

3,475

Bangladesh

433

 

38

190

418

3,116

HongKong

18

 

18

38

 

2,775

USA

427

698

155

 

67

2,535

Chile

380

 

85

 

304

2,403

Pakistan

146

345

350

865

 

2,093

South Africa

 

407

332

199

114

1,979

Khác

1,466

606

491

1,159

869

9,194

Tổng

174,329

145,658

150,812

200,310

182,561

1,828,558

 

3. Giá cả

3.1.Sắn lát

Sang tháng 10/2017, giá sắn lát giao dịch nội địa tiếp tục xu hướng tăng theo đà tăng của giá xuất khẩu

Giá giao dịch sắn lát tại thị trường nội địa tiếp tục tăng mạnh trong tháng 10, lên mức phổ biến từ 4.150-4.200 đồng/kg (hàng giao tại kho người bán) khu vực Quy Nhơn, Tây Ninh và Hoa Lư (Bình Phước). Nguyên nhân là do: i) Giá cám gạo tại khu vực ĐBSCL tăng mạnh và cán mốc 6.000 đồng/kg vào thời điểm giữa tháng 10 do nguồn cung cám ra thị trường đặc biệt khan hiếm, trong khi nhu cầu mua từ các nhà máy thức ăn thủy sản nhiều hơn. Do đó, nhu cầu mua cám mì và sắn lát từ các nhà máy thức ăn thủy sản tăng trở lại; ii) Nhu cầu tiêu thụ sắn lát của các nhà máy cồn nội địa và xuất khẩu cũng khá tốt, hỗ trợ giá sắn tại thị trường nội địa tăng; iii) Tồn kho mỏng trong khi thời tiết có diễn biến phức tạp khiến sắn lát vụ mới có trễ hơn so với năm trước và sản lượng sắn lát có thể giảm tới 50% so với năm ngoái.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2015 -2017 (đồng/kg)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2 Sắn củ tươi

 Giá mì củ tại các vùng trên cả nước tiếp tục tăng do nguồn cung khan hiếm

Giá xuất khẩu tinh bột sắn tăng mạnh, cộng với nguồn cung sắn củ tươi khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ đẩy giá sắn nguyên liệu tại các khu vực trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 10.

Tại Tây Ninh, nguồn cung mì nội vùng giảm mạnh do đã vào cuối vụ, trong khi đó mì Cam đưa về là mì vụ mới, chất lượng củ rất kém do vẫn còn non, trữ độ bột thấp và hao hụt nhiều do quãng đường vận chuyển xa và thời gian bốc dỡ kéo dài khiến chi phí sản xuất tinh bột sắn của các nhà máy tăng mạnh. Trong nửa đầu tháng 10, do chất lượng mì quá kém nên các nhà máy có xu hướng giảm công suất chạy còn 1 ca/ngày, trong khi đó lượng mì về nhiều nên giá quay đầu giảm còn 1.950-2.050 đồng/kg với mì Cam và 2.050-2.150 đồng/kg với mì nội vùng. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng 10 và đầu tháng 11 do nhu cầu mua nguyên liệu của các nhà máy tăng mạnh để trả cho các đơn hàng đã ký trước đó nên giá sắn củ đưa về nhà máy lại tiếp tục tăng, lên mức phổ biến từ 2.100-2.250 đồng/kg với mì nội và giá 2.000-2.100 đồng/kg với mì củ từ Cam đưa về.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu tiếp tục có xu hướng tăng do nguồn cung mì khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ. Tính đến cuối tháng 10, giá mì tại Đắc Lắc và Kon Tum tăng lên mức phổ biến từ 1.850-1.950 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg so với tháng trước. Tại Gia Lai, giá dao động từ 1.850-2.100 đồng/kg tùy nhà máy, áp dụng với mì 30 độ bột và tại Phú Yên giá mua vào của các nhà máy hiện đang ở mức thấp nhất trong khu vực, dao động từ 1.800-1.850 đồng/kg, tăng 100-150 đồng/kg so với tuần cuối tháng 9. Do ảnh hưởng của cơn bão Damrey đổ bộ trực tiếp tại các tỉnh Phú Yên, Bình Định và Khánh Hòa gây ngập úng trên diện rộng nên diện tích mì bị thiệt hại tại khu vực này được đánh giá là rất lớn. Theo nhận định của các thương nhân, với tình hình chạy đua nguyên liệu như hiện nay, trong bối cảnh giá xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng thì giá mì nguyên liệu tại miền Trung sẽ khó giảm.

