Mía đường 2/2019 - Giá đường nội địa có xu hướng vững giá dao động ở mức 10,300-10,600 đ/kg

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Mía đường 2/2019 - Giá đường nội địa có xu hướng vững giá dao động ở mức 10,300-10,600 đ/kg

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG ĐƯỜNG THÁNG 2/2019

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Tháng 2, giá đường nội địa có xu hướng vững giá dao động ở mức 10,300-10,600 đ/kg. Giao dịch chậm, nhỏ lẻ, sức mua yếu, nhu cầu tiêu thụ chưa nhiều.

Lượng đường Thái Lan vào Việt Nam đã có hàng trở lại và giữ mức giá thấp. Giao dịch đường với Trung Quốc tại khu vực Phía Bắc ít, nhỏ lẻ, biên mậu đóng cửa.

Một số khách hàng sản xuất bánh kẹo chỉ mới bắt đầu hoạt động trở lại. Giá đường bán buôn nhà máy Casuco tăng nhẹ.

Ngày 1/2/2019, Bộ Công Thương ban hành Công văn số 121/XNK-TLH về việc Bộ Thương mại Indonesia cấp phép nhập khẩu 1,8 triệu tấn đường thô.

Nhập khẩu đường chính ngạch của Việt Nam trong tháng 1/2019 đạt mức 0.12 triệu USD, chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan (68%).

Tuy An – Phú Yên: Hơn 315ha mía bị bệnh đốm vàng trên lá. Tây Ninh: Đầu năm, người trồng mía gặp phải nhiều thua lỗ. Tân Kỳ - Nghệ An: Khởi động chuỗi liên kết cây mía đường. Quảng Ngãi: Mía cháy khô đồng, nhà nông điêu đứng. Tuyên Quang: Nông dân nếm trải vụ mía đắng

Triển vọng: Các nhà máy đường chào bán nhiều hơn đường vụ mới và giảm giá bán đường 50-100 đ/kg để giảm lượng đường trong kho. Ưu tiên những lô hàng lớn. Giao dịch ít, sức mua chưa tăng.

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

  • Reuters cho biết giá đường có thể tăng khi thị trường toàn cầu đang thâm hụt lớn
  • Ấn Độ tăng giá bán tối thiểu của đường lên 31 Rupee/kg
  • Sản lượng đường ở Ấn Độ, một trong các nước sản xuất đường hàng đầu thế giới có thể sẽ giảm xuống mức thấp
  • Lào dự kiến năm 2019 xuất khẩu 100 ngàn tấn đường sang Trung Quốc
  • Quốc gia châu Phi sử dụng mía để sản xuất một phần tư sản lượng điện đáp ứng nhu cầu của mình
  • Ethanol của Tập đoàn Mitr Phol thách thức ASEAN và mở rộng dây chuyền sản xuất sang các ngành công nghiệp dược phẩm và hóa chất
  • Đường tinh luyện rẻ hơn ở Sarawak sau khi các nhà sản xuất F&B được cho phép nhập khẩu đường thô
  • Dự báo thặng dư đường toàn cầu năm 2018/19 được điều chỉnh giảm xuống: ISO
  • Giá đường đã làm thay đổi cục diện bầu cử của Indonesia như thế nào

 

1. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Tháng 2, giá đường nội địa có xu hướng vững giá dao động ở mức 10,300-10,600 đ/kg. Giao dịch chậm, nhỏ lẻ, sức mua yếu, nhu cầu tiêu thụ chưa nhiều.

Thông tin tại cửa khẩu Tây Nam cho biết, đường Thái đã quay trở lại và đang chào bán ở mức giá thấp < 10,000 đ/kg. Giao dịch lai rai. Trong khi đó, tại khu vực phía Bắc, biên mậu đóng cửa, giao dịch đường khó khăn. Nhu cầu của khách hàng có nhưng chưa chốt được giao dịch.

