Ngành mía đường phải đổi mới quyết liệt hơn nữa sau 22 năm phát triển

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Ngành mía đường phải đổi mới quyết liệt hơn nữa sau 22 năm phát triển

Khởi động từ năm 1995, chương trình mía đường được xem là bước khởi đầu của tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn.

Sau 22 năm triển khai, đến nay đời sống của nông dân trồng mía, nhất là ở vùng sâu, vùng xa đã được cải thiện rõ rệt…  

Cán đích 1 triệu tấn đường sau 5 năm

Ngày 28/9, Bộ NN-PTNT tổ chức hội nghị tổng kết “22 năm ngành mía đường Việt Nam” nhằm đánh giá thành tựu cũng như những vấn đề yếu kém để triển khai kế hoạch, giải pháp cho chặng đường sắp tới…

Nằm trong kế hoạch mục tiêu 1 triệu tấn đường vào năm 2000 của Chính phủ đề ra trước đó, ngày 13/10/1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (sau này là Chủ tịch nước) chủ trì cuộc họp với sự tham gia của Bộ Nông nghiệp - Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ NN-PTNT) và các Bộ, Ngành liên quan thông qua báo cáo tổng quan. Tại đây, Thủ tướng kết luận: “Ngay từ bây giờ cần xác định rõ vị trí của ngành mía đường trong tổng thể cơ cấu nền kinh tế, phải xem cây mía là cây trồng quan trọng không chỉ ở các khu quy hoạch trọng điểm.

Ngành mía đường phải phát triển mạnh, phấn đấu 2-3 năm tới khắc phục nạn đói đường, đảm bảo nhu cầu thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. 5 năm tới vừa triển khai xây dựng nhà máy vừa tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu mía”.

Về sau, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng chính thức đưa nội dung phát triển mía đường vào văn kiện với phương châm: Đầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường hiện có, xây dựng các nhà máy mới có quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ. Tại những vùng nguyên liệu lớn, xây dựng các nhà máy có công nghệ tiên tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài.

Trong vòng 5 năm đầu (1995-2000) ngành Mía đường trong nước căn bản hình thành và về đích mục tiệu 1 triệu tấn. Năm 2000 diện tích mía cả nước đạt 350.000 ha, tăng 30%/năm, gấp 2,3 lần so với năm 1994, trong đó vùng nguyên liệu tập trung đạt 202.000 ha.

Lúc này các nhà máy cơ bản đều lựa chọn và sử dụng các giống mía mới có năng suất cao với diện tích triển khai chiếm đến 70% vùng nguyên liệu tập trung (182.000 ha), năng suất tăng 19% (từ 42 tấn/ha lên 50 tấn/ha), chất lượng đạt 10 – 11 CCS. Hiệu quả kinh tế có bước chuyển biến rõ rệt, giá trị thu nhập tăng thêm từ 2-10 triệu đồng/ha.

Những năm gần đây, ngành Mía đường từng bước dịch chuyển theo hướng “Giảm diện tích, tăng năng suất”. Bằng chứng là niên vụ 1990-2000, diện tích trồng mía cả nước là 350.000 ha, năng suất bình quân 50,8 tấn/ha nhưng đến năm 2015-2016 con số này lần lượt là 284.367 ha và 64,4 tấn/ha, 5 năm qua giá mía 10 CCS giữ ổn định ở mức 900.000 đồng – 1,1 triệu đồng/tấn, nâng doanh thu từ 15 – 18 nghìn tỷ đồng/năm. Đây là bước tiến hết sức đáng mừng.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thành Nam khẳng định: 22 năm là một chặng đường dài đầy vẻ vang nhưng cũng lắm thách thức của ngành mía đường. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cạnh trạnh trên thị trường ngày càng gay gắt, cơ hội và thách thức sẽ đan xen, đòi hỏi ngành mía đường phải đổi mới quyết liệt hơn nữa.  

Nhiều hạn chế, yếu kém

Trên cơ sở thống kê, đánh giá kết quả thực tiễn, Bộ NN-PTNT nhận định, bên cạnh những thành tựu đạt được, hiện ngành mía đường vẫn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó xoay quanh 4 vấn đề trọng tâm:

Một là công tác nghiên cứu, phát triển, phổ biến giống mía và chuyển đổi cơ cấu giống chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, thực tế của từng vùng cũng như xu hướng biến đổi khí hậu ngày một rõ rệt.

Hai là năng suất chưa cao, mặc dù có sự tăng trưởng trong những năm gần đây song thực tế vẫn thấp hơn 7% so với mức bình quân trên thế giới (70,2 tấn/ha).

Ba là chất lượng thấp, suốt 22 năm qua chữ đường bình quân đưa vào ép chỉ dao động trên dưới 10 CCS, trong khi ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc đạt 12 – 14 CCS.

Bốn là kỹ thuật canh tác lạc hậu, dù nằm trong vùng nguyên liệu nhưng đa phần diện tích trồng mía thuộc sở hữu của nông dân với quy mô nhỏ lẻ, phân tán, hạ tầng cơ sở yếu kém, hệ quả là độ cơ giới hóa trong canh tác chỉ đạt khoảng 10-20%.

Các chuyên gia đầu ngành chỉ rõ, phương thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ cộng với mối liên kết lỏng lẻo là những nguyên nhân dẫn đến tổn thất cả về sản lượng và chất lượng.

Điều này kéo theo giá nguyên liệu trong nước luôn ở mức cao, chiếm đến 70-80% giá thành sản xuất đường. Tính ra, với giá mía đưa vào chế biến từ 900.000 đồng – 1.100.000 đồng/tấn thì chi phí nguyên liệu “ngốn” khoảng 8.000 – 10.000 đồng/kg, cao hơn Thái Lan từ 2.000 – 3.000 đồng/kg…

Anh hùng Lao động Lê Văn Tam, Chủ tịch HĐQT Cty CP Mía đường Lam Sơn bày tỏ quan điểm: “Bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng và toàn diện, những bất cập của ngành mía đường đã bộc lộ rõ. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi phải thực hiện một cuộc cách mạng đổi mới toàn diện cả về quy mô, phương thức, kỹ thuật canh tác theo hướng NNCNC”.

Nhiều đại diện doanh nghiệp mía đường cho rằng, Chính phủ cần sớm ban hành Luật mía đường để tạo hành lang pháp lý, có cơ chế quản lý rõ ràng mới thúc đẩy ngành mía đường hoạt động đúng hướng. Bên cạnh đó, phải sớm sửa đổi, hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách, các nghị định hướng dẫn liên quan đến đất đai nhằm tạo điều kiện khuyến khích quá trình tích tụ ruộng đất, làm tiền đề xây dựng cánh đồng lớn hướng đến nâng cao hiệu quả sản xuất, chế biến và tăng thu nhập cho bà con nông dân.

NNVN

Tin tham khảo