Tại khu vực miền Bắc, các nhà máy cũng đã bắt đầu chạy lại, tuy nhiên do mì đầu vụ trữ độ bột thấp nên các nhà máy chỉ chạy cầm chừng. Tại Yên Bái, giá mì củ đầu vụ mua xô từ 1.400-1.450 đồng/kg và tại khu vực Thanh Hóa, Nghệ An, giá mua cao hơn 50 đồng/kg, dao động từ 1.450-1.500 đồng/kg.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2017 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 10/2017 nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao do nhu cầu mua của các nhà máy vẫn rất lớn

Mặc dù chưa có con số thống kê chính thức về lượng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 10 nhưng với tình hình xuất khẩu của Thái Lan và Việt Nam thì lượng sắn mà Trung Quốc nhập khẩu trong tháng 10 có thể sẽ vẫn duy trì ở mức tương đương hoặc tăng nhẹ so với tháng trước do nhu cầu mua hàng của các nhà nhập khẩu Trung Quốc vẫn rất lớn trong tháng 10 và nửa đầu tháng 11. Tính chung 10 tháng đầu năm 2017, lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu sẽ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua phục hồi trở lại trong quý 3 khi các nhà máy cồn và hóa chất tăng công suất chạy nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh dịp cuối năm.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2015

1

726.7

 

 

2

936.3

720.0

200.0

3

1,168.3

868.3

300.0

4

1,157.8

810.0

330.0

5

1,092.8

790.0

290.0

6

834.8

540.0

250.0

7

918.3

740.0

170.0

8

625.6

618.0

6.7

9

311.2

278.0

28.6

10

437.1

 

 

11

425.5

400.0

20.0

12

624.7

587.0

26.0

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 10/2017 đồng loạt tăng mạnh so với tháng trước

Theo thống kê của Hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan tăng trở lại trong tháng 10 khi đạt trên 267 nghìn tấn, tăng 21,3% (tương đương 46,9 nghìn tấn) so với tháng trước nhưng giảm khoảng 13,1% so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân là do nhu cầu nhập khẩu tinh bột sắn của các nhà máy chế biến thực phẩm tại Trung Quốc tăng trong dịp cuối năm. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2017, tổng lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 2,48 triệu tấn. Trong đó, chỉ tính riêng thị trường Trung Quốc đã chiếm khoảng 49,4%, tương đương 1,23 triệu tấn. Tiếp đến là Indonesia, Đài Loan, Malaysia và Nhật Bản cũng là những thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn của Thái Lan.

Có cùng xu hướng, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan trong tháng 10 cũng tăng rất mạnh, cao hơn khoảng 40,6% so với tháng 9 và tăng tới 65,6% (tương đương khoảng 232,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ tháng 10 năm 2016. Tính từ đầu năm đến nay, Thái Lan đã xuất khẩu gần 5,2 triệu tấn sắn lát và gần như 100% lượng hàng được xuất sang thị trường Trung Quốc, chỉ một lượng rất nhỏ hơn 5,5 nghìn tấn xuất đi các thị trường khác.

