Hồ tiêu 4/2019 – Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 4/2019 gần như không thay đổi, giữ ổn định suốt hơn 1 tháng với mức giao dịch phổ biến 43,000-45,000 đ/kg
 

Hồ tiêu 4/2019 – Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 4/2019 gần như không thay đổi, giữ ổn định suốt hơn 1 tháng với mức giao dịch phổ biến 43,000-45,000 đ/kg

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 4/2019

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  • Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 4/2019 gần như không thay đổi, giữ ổn định suốt hơn 1 tháng với mức giao dịch phổ biến 43,000-45,000 đ/kg. So với tháng 3, giá giảm 500-1,000 đ/kg. (cuối tháng trước ở mức 43,500-46,000 đ/kg)
  • Lượng tiêu tồn kho trong dân và đại lý còn nhiều, người dân tâm lý găm hàng chờ giá lên. Chỉ những hộ nào cần tiền chi trả chi phí sản xuất và ngân hàng mới bán ra lượng ít một, còn lại vẫn hy vọng giá nhích lên mới bán.
  • Cập nhật đến 14/5, các tỉnh Tây Nguyên đã thu hoạch dứt điểm vụ tiêu năm 2019. Thời tiết Tây Nguyên nắng nóng giúp việc phơi sấy hạt tiêu thuận lợi.
  • Theo nhiều nhận định của thương lái, các doanh nghiệp thì trong thời gian tới giá tiêu cũng chưa có gì khởi sắc, tiếp tục đi ngang và có thể giảm nhẹ do một số nước sản xuất lớn bắt đầu thu hoạch, nguồn cung được bổ sung.
  • Giá tiêu xuất khẩu tháng 4/2019 duy trì ổn định trong tháng, cùng chiều với giá nội địa. Cuối tháng giá tiêu đen 500 g/l ở mức 2,150 USD/tấn. Giá chào bán tiêu trắng 630 g/l ở mức 3,450 USD/tấn
  • Cập nhật 14/5 giá tiêu nội địa các tỉnh Tây Nguyên giao dịch quanh mức: 43,000-44,000 đ/kg. Trong đó thấp nhất tại Đồng Nai 43,000 đ/kg, cao nhất tại Vũng Tàu với 45,000 đ/kg
  • Xuất khẩu tháng 4/2019: 37,3 ngàn tấn hồ tiêu các loại, trị giá 94 triệu USD, tăng 5,8% về lượng và 5,2 % về trị giá so với tháng 3. Lũy kế từ đầu năm, XK được 108 ngàn tấn, tổng kim ngạch đạt 284 triệu USD, tăng 24,8 % về lượng, giảm 7,5 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
  • Top 3 Thị trường nhập khẩu hàng đầu: Trung Quốc (13.263 tấn, tăng 6.334 tấn so cùng kỳ). Mỹ (13.043 tấn, tăng 2.647 tấn) và Ấn Độ (7.641 tấn, tăng 464 tấn)
  • Các thị trường nhập khẩu tiêu trắng hàng đầu: Trung Quốc: 1472 tấn; Đức: 1.022 tấn; Mỹ: 725 tấn; Hà Lan 718 tấn; Thái Lan: 443 tấn.
  • Triển vọng tháng 5/2019: Thị trường hồ tiêu tiếp tục duy trì trạng thái ổn định về giá. Theo nhiều nhận định của thương lái, các doanh nghiệp thì trong thời gian tới giá tiêu cũng chưa có gì khởi sắc hơn, tiếp tục đi ngang và có thể giảm nhẹ do một số nước sản xuất lớn bắt đầu thu hoạch, nguồn cung được bổ sung.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

  • Giá hồ tiêu thế giới tháng 4 biến động trái chiều, xu hướng tăng so với tháng 3/2019
  • Theo dự báo của IPC, sản lượng hồ tiêu thế giới năm 2019 tiếp tục tăng so với 2018.
  • Giá hồ tiêu Ấn Độ tăng 20 rupee/kg sau vụ đánh bom ở Sri Lanka. Giá tiêu dự kiến sẽ tăng hơn nữa, do việc nhập khẩu từ Sri Lanka có thể sẽ chậm lại.
  • IPC dự báo sản lượng hồ tiêu Indonesia 2019 đạt 65 ngàn tấn, đứng thứ 3 trên thế giới. Sản lượng hồ tiêu Trung Quốc sụt giảm.
  • Nhập khẩu tiêu Nam Phi 2 tháng đầu năm 2019 giảm 20% về lượng so với cùng kỳ 2018. Tổng lượng nhập là 501 tấn, trong đó bao gồm 341 tấn tiêu hạt và 160 tấn tiêu xay.