Một số khách hàng sản xuất bánh kẹo chỉ mới bắt đầu hoạt động trở lại. Ngày 21/2/2019, nhà máy đường Miền Tây thông báo công văn số 11/TB.MĐ về việc Điều chỉnh tăng giá bán buôn đường thành phẩm vụ 2018-2019 đối với đơn hàng cụ thể trên 10 tấn, bao 50kg.

Ngày 1/2/2019, Bộ Công Thương ban hành Công văn số 121/XNK-TLH về việc Bộ Thương mại Indonesia cấp phép nhập khẩu 1,8 triệu tấn đường thô để đáp ứng nhu cầu cho ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống trong nước. Việc cấp phép nhập khẩu đường thô sẽ được giao cho 11 công ty thành viên của Hiệp hội đường tinh chế Indonesia – The Indonesian Refined Sugar Association (AGRI). HHMĐVN thông báo đến các công ty/nhà máy đường biết và tìm hiểu tham gia xuất khẩu đường, có thể liên hệ trực tiếp với Thương vụ Việt Nam tại Indonesia.

 

Nhập khẩu đường chính ngạch của Việt Nam trong tháng 1/2019 đạt mức 0.12 triệu USD, chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan (68%)

Tuy An – Phú Yên: Hơn 315ha mía bị bệnh đốm vàng trên lá. Tây Ninh: Đầu năm, người trồng mía gặp phải nhiều thua lỗ. Tân Kỳ - Nghệ An: Khởi động chuỗi liên kết cây mía đường. Quảng Ngãi: Mía cháy khô đồng, nhà nông điêu đứng. Tuyên Quang: Nông dân nếm trải vụ mía đắng

 

Niên vụ 2018/19:

Đến nay, toàn bộ 36 nhà máy đường đã vào vụ ép (NMĐ Bến Tre không có kế hoạch sản xuất vụ này). Một số NMĐ sau Tết Nguyên Đán mới ép trở lại (Sóc Trăng – 12/2; Đăk Lawk – 15/2). NMĐ Nước Trong đã kết thúc vụ ép ngày 16/12/2018. Kết quả sản xuất: Lũy kế đến ngày 15/2/2019: Các nhà máy đã ép được 4.9 triệu tấn mía, sản xuất được 449 ngàn tấn đường. Đường sản xuất từ đường thô nhập khẩu là 133 ngàn tấn.

Triển vọng: Các nhà máy đường chào bán nhiều hơn đường vụ mới và giảm giá bán đường 50-100 đ/kg để giảm lượng đường trong kho. Ưu tiên những lô hàng lớn. Giao dịch ít, sức mua chưa tăng.

 

2. THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Trong tháng 2, giá đường thô thế giới có xu hướng dao động nhẹ trong cả tháng (không biến động nhiều). Cuối tháng 2, giá đường thô thế giới giao kỳ hạn tháng 03/2019 ở mức 12,73 cen/lb (so với đầu tháng là 12,68 cent/lb), kỳ hạn tháng 5 ở mức 12,78 cent/lb (đầu tháng ở mức 12,49). Giá đường trắng cũng diễn biến tương tự, ngày 28/2 kỳ hạn tháng 5/2019 ở mức 348 USD/tấn (tăng nhẹ so với mức đầu tháng là 343 USD/tấn).

Các hợp đồng đường trắng trên sàn ZCE xu hướng TĂNG MẠNH trong tháng 2/2019. Giá đường kỳ hạn 3/2019 trên sàn ZCE đầu tháng 2 ở mức 5065 NDT/tấn, giai đoạn giữa tháng có thời điểm giá đường sụt giảm xuống mức 4985 NDT/tấn nhưng sau đó lại liên tiếp tăng mạnh để kết thúc tháng 2 ở mức 5120 NDT/tấn (tăng 55 NDT/tấn so với hồi đầu tháng).