Bảng 7: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2015

1

564.2

259.4

2

809.0

276.5

3

721.7

333.8

4

665.1

234.8

5

1071.4

281.0

6

692.0

227.1

7

641.3

160.5

8

299.1

185.9

9

253.2

188.7

10

559.8

216.4

11

367.4

259.1

12

615.7

263.8

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

586.9

267.2

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan sang thị trường Trung Quốc tiếp tục xu hướng tăng và đạt mức cao nhất 195 USD/tấn vào tuần cuối tháng 10, đầu tháng 11, tăng khoảng 11 USD/tấn so với tháng trước do lượng tồn kho sắn lát của nước này cũng đang ở mức thấp và nguồn cung sắn vụ mới được nhận định sẽ giảm rất mạnh so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, giá cồn từ sắn bán ra tại thị trường Trung Quốc đã thoát đáy và liên tục leo dốc kể từ giữa tháng 7/2017 và đạt mức cao nhất là 5550 tệ/tấn tại khu vực Sơn Đông và Giang Tô hỗ trợ tích cực cho giá sắn lát xuất khẩu sang thị trường này.

Có cùng xu hướng, giá tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan cũng không ngừng tăng kể từ đầu tháng 9/2017 trở lại đây. Tính đến cuối tháng 10, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan tăng lên mức 375-380 USD/tấn FOB, tăng tới 30 USD/tấn so với tháng trước do lượng tồn kho mỏng, trong khi nguồn cung tinh bột sắn vụ mới sẽ đạt thấp do sản lượng và diện tích sắn niên vụ 2017/2018 giảm khá mạnh do ảnh hưởng của việc thay đổi cơ cấu cây trồng và tình hình lũ lụt xảy ra nghiêm trọng tại các tỉnh Đông Bắc Thái Lan trong năm vừa qua. Theo đánh giá sơ bộ, mức độ suy giảm sản lượng sắn của Thái Lan năm nay có thể lên tới 10%, thậm chí là nhiều hơn.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2017 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

 

Mặc dù Trung Quốc nhập khẩu một lượng lớn sắn trong tháng 9, 10 và có thể nửa đầu tháng 11 nên nhu cầu mua trong nửa cuối tháng 11 và tháng 12 chậm lại nhưng do tồn kho của Việt Nam không còn nhiều, cộng thêm giá sắn củ tươi nguyên liệu liên tục tăng cao nên giá sắn lát của Việt Nam trong những tháng còn lại của năm 2017 sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao. Thời tiết tại khu vực miền Trung và miền Nam vẫn đang có mưa nhiều nên dự kiến phải tới đầu tháng 1 nguồn cung mì lát vụ mới mới bắt đầu có hàng đưa ra thị trường.

Giá tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan tiếp tục duy trì xu hướng tăng trong bối cảnh sản lượng sắn vụ mới suy giảm đẩy giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn nội địa tăng mạnh. Tuy nhiên, sức mua từ thị trường Trung Quốc cho các đơn hàng ký mới hiện vẫn khá yếu do các đơn hàng ký giá thấp (dưới 350 USD/tấn) vẫn đang trên đường về cảng. Ngoài ra, từ giữa tháng 11, Trung Quốc bước vào vụ thu hoạch ngô có thể tạo sức ép lên giá ngô và tinh bột ngô nội địa. Theo nhận định của các thương nhân, xu hướng tăng của thị trường có thể được duy trì cho tới cuối tháng 11, trước khi Trung Quốc bước vào vụ thu hoạch ngô và sắn. Mặc dù vậy, với nhu cầu mua mạnh từ các thị trường ngoài Trung Quốc chuẩn bị cho mùa tiêu thụ cao điểm cuối năm thì thị trường vẫn được hỗ trợ trong ngắn và trung hạn.

Do thu hoạch sắn nội địa tại khu vực Tây Nguyên và Tây Ninh đến giữa tháng 11 là cạn nên tình hình nguồn cung sắn cho các nhà máy sẽ chỉ còn phụ thuộc vào lượng sắn từ Campuchia đưa về. Theo nhận định của thương nhân, giá sắn củ tươi tại Tây Ninh và Tây Nguyên có thể còn tiếp tục tăng trong nửa cuối tháng 11, đầu tháng 12 cho đến khi thu hoạch sắn nội địa có trở lại.

Tin tham khảo