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 4/2019 gần như không thay đổi, giữ ổn định suốt hơn 1 tháng với mức giao dịch phổ biến 43,000-45,000 đ/kg. So với tháng 3, giá giảm 500-1,000 đ/kg. (cuối tháng trước ở mức 43,500-46,000 đ/kg)

Tháng 4/2019 giá hồ tiêu đóng băng, gần như không đổi trong suốt hơn 1 tháng. Nguồn cung nhiều do các tỉnh Tây Nguyên vừa xong vụ thu hoạch là một trong những yếu tố làm giá giữ nguyên trong tháng và có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước. Cuối tháng giá tiêu đen xô ở mức 43,000-45,000 đ/kg tại các tỉnh Tây Nguyên, Vũng Tàu là địa bàn có giá tiêu cao nhất cũng chỉ ở mức 46,000 đ/kg.

Theo thông tin trao đổi với các thương lái thu mua và các đại lý, lượng tiêu người dân giữ lại vẫn còn nhiều với hy vọng chờ giá lên. Chỉ những hộ nào cần tiền chi trả chi phí sản xuất và ngân hàng mới bán ra lượng ít một, còn lại vẫn hy vọng giá nhích lên mới bán. Trung bình 1 ngày thương lái nhỏ gom được 3-5 tấn hồ tiêu/ngày. Các đại lý lớn thu mua từ các vùng nguyên liệu và thương lái lượng có thể lên tới 10-20 tấn.

Xu hướng giá hạt tiêu trong tháng 4/2019 và đầu tháng 5/2019, ngàn đồng/kg

Địa Phương

Tuần 28/3-3/4

Tuần 11/4-17/4

Tuần 18/4-24/4

Tuần 2/5-8/5

Tuần 9/5-15/5

Đắk Lắk

45

45

45

45

45

Đắk Nông

44,5

44,5

44,5

44,5

44,5

Phú Yên

45

45

45

45

45

Gia Lai

44-44,5

44

44

44

44

Bà Rịa – VT

46

46

46

46

46

Bình Phước

44,5

44,5

44,5

44,5

44,5

Đồng Nai

43,5-44

43

43

43

43

 

Cập nhật sản xuất:

Tính đến thời điểm hiện tại, người dân Tây Nguyên đã thu hoạch dứt điểm vụ tiêu năm nay. Thời tiết Tây Nguyên nắng nóng giúp việc phơi sấy hạt tiêu thuận lợi. Người dân chuẩn bị tỉa lá bón phân để bắt đầu cho vụ tiêu mới. Tuy nhiên, một số thông tin trao đổi với người dân và đại lý, rất nhiều hộ dân tâm lý chán nản không muốn duy trì vườn tiêu do giá quá thấp, giá bán không đủ bù những chi phí sản xuất như: phân bón tưới tiêu và tiền thuê nhân công. Số khác đã chuyển sang hình thức xen canh các loại cây ăn quả và cà phê vào vườn tiêu với hy vọng cây nọ bù đắp cây kia. Nhưng cũng có một bộ phận nông dân bỏ vườn, đi nơi khác làm ăn.

 

Rớt giá trầm trọng, nhà nông chặt bỏ cây hồ tiêu, cà phê chuyển sang trồng cây ăn quả

Kết thúc vụ thu hoạch tiêu, cà phê và điều năm nay tại nhiều địa phương trong tỉnh Đồng Nai, nông dân tiếp tục chặt bỏ 3 loại cây trồng này trên diện tích lớn. Nguyên nhân là do vài năm gần đây, các loại cây công nghiệp nói trên xuống giá trầm trọng, nông dân lỗ vốn.

Bà con cho biết, sở dĩ họ chặt bỏ những cây công nghiệp là để chuyển sang trồng cây ăn trái, trong khi việc tiêu thụ trái cây cũng chủ yếu là bán trái tươi tại thị trường nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo ông Hoàng Văn Lập (xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom), vừa kết thúc vụ thu hoạch nông dân tại địa phương đã chặt bỏ cây tiêu vì càng để càng thua lỗ. Thời điểm này, giá chuối xuất khẩu đang bán được ở mức cao nên nhà nhà đua nhau trồng chuối.