 

Reuters cho biết giá đường có thể tăng khi thị trường toàn cầu đang thâm hụt lớn: Thị trường đường thế giới đã chuyển sang tình trạng thâm hụt 1,9 triệu tấn trong niên vụ 2019-2020 so với thặng dư 2,55 triệu vào 2018-2019. Sự thay đổi một phần được nhận ra bởi dự báo sản lượng của Ấn Độ giảm xuống 29,5 triệu tấn trong năm 2019-2020 từ 32 triệu tấn trong niên vụ 2018-2019.

 

Ấn Độ tăng giá bán tối thiểu của đường lên 31 Rupee/kg: Theo Hiệp hội các nhà máy đường Ấn Độ, với việc sản xuất đường của Ấn Độ dự kiến sẽ vượt qua mức tiêu thụ trong niên vụ 2018/2019, các nhà máy đang phải đối mặt với dự trữ đường tăng dẫn đến áp lực giảm giá đường và nợ mía tăng. Các khoản nợ mía đã ở mức 200 tỷ Rupee (2,8 tỷ USD) trong tháng 1, tăng mạnh so với 139 tỷ Rupee một năm trước.

Sản lượng đường ở Ấn Độ, một trong các nước sản xuất đường hàng đầu thế giới có thể sẽ giảm xuống mức thấp trong ba năm tới khi thời tiết khô hạn ở một số khu vực trồng trọt chính của khu vực phía Tây có thể ảnh hưởng tới sản xuất. Cụ thể, sản lượng nước này có thể giảm xuống dưới mức 30 triệu tấn trong niên vụ 2018/19 (bắt đầu vào ngày 1/10) so với ước tính 31,5 triệu tấn niên vụ 2017/18 theo Prakash Naiknavare, giám đốc điều hành của Liên đoàn Hợp tác xã sản xuất mía đường Quốc gia. Còn theo Hiệp hội các nhà máy đường Ấn Độ thì sản lượng nước này niên vụ 2017/18 đạt mức kỷ lục 32,5 triệu tấn.

Lào dự kiến năm 2019 xuất khẩu 100 ngàn tấn đường sang Trung Quốc: Bà Khemmani, Chủ tịch Ủy ban Hợp tác 2 nước Lào-Trung Quốc cho biết nước này đã xuất khẩu hơn 55 ngàn tấn đường sang thị trường Trung Quốc vào năm 2018, trong khi năm 2019 này dự kiến sẽ xuất khẩu thêm 100 ngàn tấn sang Trung Quốc.

 

Quốc gia châu Phi sử dụng mía để sản xuất một phần tư sản lượng điện đáp ứng nhu cầu của mình

Trong nhiều thập kỷ, nhiều quốc gia châu Phi phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch và các nguồn năng lượng không tái tạo để sản xuất điện năng. Do nguồn cung của các nguồn năng lượng này bị hạn chế nên một số quốc gia buộc phải tìm kiếm các nguồn cung thay thế nhằm đảm bảo nguồn cấp điện không bị gián đoạn. Omnicane, một trong những công ty sản xuất đường, hiện tiếp nhận hàng tấn mía tươi từ những chiếc xe tải hạng nặng kéo theo các rơmoóc khổng lồ.

Theo AFP, mía nguyên liệu được dỡ vào kho và khoảng 8.500 tấn mía mỗi ngày (900.000 tấn/năm) được chuyển đến các cơ sở năng lượng để xử lý. Ông Jacques DedomUnienville, quản lý của công ty Omnicane cho biết rằng “Theo nhu cầu, nguồn điện luôn sẵn có 24/24 mà không phải chờ có gió hay mặt trời vì chúng ta có thể trữ bã mía [thân mía] như chúng ta làm đối với dầu và than”.

Mía được ép để chiết xuất ra nước phục vụ hoạt động chế biến đường. Sau đó, mía được ngâm để chiết xuất ra tất cả nước có thể và được sấy khô trước khi ép. Phần bã khô còn lại được đốt tại các nhà máy nhiệt điện ở 500 độ C để cung cấp nhiên liệu cho các tuabin sản xuất điện cho công ty và lưới điện quốc gia.