Rủi ro lớn do sản xuất manh mún

Ông Nguyễn Hữu Đạt, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam so sánh: “Diện tích nhóm 10 loại trái cây chủ lực xuất khẩu mạnh của Việt Nam gồm: thanh long, chuối, xoài, bưởi, sầu riêng... đang tăng nhanh. Theo kế hoạch đến năm 2020, tổng diện tích của các loại trái cây trên sẽ tăng lên 810 ngàn hécta và đạt 1,2 triệu hécta vào năm 2030. Nhưng hiện giá trị xuất khẩu rau quả Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1% thị phần nhập khẩu rau quả thế giới. Nếu Việt Nam không khai thác tốt tiềm năng lớn của thị trường xuất khẩu thì ngành rau quả sẽ đối mặt với cơn khủng hoảng thừa”.    

Như vậy, việc nông dân chạy theo phong trào đua nhau tăng nhanh diện tích các loại trái cây xuất khẩu mà thiếu định hình cụ thể về kênh tiêu thụ sẽ mang lại nhiều rủi ro về thị trường như đang xảy ra cơn khủng hoảng thừa ở cây tiêu. http://peppervietnam.com/rot-gia-tram-trong-nha-nong-chat-bo-cay-tien-ti-ho-tieu-ca-phe/

 

Giá tiêu sẽ không khởi sắc trong năm 2019

Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch VPA, bức tranh rõ nhất của thị trường hồ tiêu Việt Nam suốt năm 2018 là sự duy trì giá thấp kỷ lục trong vòng 5 năm trở lại đây dù thị trường vẫn sôi động. Đầu vụ thu hoạch (tháng 3/2018), giá tiêu đen tại các địa phương xuống mức 55 - 60 nghìn đồng/kg. Giữa năm 2018, có thời điểm bật lên 60 nghìn đồng/kg nhưng lại giảm còn quanh mức 50 nghìn đồng/kg thời điểm cuối năm. Hiện giá tiêu ở các vùng nguyên liệu dao động từ 43 – 44 nghìn đồng/kg.

Giá biến động khó lường khiến cả chuỗi cung ứng hồ tiêu năm 2018 nhiều bất ổn, thương lái, nhà cung ứng nguyên liệu cho doanh nghiệp xuất khẩu không dám giao dịch mạnh. Có nhiều thời điểm trong năm nông dân thấy giá tiêu quá thấp đã giảm bán ra khiến doanh nghiệp phải nhập tiêu từ Campuchia, Brazil, Indonesia khi giá các nước đó thấp hơn trong nước, chất lượng lại ổn định hơn

Dự báo, sản lượng tiêu thế giới trong 2019 sẽ tăng khoảng 8,27% đạt 602 ngàn tấn, và Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu về sản lượng sản xuất, khoảng 250.000 tấn và lượng xuất khẩu ước 235 ngàn tấn.

Thời gian qua giá tiêu giảm mạnh nên một số nước như Sri Lanka, Indonesia bắt đầu giảm diện tích, Việt Nam cũng đang giảm. Nếu các nước đều giảm thì tình hình hồ tiêu thế giới sẽ có thay đổi trong thời gian tới. Nhưng trong năm 2019, nông dân vẫn tiếp tục chịu đựng giá thấp như hiện nay.

http://vneconomy.vn/gia-tieu-se-khong-khoi-sac-trong-nam-2019-20190513091551022.htm

 

Triển vọng tháng 5/2019:

Bước sang đầu tháng 5, thị trường hồ tiêu tiếp tục duy trì trạng thái ổn định về giá. Theo nhiều nhận định của thương lái, các doanh nghiệp thì trong thời gian tới giá tiêu cũng chưa có gì khởi sắc hơn, tiếp tục đi ngang và có thể giảm nhẹ do một số nước sản xuất lớn bắt đầu thu hoạch, nguồn cung được bổ sung.

Cập nhật đến 14/5, các tỉnh Tây Nguyên đã thu hoạch dứt điểm vụ tiêu năm 2019. Giá tiêu đen xô thu mua tại vườn ở các Tỉnh Tây Nguyên biến động giảm sau thời gian dài ổn định. Giá tiêu thấp nhất tại Đồng Nai vẫn ở mức 43,000 đ/kg. Tại Đắc Lắk giá tiêu giảm 1,000 đ/kg xuống mức 44,000 đ/kg. Đắc Nông, Bình Phước giảm 500 đ/kg xuống mức 44,000 đ/kg.

Cuối tuần trước (10/5), Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam tổ chức Hội nghị thường niên Hồ tiêu 2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại hội nghị, đại diện các doanh nghiệp đều nhận định giá hồ tiêu năm 2019 vẫn chưa có gì khởi sắc và khả năng vẫn đi xuống do sản lượng tiêu thế giới và Việt Nam tiếp tục tăng.

Theo nhận định từ Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế, năm 2019 sản lượng hồ tiêu thế giới sẽ tiếp tục tăng, dự kiến đạt khoảng 602.000 tấn, tăng 8,27%, trong đó Brazil tăng 28%, Campuchia tăng 17%. Riêng Việt Nam dự báo sản lượng đạt 240.000 tấn, tăng khoảng 9% do diện tích trồng mới từ năm 2014-2016 bắt đầu cho thu hoạch nên giá cả vẫn có khả năng đi xuống.

Giải pháp cho tình trạng này theo các doanh nghiệp hồ tiêu, không còn cách nào khác phải liên kết với nhau, đồng thời liên kết với nông dân để tạo ra vùng sản xuất hồ tiêu sạch, thậm chí phải sản xuất hữu cơ để xuất khẩu với giá cao.

Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực chế biến, gắn liền với phát triển thị trường; tổ chức sản xuất hồ tiêu an toàn, bền vững; tăng cường kiểm soát chất lượng, nguyên liệu đầu vào. Kiểm soát chặt chẽ quá trình chế biến, bảo quản; đổi mới công nghệ sản xuất, nâng tỉ lệ tiêu trắng xuất khẩu lên 30%-40%, đa dạng hóa sản phẩm (tiêu hữu cơ, tiêu đỏ, tiêu xay, nhựa hồ tiêu)...http://cafef.vn/ho-tieu-chiu-ap-luc-giam-gia-lon-20190511070154336.chn

Diễn biến giá thu mua tiêu đen xô tại Gia Lai, Vũng Tàu và giá chào mua của doanh nghiệp theo ngày, giai đoạn 2017-2019 (ngàn đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

THƯƠNG MẠI - XUẤT KHẨU

Giá tiêu xuất khẩu tháng 4/2019 duy trì ổn định trong tháng, cùng chiều với giá nội địa

Tháng 4, giá xuất khẩu tiêu các loại đi ngang, không đổi. Tuy nhiên so với tháng 3/2019 giá xuất khẩu có xu hướng giảm do nguồn cung được bổ sung từ các nước sản xuất lớn như Việt Nam, Ấn Độ. Cuối tháng giá tiêu đen 500 g/l ở mức 2,150 USD/tấn (giảm nhẹ 25 USD/tấn so với mức giá cuối tháng trước), tiêu đen 550 g/l  2,250 USD/tấn. Giá chào bán Giá tiêu trắng 630 g/l cũng giảm về mức 3,450 USD/tấn (cuối tháng trước 3,475 USD/tấn)

Diễn biến giá xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam theo tuần, FOB/HCM, 2018- 2019,  USD/tấn

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

Trong tháng 4, Việt Nam xuất khẩu được 37,3 ngàn tấn hồ tiêu các loại, trị giá 94 triệu USD, tăng 5,8% về lượng và 5,2 % về trị giá so với tháng 3. Đây là mức xuất khẩu cao nhất trong năm nay, vượt qua tháng 3 với 35,3 ngàn tấn. Nguyên nhân được cho là thời điểm tháng 4 nguồn cung nhiều do cao điểm vụ thu hoạch, thêm vào đó, giá tiêu Việt Nam rẻ hơn rất nhiều so với các nước khác là lợi thế cạnh tranh giúp cho lượng xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam liên tục tăng thời gian vừa qua.