 

Ethanol của Tập đoàn Mitr Phol thách thức ASEAN và mở rộng dây chuyền sản xuất sang các ngành công nghiệp dược phẩm và hóa chất

Nhằm ủng hộ việc sử dụng ethanol, Tập đoàn Mitr Phol sẽ nhanh chóng loại bỏ gasolhol 91 và mở rộng sản xuất ethanol đạt 410 triệu lít mỗi năm. Nắm bắt xu hướng cung vượt cầu, Tập đoàn đang thúc đẩy xuất khẩu sang các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Giám đốc Trung Tâm Ethanol của Tập đoàn Mitr Phol, ông Sakol Saeng-arun cho biết, mặc dù nhìn chung giá ethanol ở Thái Lan có xu hướng ổn định, song tiêu thụ ethanol trong nước dường như tăng lên, đặc biệt ở một số ngành công nghiệp mà Chính phủ Thái đang đẩy mạnh phát triển. Bên cạnh đó, do ethanol có thể coi như là một tiền chất giúp tăng giá trị nên Chính phủ không nên cắt giảm tỷ lệ.

Lo ngại về việc sử dụng ethanol ngày càng gia tăng ở các thị trường Thái Lan, nhất là các ngành công nghiệp mục tiêu mà Chính phủ sắp tới hướng đến đầu tư, nhà sản xuất đường lớn của Thái Lan này đang tìm kiếm các cơ hội để mở rộng và tăng cường sản xuất các sản phẩm ethanol đặc biệt cho ngành công dược phẩm và hóa chất, giúp tạo điều kiện cho các loại hình kinh doanh công nghiệp mới theo chính sách 4.0 của Thái Lan. Ngoài ra, Tập đoàn cũng vừa đề xuất các khu vực công nên sử dụng ethanol nhiều hơn thay vì sử dụng gasohol 91, có thể nâng cấp lên E20 và E85.

 

Đường tinh luyện rẻ hơn ở Sarawak sau khi các nhà sản xuất F&B được cho phép nhập khẩu đường thô

Hôm nay, Thứ trưởng Bộ Thương mại và Tiêu dùng Nội địa Chong Chieng Jen cho biết, giá đường tinh luyện dự kiến sẽ giảm tại bang này sau khi Bộ phê duyệt cấp giấy phép nhập khẩu đường thô cho một công ty sản xuất thực phẩm và đồ uống (F&B). Ông cũng cho biết, Bộ đã cấp giấy cho công ty sản xuất F&B Sarawak vào tháng 12 năm ngoái cho phép nhập khẩu đường thô trên thị trường mở, bao gồm Thái Lan, Việt Nam và Brazil.

 

Dự báo thặng dư đường toàn cầu năm 2018/19 được điều chỉnh giảm xuống: ISO

LONDON (Reuters) – Tổ chức Mía đường Quốc tế (ISO) cho biết vào hôm thứ Năm vừa qua, thặng dư đường toàn cầu dự kiến đạt 641.000 tấn trong mùa vụ 2018/19, giảm so với dự báo trước đó ở mức 2,17 triệu tấn. Cơ quan liên chính phủ cho biết, thặng dư nhỏ hơn chủ yếu do sự điều chỉnh giảm trong dự báo sản lượng đường cho Brazil and Liên minh Châu Âu mặc dù dự báo cho sản lượng của Thái Lan được điều chỉnh tăng.

Sản lượng đường toàn cầu năm 2018/19 đạt 176,68 triệu tấn, giảm so với dự báo trước đó ở mức 180,49 triệu tấn. Theo ISO, dự báo sản lượng đối với Brazil và Liên minh Châu Âu đã được điều chỉnh giảm tương ứng 1,35 triệu tấn và 800.000 tấn. Dự báo sản lượng của Thái Lan tăng thêm 800.000 tấn.

Sản lượng đường của Ấn độ được dự báo là không thay đổi ở mức 32 triệu tấn. Tuy nhiên, ISO cho rằng “nếu dự đoán của chúng tôi chứng tỏ sự lạc quan quá mức, sự sụt giảm sản lượng đường thực tế của Ấn Độ có thể gây ra những ảnh hưởng đáng kể cho bức tranh toàn cầu.” Tiêu thụ toàn cầu năm 2018/19 đạt 178,04 triệu tấn, tăng 1,63% so với mùa vụ trước đó, nhưng vẫn thấp hơn 1,67% so với mức trung bình 10 năm. Đánh giá của ISO cho thấy cung-cầu cân bằng mặc dù tồn kho vẫn ở mức cao.

 

Giá đường đã làm thay đổi cục diện bầu cử của Indonesia như thế nào

Vào tháng 12 năm 2018, một phái đoàn từ Ấn Độ đã đến Jakarta để thảo luận về việc bán đường thô cho Indonesia. Cuộc đàm phán diễn ra sau khi Tổng thống Joko Widodo ra thông báo nâng hạn ngạch nhập khẩu đường của Indonesia để bình ổn giá vào tháng trước.

Việc giữ giá thực phẩm ở mức thấp là rất quan trọng để giành được sự ủng hộ của cử tri trước thềm cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào tháng Tư mà trong đó ai cũng biết là tổng thống đương nhiệm hi vọng sẽ tiếp tục đắc cử nhiệm kỳ thứ hai. Trái lại, nông dân trồng mía của nước này lại đồng lòng muốn tăng giá bán tại thị trường nội địa. Việc làm họ thất vọng sẽ gây trở ngại lớn cho chiến dịch tranh cử và đối thủ chính của ông Widodo - Prabowo Subianto sẽ khai thác điểm yếu này. Cựu đại tướng cũng đã công bố những ý tưởng lớn nhằm giúp Indonesia trở nên thịnh vượng hơn, bao gồm cả việc đạt được mục tiêu tự cung tự cấp về thực phẩm và năng lượng.

“Đây là một cuộc chiến cân sức”, Siwage Negara, thành viên cao cấp tại Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore nhận định. "Chính phủ muốn bảo đảm lợi ích của cả người tiêu dùng và nhà sản xuất. Sự phức tạp là khi nào yếu tố chính trị sẽ phát huy được vai trò của mình. Lạm phát giá các mặt hàng thực phẩm chính là yếu tố quyết định trong nỗ lực tái đắc cử của ông Widodo. Indonesia hiện là quốc gia nhập khẩu đường đứng thứ hai thế giới chỉ sau Trung Quốc, một số còn cho rằng Indonesia giữ vị trí số 1. Việc tăng hạn ngạch nhập khẩu sẽ đáp ứng nhu cầu đang gia tăng của người tiêu dùng. Theo ông Widodo, nền kinh tế Indonesia đã liên tục tăng trưởng ở tốc độ 5%/năm, cùng với đó là nhu cầu gia tăng đối với thực phẩm chế biến sẵn.

Để đáp ứng được nhu cầu nêu trên, nhập khẩu đường đã tăng gấp đôi trong 10 vừa qua năm. Năm ngoái, dưới một nửa lượng đường tiêu thụ tại Indonesia được sản xuất trong nước trong khi Thái Lan cung cấp 94% lượng đường thô nhập khẩu. Dữ liệu từ Cơ quan Hậu cần quốc gia Indonesia (Bulog) chỉ ra rằng quyết định cho phép nâng hạn ngạch nhập khẩu đường đã giúp bình ổn giá đường ở mức khoảng 1 USD/kg. Tuy nhiên, đối thủ chính trị của ông Widodo đã lợi dụng điều này như bằng chứng để chứng tỏ rằng quyết định của ông Widodo ưu tiên người tiêu dùng hơn và hi sinh lợi ích của nông dân. Quan trọng hơn, họ nhấn mạnh rằng điều này sẽ khiến cho Indonesia không thể đạt được mục tiêu tự cung tự cấp về lương thực. Kể từ khi độc lập, mục tiêu tự cung tự cấp – và thất bại – luôn là một đề tài chính trị nóng bỏng, đặc biệt là trong những năm bầu cử.