Lũy kế từ đầu năm Việt Nam xuất khẩu được 108 ngàn tấn, tổng kim ngạch đạt 284 triệu USD, tăng 24,8 % về lượng nhưng lại giảm 7,5 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Top 20 Doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu từ Việt Nam tháng 3/2019 theo lượng (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

Lượng và kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2017-2019

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

 

Thị trường nhập khẩu:

3 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc vươn lên trở thành quốc gia nhập khẩu Hồ tiêu lớn nhất từ Việt Nam đạt 13.263 tấn, tăng 6.334 tấn so cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ đạt 13.043 tấn, tăng 2.647 tấn, Ấn Độ – thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 đạt 7.641 tấn, tăng 464 tấn.

Tính chung khu vực châu Mỹ, lượng nhập khẩu tăng 2.614 tấn và chủ yếu từ Mỹ. Tại châu Âu, Ireland là quốc gia có lượng tăng đột biến, đạt 1.685 tấn, tăng 1.092 tấn so cùng kỳ. Một số quốc gia khác cũng có lượng nhập khẩu tăng như Thổ Nhĩ Kỳ tăng 236 tấn, Hà Lan tăng 212 tấn, Anh tăng 195 tấn. Một số quốc gia giảm nhập khẩu như Tây Ban Nha giảm 302 tấn, Ukraina giảm 171 tấn, Hy Lạp giảm 110 tấn, Đức giảm nhẹ 49 tấn nhưng vẫn là quốc gia nhập khẩu lớn nhất tại châu Âu đạt 1.993 tấn.

Ở châu Á, ngoài Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn thì Philippine (+790 tấn), Hàn Quốc (+700 tấn), United Arab (+349 tấn), Iran (+361 tấn), Yemen (+222 tấn) cũng là các thị trường có lượng nhập khẩu tăng. Myanmar, Saudi Arab, Syria, Banglades, Kuwait là các quốc gia có lượng nhập khẩu giảm.

Khu vực châu Phi có lượng nhập khẩu tăng nhẹ từ 4.646 tấn năm 2018 lên 5.024 tấn năm 2019, trong đó tăng chủ yếu đến từ Senegal tăng 258 tấn, Gambia tăng 199 tấn, Mauritania tăng 196 tấn. Lượng nhập khẩu giảm ở Ma Rốc, Tunisia và Mali.

Các thị trường nhập khẩu tiêu trắng hàng đầu: Trung Quốc: 1472 tấn; Đức: 1.022 tấn; Mỹ: 725 tấn; Hà Lan 718 tấn; Thái Lan: 443 tấn.

Top 20 thị trường nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam tháng 3/2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá hồ tiêu thế giới tháng 4 biến động trái chiều, xu hướng tăng so với tháng 3/2019

Những ngày đầu tháng 4, thị trường hồ tiêu thế giới biến động trái chiều. Giao dịch nội địa của tiêu đen Ấn Độ có chiều hướng tích cực với mức tăng 1% so với trước đó ở mức 4.795 USD/tấn. Trong khi đó, cả tiêu đen Lampung và tiêu trắng Muntok đều được giao dịch ổn định với mức trung bình lần lượt là 2.112 USD/tấn và 3.556 USD/tấn.

Tuần cuối tháng 4, giá tiêu tiếp tục có những biến động phức tạp khi Indonesia và Sri Lanka giảm, tại Ấn Độ giá tiêu liên tiếp tăng. Trong khi đó thị trường Mỹ vẫn ổn định và không thay đổi khi giá giao ngay Muntok được báo cáo ở mức 5.072 USD/tấn.

Diễn biến giá tiêu Ấn Độ trên sàn NCDEX theo ngày, 2017-2019, rupee/tạ

AgroMonitor tổng hợp

 

Theo dự báo của IPC, sản lượng hồ tiêu thế giới năm 2019 tiếp tục tăng so với 2018.

Sản lượng - Xuất khẩu Hồ tiêu các nước sản xuất chính trên thế giới

đơn vị: tấn

Quốc gia

Sản lượng 2018

Sản lượng 2019

Xuất khẩu 2019

Tiêu đen

Tiêu trắng

Tổng

Tiêu đen

Tiêu trắng

Tổng

Việt Nam

230.000

220.000

30.000

250.000

210.000

25.000

235.000

Brazil

70.500

85.000

5.000

90.000

55.000

2.600

57.600

Indonesia

65.000

25.000

40.000

65.000

12.000

25.000

37.000

Ấn Độ

68.500

53.500

1.500

55.000

16.000

1.000

17.000

Trung Quốc

35.000

1.000

32.000

33.000

 

1.000

1.000

Campuchia

30.000

35.000

 

35.000

30.000

 

30.000

Sri Lanka

18.150

17.300

700

18.000

19.500

700

20.200

Malaysia

24.000

17.872

6.128

24.000

11.200

2.800

14.000

Khác

15.000

22.000

10.000

32.000

5.700

 

5.700

Tổng cộng

556.150

476.672

125.328

602.000

359.400

58.100

417.500

 Nguồn: VPA

 

 

Giá hồ tiêu Ấn Độ tăng 20 rupee/kg sau vụ đánh bom ở Sri Lanka

Sau vụ đánh bom liên hoàn ở Sri Lanka vào ngày 21/4, giá hồ tiêu ở Ấn Độ đã tăng khoảng 20 rupee/kg lên 320 rupee/kg. Giá tiêu dự kiến sẽ tăng hơn nữa, do việc nhập khẩu từ Sri Lanka có thể sẽ chậm lại.

Theo những người trồng tiêu Ấn Độ, giá hồ tiêu đã giảm từ mức 400 rupee vào năm 2018 xuống mức 300 rupee vào năm 2019. Trong 5 năm qua, mức giá cao nhất là vào năm 2015 khi giá đạt khoảng 700 rupee/kg. Sau đó giá bắt đầu giảm do Ấn Độ nhập khẩu tiêu Việt Nam thông qua Sri Lanka.

Nhập khẩu hạt tiêu từ Sri Lanka chỉ phải chịu mức thuế 8% theo Hiệp định thương mại tự do Nam Á (SAFTA) và Sri Lanka được phép xuất khẩu 2.500 tấn hạt tiêu/năm sang Ấn Độ và hưởng thuế 0%. Thương nhân hồ tiêu ở Sri Lanka đã tái xuất hạt tiêu Việt Nam có giá 2500 – 2800 USD/tấn, tương đương khoảng 200 – 220 Rupee/kg.

Rohan Colaco, một trong những người trồng tiêu hàng đầu và là thành viên của Hiệp hội những người trồng tiêu Karnataka cho biết hồ tiêu Việt Nam được chứng nhận có nguồn gốc Sri Lanka và được lập hóa đơn vận chuyển sang Ấn Độ.

Giá tiêu nhập khẩu tối thiểu (MIP) là 500 rupee nhưng được bán ở mức 220 – 240 rupee. Hạt tiêu nhập khẩu không có chất lượng vượt trội nhưng chúng được trộn với hạt tiêu Ấn Độ để cho ra chất lượng trung bình và có thể bán được.

Tuy nhiên, sau vụ đánh bom liên hoàn ở Sri Lanka, nhập khẩu bắt đầu chững lại, khiến giá hồ tiêu Ấn Độ tăng thêm 20 rupee. Giá tiêu dự kiến sẽ tăng thêm 30 rupee trong 3 tháng tới, theo các nhà trồng tiêu và người tiêu dùng. “Vì giá dự kiến sẽ tăng hơn nữa, nhiều người mua đang thực hiện thanh toán (ở mức giá hiện tại) trước 2 tháng (đối với hàng giao tháng 6)”, một người mua cho biết. https://www.business-standard.com/article/markets/sri-lanka-bomb-blasts-pushes-pepper-price-by-rs-20-per-kg-in-india-119042300706_1.html

 

IPC dự báo sản lượng hồ tiêu Indonesia 2019 đạt 65 ngàn tấn, đứng thứ 3 trên thế giới. Sản lượng hồ tiêu Trung Quốc sụt giảm.

Theo dự báo của IPC, Indonesia sẽ chiếm vị trí thứ ba sau Việt Nam và Brazil trong sản xuất Hồ tiêu với sản lượng sản xuất dự kiến năm 2019 là 65.000 tấn trong đó 25.000 tấn tiêu đen và 40.000 tấn tiêu trắng.

Từ tháng 1 đến tháng 2, một số vườn tiêu ở Lampung đã được thu hoạch, mặc dù chưa vào thời điểm thu hoạch chính. Hiện tại nông dân trồng tiêu ở Lampung đang trải qua thời kỳ khá khó khăn vì giá Hồ tiêu tiếp tục giảm. Tình trạng này khiến nông dân ít quan tâm đến việc chăm sóc vườn tiêu. Giá Hồ tiêu tiếp tục giảm dẫn đến giá bán chênh lệch với giá thành sản xuất rất thấp. Một số nông dân cho biết họ vẫn còn trữ tiêu để trông chờ sự cải thiện giá.

Tại Trung Quốc, từ năm 2018, sản lượng sản xuất Hồ tiêu của Trung Quốc cho thấy dấu hiệu sụt giảm do diện tích bị đô thị hóa. Sản lượng sản xuất tiêu ở Trung Quốc năm 2019 ước tính đạt 33.000 tấn bao gồm 1.000 tấn hạt tiêu đen và 32.000 tấn hạt tiêu trắng, giảm 6% trong tổng sản lượng hàng năm so với năm trước.

Mặc dù được IPC dự báo nhu cầu tại thị trường này trong năm 2019 không tăng, nhưng việc giảm sản lượng sản xuất có thể khiến Trung Quốc nhập khẩu nhiều hơn. Lượng nhập khẩu dự kiến là 43.500 tấn tiêu, mức tăng nhập khẩu tương đương mức giảm sản lượng sản xuất trong nước.

 

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Phụ lục 1: Top 20 Doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo chủng loại, tháng 3/2019

Doanh nghiệp

Tiêu đen

Tiêu trắng

Tổng

Pearl Corporation

           4,164

              476

           4,640

Nguyễn Phúc Lộc

           3,210

              120

           3,330

Phúc Sinh

           2,409

              168

           2,577

Lê Thị Lan Thắng

           2,224

 

           2,224

Olam Việt Nam

           1,722

              342

           2,064

Haprosimex JSC

           1,633

                53

           1,686

Liên Thành

           1,266

              214

           1,480

Nedspice Việt Nam

           1,187

 

           1,187

Sinh Lộc Phát

              877

                  8

              885

DK Commodity

              749

                16

              765

Hanfimex Việt Nam

              732

                19

              751

Simexco Đăk Lăk

              650

                58

              708

Hoàng Gia Luân

              540

              120

              660

Cà Phê Petec

              487

                65

              552

Gia vị Sơn Hà

              488

                61

              550

Harris Freeman

              472

                77

              549

Ottogi Việt Nam

              504

 

              504

Unispice Việt Nam

              399

                65

              464

Intimex Group

              436

                25

              461

Trần Thị Hải Lộc

              422

 

              422

Khác

           8,234

           1,280

           9,514

Tổng

         32,806

           3,168

         35,974

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

Phụ lục 2: Top 20 Thị trường nhập khẩu hồ tiêu từ Việt Nam theo chủng loại tháng 3/2019.

Thị trường

Tiêu đen

Tiêu trắng

Tổng

China

             7,029

                664

             7,693

America

             5,593

                244

             5,836

India

             3,308

                140

             3,448

Pakistan

             1,892

                  73

             1,965

United Arab

             1,803

                  59

             1,862

Egypt

             1,251

                  54

             1,304

Germany

                496

                490

                986

Korea

                849

                  15

                864

Nepal

                833

 

                833

Iran

                779

                  15

                794

Ireland

                707

                  25

                732

Nerthlands

                428

                261

                689

Saudi Arabia

                546

                  91

                637

Philippine

                555

                  40

                595

Russia

                530

                  12

                541

Thailand

                285

                250

                535

Turkey

                480

                  29

                509

Senegal

                427

 

                427

Israel

                410

                  13

                422

England

                328

                  14

                341

Khác

             4,279

                681

             4,960

Tổng

           32,806

             3,168

           35,974

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

Phụ lục 3: Lượng xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2017-2019, (ngàn tấn)

Tháng

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

1

 8

 17

 18

2

 14

 13

 17

3

 29

 30

 35

4

 25

 27

37

5

 26

 23

 

6

 23

 21

 

7

 22

 21

 

8

 20

 22

 

9

 14

 17

 

10

 11

 15

 

11

 11

 13

 

12

 13

 13

 

Tổng

 215

 233

107

 

Phụ lục 4: Kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2017-2019, (triệu USD)

Tháng

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

1

 62

 69

 57

2

 91

 47

 44

3

 171

 106

 89

4

 142

 86

94

5

 138

 75

 

6

 108

 69

 

7

 97

 66

 

8

 92

 65

 

9

 65

 51

 

10

 51

 46

 

11

 48

 39

 

12

 54

 41

 

Tổng

 1,119

 761

284