Từng là nền tảng của nền nông nghiệp quốc gia, ngành sản xuất đường nội địa Indonesia đã suy yếu qua nhiều thập kỷ. Hiện tại, chỉ có 63 nhà máy đường vẫn còn hoạt động, tất cả đều do các doanh nghiệp nhà nước quản lý, 11 nhà máy trong số đó đã được hiện đại hóa để chế biến một khối lượng lớn đường thô nhập khẩu. Có 40 nhà máy đã trên 100 năm tuổi - di tích của chính quyền thực dân Hà Lan trước khi Indonesia độc lập. Vào năm 2012, Bộ Công nghiệp đã nỗ lực hồi sinh ngành này bằng cách hỗ trợ tài chính ưu đãi cho các nhà máy nâng cấp máy móc, nhưng ít doanh nghiệp sẵn sàng tạm dừng sản xuất để tiến hành các cải tiến.

Chính phủ cũng đã thiết lập mức giá đường tối thiểu để đảm bảo một biện pháp an ninh cho các nhà sản xuất trong nước, tuy nhiên nông dân lại đòi tăng giá tối thiểu. Theo Bloomberg, các nhà sản xuất trong nước đã phát sinh một khoản lỗ ước tính là 137 triệu USD do giá đường giảm trong năm qua.

 

Diễn biến giá đường thô và đường trắng trên sàn NewYork và London theo tuần, cập nhật đến 13/3/2019 (USD/tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

3. PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Kim ngạch nhập khẩu đường của Việt Nam theo tháng, giai đoạn 2018 – 2019 (ngàn USD)

Nguồn: Tổng hợp từ Số liệu TCHQ

 

Kim ngạch nhập khẩu đường Việt Nam theo tháng qua các năm (ngàn USD)

Tháng/Năm

2015

2016

2017

2018

2019

1

1,500.3

2,346.4

1,092.1

67.9

125.3

2

907.5

1,762.4

1,483.6

60.6

 

3

914.0

4,155.3

1,981.2

0.0

 

4

1,706.0

1,604.0

1,253.1

108.8

 

5

864.9

2,460.6

2,345.6

128.3

 

6

3,225.1

1,915.9

2,078.8

128.9

 

7

2,537.5

4,152.6

2,389.2

99.7

 

8

3,998.6

8,474.7

1,670.4

124.3

 

9

2,582.8

8,674.8

1,799.6

94.5

 

10

2,835.3

8,824.0

3,969.4

121.9

 

11

4,183.6

7,797.5

5,849.6

96.9

 

12

5,824.2

11,830.9

7,977.6

263.5

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

Các thị trường nhập khẩu đường của Việt Nam theo kim ngạch tháng 1/2019

Thị trường

Trị giá (USD)

Tỷ trọng (%)

Thái Lan

84,600

68%

Hàn Quốc

32,072

26%

Đài Loan

6,413

5%

Trung Quốc

801

1%

Khác

1,398

1%

Tổng

125,284

100%

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

Lượng nhập khẩu đường của Trung Quốc theo tháng 2015-2019 (nghìn tấn)

Tháng/Năm

2015

2016

2017

2018

2019

1

385.4

290.0

409.7

30.9

130.0

2

123.9

107.2

182.5

20.0

 

3

490.5

209.6

300.0

380.0

 

4

550.5

225.3

190.0

470.0

 

5

522.9

135.5

186.8

200.0

 

6

239.7

369.2

140.0

280.0

 

7

485.0

419.3

60.0

250.0

 

8

275.7

360.3

200.0

150.0

 

9

656.2

497.50

160.0

190.0

 

10

356.1

110.0

169.0

340.0

 

11

260.0

140.0

170.0

340.0

 

12

504.1

216.5

130.0

170.0

 

Cả năm

4849.9

3080.4

2297.9

280.0

130.0

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp