Hồ tiêu 12/2018 – Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 12 tiếp tục xu hướng sụt giảm
 

Hồ tiêu 12/2018 – Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 12 tiếp tục xu hướng sụt giảm

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 12/2018

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

  • Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 12 tiếp tục xu hướng sụt giảm, so với tháng 11, TB giá tiêu giảm từ 3,000-4,000 đ/kg. Cuối tháng, giá tiêu các địa phương giảm xuống giao dịch quanh mức 55,000-56,000 đ/kg.
  • Vụ tiêu mới sắp thu hoạch tại Việt Nam sẽ gây thêm áp lực cho nguồn cung, khiến giá tiêu sẽ khó có thể phục hồi trong ngắn hạn.
  • Thực trạng tiêu chết vẫn tiếp tục diễn ra tại các tỉnh Tây Nguyên, thống kê sơ bộ của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI, toàn vùng Tây Nguyên đến cuối tháng 12/2018, đã có hơn 3.500 ha hồ tiêu bị chết, gây thiệt hại cho nông dân hàng nghìn tỷ đồng.
  • Trong tháng 12, giá chào xuất khẩu tiêu các loại giảm mạnh do nhu cầu xuất khẩu yếu. Cuối tháng giá chào xuất khẩu chủng loại Tiêu đen (500 gr/l, FAQ) ở mức 2,800 USD/tấn, Tiêu đen (550 gr/l, ASTA) ở mức 3,000(-150) USD/tấn; Tiêu trắng(ASTA) ở mức 4,000 USD/tấn.
  • Trong 11 tháng/2018 Mỹ duy trì vị trí đứng đầu trong Top thị trường nhập khẩu Hồ tiêu từ Việt Nam với việc nhập khẩu 41.037 tấn. Đứng thứ 2 là Trung Quốc đạt 33.053 tấn, tiếp đến là Ấn Độ với 19.094 tấn.
  • Các thị trường giảm nhập khẩu: Papua New Guinea, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ….
  • Các doanh nghiệp đứng đầu xuất khẩu Hồ tiêu bao gồm Pearl Corporation, Olam, Nedspice, Phúc Sinh và Haprosimex JSC
  • Xuất khẩu Hồ tiêu tụt mốc 1 tỷ USD

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

  • Tháng 12, Hồ tiêu thế giới có sự biến động trái chiều: Giá tiêu Malaysia, Sri Lanka tăng, tại Indonesia giá tiêu giảm nhẹ.
  • Giá tiêu Ấn Độ duy trì đà giảm mạnh trong tháng 12.
  • Ấn Độ: Nhập khẩu hồ tiêu trái phép làm giá nội địa giảm sâu
  • Xuất khẩu hạt tiêu của Hà Lan năm 2018 giảm 13% về lượng so với 2017
  • Campuchia: Giá giảm liên tục làm cho nông dân trồng hồ tiêu không có lãi
  • Sản lượng, doanh số bán hồ tiêu Kampot của Campuchia đều giảm mạnh trong 2018
  • Nhập khẩu hạt tiêu của Đài Loan trong 9 tháng 2018 tăng 6% so với cùng kỳ.

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Giá tiêu đen xô nội địa trong tháng 12 tiếp tục xu hướng sụt giảm, so với tháng 11, TB giá tiêu giảm từ 3,000-4,000 đ/kg. Cuối tháng, giá tiêu các địa phương giảm xuống giao dịch quanh mức 55,000-56,000 đ/kg

Trong tuần đầu tháng 12, giá tiêu tiếp tục giảm mạnh. Cập nhật đến 10/12 tại các địa phương giá thu mua tiêu xô giảm xuống còn 53,000-55,000 đ/kg. Trong đó, giá tiêu tại tỉnh Gia Lai và Đồng Nai ghi nhận mức giảm mạnh nhất 2.000 đồng/kg xuống 52.000 đồng/kg. Giá tiêu cao nhất vẫn là Bà Rịa – Vũng Tàu giảm còn 55,000 đ/kg. Tại Bình Phước, Đắc Lắk giá tiêu ở mức 54,000 đ/kg.

Xu hướng giảm tiếp tục duy trì cho đến cuối tháng, tại các địa phương chỉ giao dịch quanh mức 52,000-53,000 đ/kg. Như vậy so với tháng 11, trung bình giá tiêu giảm từ 3,000-4,000 đ/kg tùy địa phương.

Những ngày đầu tháng 1/2019 thị trường hồ tiêu vẫn trong trạng thái ảm đạm, giá tiếp tục giảm. Cập nhật đến 14/1 Tại tỉnh Gia Lai và Đồng Nai, giá hồ tiêu thấp nhất ở mức 48,000 đồng/kg. Tại Đắc Lắk, Đắc Nông giá tiêu giảm 1,000 đ/kg xuống mức 49,000 đ/kg. Giá tiêu cao nhất ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu giảm xuống mức 50,000 đ/kg.

 

Xu hướng giá hạt tiêu trong tháng 12/2018 và đầu tháng 1/2019, ngàn đồng/kg

Địa Phương

Tuần 6/12-12/12

Tuần 13/12-19/12

Tuần 20/12-26/12

Tuần 26/12-2/1

Tuần 3/1-9/1

Đắk Lắk

53-54

53-54

53

53

50-52

Đắk Nông

53-54

53-54

53

53

50-52

Phú Yên

53-54

53-54

53

53

50-52

Gia Lai

52-53

52-53

52

52

50-51

Bà Rịa – VT

54-56

53-55

53-54

53-54

51-52

Bình Phước

53-54

53-54

53

53

55-52

Đồng Nai

52-53

52-53

52

52

50-52

 

Diễn biến giá thu mua tiêu đen xô tại Gia Lai, Vũng Tàu và giá chào mua của doanh nghiệp theo ngày, giai đoạn 2017-2019 (ngàn đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

Sản xuất vụ tiêu 2019:

Khoảng 1 tháng tới, vụ tiêu mới sắp thu hoạch tại Việt Nam sẽ gây thêm áp lực cho nguồn cung hồ tiêu toàn cầu, khiến giá tiêu sẽ khó có thể phục hồi trong ngắn hạn, và cả trong quý I/2019. Nhiều dự đoán cho rằng giá tiêu tiếp tục ở mức thấp trong thời gian tới

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dự báo thời gian tới giá tiêu trên thế giới khó lòng phục hồi do nguồn cung dồi dào. Việt Nam bước vào vụ thu hoạch hạt tiêu sớm tại tỉnh Đắk Nông, với sản lượng năm 2019 dự báo đạt khoảng 250.000 tấn.

Thực trạng tiêu chết vẫn tiếp tục diễn ra tại các tỉnh Tây Nguyên, Theo con số thống kê sơ bộ của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI, toàn vùng Tây Nguyên hiện có hơn 92.992 ha hồ tiêu tập trung chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông, trong đó diện tích tiêu đã đi vào kinh doanh cho thu hoạch 50.099 ha. Tuy nhiên thống kê đến đến cuối tháng 12/2018, đã có hơn 3.500 ha hồ tiêu bị chết, gây thiệt hại cho nông dân hàng nghìn tỷ đồng.

Hiện các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn gần 3.000 ha cây hồ tiêu đang nhiễm bệnh nên khả năng diện tích tiêu bị chết sẽ còn tăng lên.

 

Tây Nguyên: 3.500 ha hồ tiêu chết rụi

Nhà ông Vũ Đăng Khoa (ở thôn 16, xã Đắk Wer, huyện Đắk R’lấp) có gần 3ha hồ tiêu, từ đầu tháng 12/2018 đến nay bỗng xuất hiện tình trạng tiêu chết với tốc độ chóng mặt. Sau 1 tháng, khoảng 2.700 gốc tiêu nhà ông bị chết rụi. Gia đình ông Khoa đứng ngồi không yên vì khoản vay ngân hàng sắp tới kỳ đáo hạn, trong khi vườn tiêu chỉ mới thu bói được 1 năm đã chết gần hết.

Theo thông tin trên báo Tiền phong, tại xã Đắk N’Drung (huyện Đắk Song), nông dân cũng đang điêu đứng vì tiêu chết. Từ thời điểm tiêu có hiện tượng vàng lá đến khi chết khô chỉ chưa đầy một tuần khiến chủ vườn không kịp trở tay. Nhiều hộ tốn tới cả trăm triệu để mời thầy, mua thuốc trừ bệnh cho tiêu nhưng không hiệu quả. Trong năm 2018, riêng huyện Đắk Song có gần 1.700 ha hồ tiêu bị nhiễm bệnh, hơn 200 ha hồ tiêu đã chết hoàn toàn.

Tình trạng hồ tiêu chết hàng loạt cũng đã bùng phát trở lại trên địa bàn tỉnh Gia Lai với khoảng 1.000 ha tiêu bị chết. Nhiều hộ dân có vườn tiêu chết bị bể nợ, đời sống gặp muôn vàn khó khăn. Đi dọc con đường nhựa từ thôn 1 vào thôn 2, thị trấn Ia Kha (huyện Ia Grai), hai bên đường tiêu chết la liệt. Nhiều vườn chết trắng, cây khô còn bám nguyên trên trụ.

http://peppervietnam.com/3-500ha-ho-tieu-chet-rui-nha-nong-bat-luc/

 

THƯƠNG MẠI - XUẤT KHẨU

Giá tiêu xuất khẩu tháng 12 tiếp tục giảm

Trong tháng 12, giá chào xuất khẩu tiêu các loại giảm mạnh do nhu cầu xuất khẩu yếu. Cuối tháng giá chào xuất khẩu chủng loại Tiêu đen (500 gr/l, FAQ) ở mức 2,800 USD/tấn (giảm 200 USD/tấn); Tiêu đen (550 gr/l, ASTA) ở mức 3,000(-150) USD/tấn; Tiêu trắng(ASTA) ở mức 4,000 USD/tấn, giảm 400 USD/tấn so với mức chào giá vào hồi đầu tháng.

Sang đầu tháng 1, xu hướng giảm tiếp tục duy trì, cập nhật đến  14/1 Giá tiêu đen 500 g/l chỉ còn ở mức 2,415 USD/tấn, tiêu đen 550 g/l  2,650 USD/tấn. Giá chào bán Giá tiêu trắng 630 g/l ở mức 3,730 USD/tấn.

 

Diễn biến giá xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam theo tuần, FOB/HCM, 2018- 2019,  USD/tấn CSDL AgroMonitor

 

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Tháng 12/2018 Việt Nam xuất khẩu 12,6 ngàn tấn hồ tiêu các loại trị giá 40,5 triệu USD, tăng 0,3% về lượng và 4,4% về trị giá so với tháng 11. Cả năm 2018 Việt Nam xuất khẩu được 232.750 tấn Hồ tiêu các loại, tổng kim ngạch đạt 758,8 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2017, lượng xuất khẩu tăng 8,3% tương đương, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu giảm 32,1%.

Trong 11 tháng/2018 Mỹ duy trì vị trí đứng đầu trong Top thị trường nhập khẩu Hồ tiêu từ Việt Nam với việc nhập khẩu 41.037 tấn so với 36.703 tấn cùng kỳ năm 2017, vượt tổng lượng nhập khẩu của cả năm 2017 và đây cũng là năm đầu tiên xuất khẩu Hồ tiêu vào Mỹ trên 40.000 tấn. Tiếp theo sau là thị trường Trung Quốc đạt 33.053 tấn, tăng 20.727 tấn, Ấn Độ tăng 4.400 tấn đạt 19.094 tấn.

Một số thị trường khác cũng có lượng tăng như Ireland tăng 2.283 tấn, Nepal tăng 1.818 tấn, Myanmar tăng 1.665 tấn, Pakistan tăng 1.572 tấn, …

Tuy lượng xuất khẩu tăng mạnh tuy nhiên vẫn có một và thị trường giảm nhập khẩu như Papua New Guinea giảm 12.313 tấn, Ả Rập giảm 3.331 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ giảm 1.555 tấn. Đặc biệt nhập khẩu Hồ tiêu giảm hầu hết ở các quốc gia khu vực châu Phi như Ai Cập, Nam Phi, Senegal, Algeria, Sudan, Tunisia. Ma Rốc là thị trường tăng mạnh nhất tăng 776 tấn.

Các doanh nghiệp đứng đầu xuất khẩu Hồ tiêu bao gồm Pearl Corporation, Olam, Nedspice, Phúc Sinh và Haprosimex JSC. 5 doanh nghiệp này xuất khẩu chiếm 37,7% tổng kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam. Khối các doanh nghiệp ngoài VPA xuất khẩu 169,9 triệu USD, chiếm 23,2%.

 

Lượng và kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2017-2018

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

 

Top 20 thị trường nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam tháng 11/2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

Top 20 Doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu từ Việt Nam tháng 11/2018 theo trị giá (ngàn USD)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

Xuất khẩu Hồ tiêu tụt mốc 1 tỷ USD

Sau 4 năm liên tục đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, nhưng năm 2018, xuất khẩu hạt tiêu sẽ chỉ còn 800 triệu USD. Sản lượng tiêu xuất khẩu liên tục tăng, nhưng giá trị ngày càng giảm, khiến cả nông dân và doanh nghiệp lo lắng.

Việt Nam đã 18 năm giữ vững vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Và đã 4 năm có tên trong câu lạc bộ nông sản trên 1 tỷ USD. Cụ thể: Xuất khẩu năm 2014 đạt 155.125 tấn với kim ngạch trên 1,2 tỷ USD; năm 2015 xuất khẩu đạt 135 nghìn tấn, kim ngạch 1,26 tỷ USD; năm 2016 xuất khẩu đạt 177 nghìn tấn, kim ngạch 1,42 tỷ USD; năm 2017 đạt 214,9 nghìn tấn, kim ngạch 1,12 tỷ USD.

Ước tính, cả năm nay kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tiêu sẽ chỉ đạt 800 triệu USD, tụt sâu dưới mốc 1 tỷ USD. Điều mà khiến nông dân và các doanh nghiệp kinh doanh hồ tiêu rầu lòng nhất, là giá cứ sụt giảm mãi.

Trong nửa đầu tháng 12/2018, diễn biến trên thị trường hạt tiêu cũng không mấy khả quan. So với ngày 30/11/2018, giá hạt tiêu trong nước giảm 3,5 - 5,5%, và giảm 6,8 - 10,3% so với ngày 1/11/2018. Ngày 18/12/2018, giá tiêu đang được các doanh nghiệp và thương lái thu mua quanh mức 52.000 - 53.000 đồng/kg.

http://vneconomy.vn/xuat-khau-hat-tieu-tut-moc-1-ty-usd-20181220100305962.htm

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá hồ tiêu thế giới tháng 12 biến động trái chiều

Những ngày đầu tháng 12, Hồ tiêu thế giới có sự biến động trái chiều: Giá tiêu Malaysia, Sri Lanka tăng, tại Indonesia giá tiêu giảm nhẹ. Giá tiêu đen trung bình ở Malaysia trong tuần đầu tháng 12 được báo cáo là 8,82 MR/kg, tăng 7% so với giá tuần trước là 8,28 MR/kg. Giá tiêu trung bình tại các địa phương ở Indonesia đã giảm nhẹ. Giá tiêu trắng Muntok được báo cáo ở mức 56.000 IDR/kg và tiêu đen Lampung báo cáo ở mức 37.000 IDR/kg, giảm lần lượt 2% và 1% so với giá tuần trước. Sau sự tăng giá của đồng nội tệ đối với USD, giá trung bình của tiêu đen Lampung trên thị trường quốc tế ghi nhận mức tăng nhẹ. Tại Sri Lanka giá tiêu ở mức 666 LKR/kg, tăng 3% so với giá của tuần trước là 650 LKR/kg.

Bước sang tuần đầu năm 2019, thị trường tiêu thế giới vẫn trong xu thế tăng giảm khác nhau ở các nước. Tại Việt Nam và Sri Lanka giá tiêu giảm trong khi các nước khác biến động tăng. Tại Ấn Độ, Indonesia và Malaysia giá tiêu đầu tháng 1 tăng 1% so với tháng 12 do đồng nội tệ tăng mạnh so với USD. Tại Việt Nam, giá tiêu đen được ghi nhận đã giảm 2% và tiêu trắng cũng giảm nhưng không đáng kể. Một sự sụt giảm đáng kể đã xảy ra trong giá tiêu đen ở Sri Lanka. Giá tiêu đen ở Sri Lanka giảm 6% so với cuối tháng 12. Chính trị trong nước bất ổn là yếu tố làm cho giá hồ tiêu giảm ở Sri Lanka.

 

Giá tiêu Ấn Độ duy trì đà giảm mạnh trong tháng 12

Tháng 12 giá tiêu Ấn Độ tiếp tục giảm mạnh về cuối tháng. Đến ngày 28/12, giá tiêu giao ngay trên sàn Ko-Chi giao dịch ở mức 36,800 rupee/tạ, giảm 300 rupee/tạ so với mức giá cuối tháng 11.

Bước sang tuần đầu tiên của tháng 1/2019, giá tiêu vẫn cho thấy xu hướng giảm. Cập nhật đến 14/1 giá tiêu giao ngay giao dịch chỉ còn ở mức 34,800 rupee/tạ, giảm mạnh 2000 rupee/tạ chỉ trong 2 tuần. Nguyên nhân giá hồ tiêu tại Ấn Độ giảm mạnh được cho là do hồ tiêu vẫn được nhập khẩu trái phép vào nước này khiến cho giá cả giảm sâu.

 

Ấn Độ: Nhập khẩu hồ tiêu trái phép làm giá nội địa giảm sâu

Thị trường hạt tiêu đen trong nước đang chứng kiến ​​giá giá giảm sâu và nhu cầu yếu, đặc biệt là tại các trung tâm tiêu thụ ở Bắc Ấn, nơi người trồng tiêu cho rằng nguyên nhân do sự gia tăng nhập khẩu bất hợp pháp.

Các thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn như Patna, Ranchi, Lucknow, Varanasi, Indore, Delhi v.v ... đã tràn ngập hồ tiêu Việt Nam nhập lậu thông qua Sri Lankan sản xuất qua biên giới của Nepal, Myanmar và Bangladesh. Ông cáo buộc rằng một số thương nhân ở các khu vực này đẩy mạnh nhập khẩu bất hợp pháp về cơ bản để trốn thuế.

KK Vishwanath, Điều phối viên của Tổ chức trồng tiêu đen, cho biết giá tiêu quốc tế cũng đang suy giảm do tình trạng ùn ứ.

Vụ thu hoạch tại Kerala sẽ bắt đầu và trong 2-3 tháng tới, vụ mùa Karnataka cũng sẽ được thu hoạch dẫn đến tình trạng dư thừa. Tuy nhiên, một số người trồng nhỏ vẫn đang trữ lại với hy vọng tăng giá.

https://www.thehindubusinessline.com/todays-paper/tp-agri-biz-and-commodity/article25965554.ece

 

Diễn biến giá tiêu Ấn Độ trên sàn NCDEX theo ngày, 2017-2018, rupee/tạ

AgroMonitor tổng hợp

 

Một số tin tức Hồ tiêu quốc tế khác:

Xuất khẩu hạt tiêu của Hà Lan năm 2018 giảm 13% về lượng so với 2017

Với các nhà xuất khẩu hàng đầu như Brazil, Indonesia Việt Nam và Ấn Độ năm 2016, Hà Lan đã nhập khẩu 9,853 tấn hạt tiêu bao gồm 6,546 tấn tiêu nguyên hạt và 3,307 tấn tiêu xay. Năm 2017, Hà Lan đã nhập khẩu 10.296 tấn bao gồm 6.455 tấn tiêu nguyên hạt và 3.841 tấn tiêu xay. Tính đến tháng 8/2018 Hà Lan đã nhập khẩu 9,888 tấn bao gồm 6,552 tấn tiêu nguyên hạt và 3,336 tấn tiêu xay.

Năm 2016, Hà Lan đã xuất khẩu 9.215 tấn hạt tiêu bao gồm 5.302 tấn hạt tiêu nguyên hạt và 3.813 tấn tiêu xay, với tổng giá trị là 94.344 USD. Xuất khẩu hạt tiêu Hà Lan năm 2016 chiếm 59% là tiêu nguyên hạt và 41% là tiêu xay. Năm 2017, Hà Lan đã xuất khẩu 10,477 tấn bao gồm 5,876 tấn tiêu hạt và 4.601 hạt tiêu xay, với giá trị là 84.370 USD, tăng 14% về số lượng, nhưng giảm 11% về giá trị so với năm 2016.

Tính đến tháng 8 năm 2018, Hà Lan xuất khẩu 3.329 tấn tiêu hạt với giá trị là 19.689 USD, và 2.805 tấn tiêu xay với giá trị 20.094 USD. Tổng xuất khẩu trong giai đoạn này đạt 6.134 tấn, với giá trị 39.783 USD. So với năm 2017 cùng kỳ, xuất khẩu từ Hà Lan giảm 13% về số lượng và 32% về giá trị.

Cho đến tháng 9 năm 2018, hầu hết tiêu hạt từ Hà Lan được xuất khẩu tới Đức (608 tấn), Bỉ (550 tấn), Tây Ban Nha (343 tấn), Áo (298 tấn) và Cộng hòa Séc (199 tấn). Trong khi đó, thị trường hàng đầu cho tiêu xay của Hà Lan là Đức (724 tấn), Vương quốc Anh (471 tấn), Pháp (429 tấn), Bỉ (347 tấn) và Thụy Điển (152 tấn).

https://www.commodity3.com/content/47/softs

 

Campuchia: Giá giảm liên tục làm cho nông dân trồng hồ tiêu không có lãi

Nông dân Campuchia trồng hồ tiêu không có chỉ dẫn địa lý (CDĐL – non Geographic Identification – GI) tiếp tục gặp khó khăn do giá thấp trong khi năng suất năm tới dự kiến sẽ sụt giảm, ông Yin Sopha giám đốc điều hành hợp tác phát triển nông nghiệp hồ tiêu Dar-Memot nhận định.

Theo ông Sopha, năm nay giá hạt tiêu không có CDĐL trên thị trường vẫn nằm dưới giá thành sản xuất, nên ngành này dự kiến sẽ không mở rộng trong năm tới.

Kể từ đầu mùa thu hoạch, giá hạt tiêu đã ở mức 2,6 USD/kg, nằm dưới mức có lãi. Giá thấp hơn là do tình trạng chung của thị trường toàn cầu.

Giá tiêu không thể tăng thêm được nữa, vì nguồn cung hồ tiêu toàn cầu đã nhiều hơn nhu cầu – giá không có lãi cho nông dân và diện tích canh tác sẽ không tăng nữa.

Ông Sopha cho rằng lĩnh vực này sẽ không còn là một lựa chọn đầu tư khả thi nếu giá tiếp tục giảm.https://www.phnompenhpost.com/business/continued-price-drop-makes-kingdoms-pepper-unprofitable

 

Sản lượng, doanh số bán hồ tiêu Kampot của Campuchia đều giảm mạnh trong 2018

Theo tờ KhmerTimes, Hiệp hội Xúc tiến Hồ Tiêu Kampot mơi chỉ bán 50 tấn hồ tiêu trong năm 2018, giảm 80% so với năm ngoái. Sự sụt giảm về doanh số bán hàng, sau khi sản lượng giảm vì điều kiện thời tiết không thuận lợi trong suốt năm, hiệp hội cho biết.

Theo đó, tổng sản lượng hồ tiêu giảm khoảng 30 tấn xuống còn 70 tấn trong năm 2018. Lượng mưa lớn từ đầu mùa trồng trọt là nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm về sản lượng.

Ông Ngoun Lay, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Hồ tiêu Kampot, nhận định chỉ khoảng 50 tấn hồ tiêu của mùa vụ được bán cho các công ty xuất khẩu, giảm 80 tấn so với năm 2018. Ông Ngoun Lay cũng cho biết thị trường đã thu hẹp.

"Thị trường đang thu hẹp trong năm nay, khiến xuất khẩu hồ tiêu Kampot giảm", ông Lay nói. Ông cũng cho biết thêm, hiệp hội đang tìm kiếm những thị trường mới để xuất khẩu tiêu.

Thị trường chính của hồ tiêu Kampot là Liên minh châu Âu (Eu), Mỹ; theo sau là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, KhmerTimes. cho biết.

https://www.khmertimeskh.com/50563235/pepper-association-reports-lower-yields-sales/

 

Nhập khẩu hạt tiêu của Đài Loan trong 9 tháng 2018 tăng 6% so với cùng kỳ

Đài Loan là một trong những quốc gia tiêu dùng ở châu Á. Để đáp ứng nhu cầu hồ tiêu, Đài Loan đã nhập khẩu hạt tiêu từ các nước sản xuất hồ tiêu lớn như Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Ấn Độ. Năm 2016, Đài Loan đã nhập khẩu 2.980 tấn hạt tiêu bao gồm 2.879 tấn hạt tiêu hạt và 101 tấn tiêu xay. Đài Loan nhập khẩu nhiều tiêu đen hơn so với tiêu trắng. Hạt tiêu đen nhập khẩu vào Đài Loan năm 2016 là 1.892 tấn, tiêu trắng là 987 tấn. Giá trị nhập khẩu toàn bộ hạt tiêu sang Đài Loan năm 2016 đạt 24,8 triệu USD, bao gồm 23,5 triệu USD là tiêu hạt và 1,4 triệu USD lầ tiêu xay.

Năm 2017, Đài Loan đã nhập khẩu 3.315 tấn bao gồm 3.201 tấn tiêu hạt và 114 tấn tiêu xay, trị giá 21,9 triệu USD bao gồm 20,6 triệu USD là tiêu hạt và 1,3 triệu USD là tiêu xay. Nhập khẩu của Đài Loan năm 2017 tăng 11% về số lượng nhưng giảm 11% về giá trị so với năm 2016.

Tính đến tháng 9 năm 2018, Đài Loan đã nhập khẩu 2.291 tấn bao gồm 2.193 tấn tiêu hạt và 98 tấn tiêu xay. Trong đó 1.431 tấn tiêu hạt và 762 tấn tiêu xay. Giá trị nhập khẩu 11 triệu USD. So với cùng kỳ 2017, nhập khẩu hồ tiêu của Đài Loan ghi nhận mức tăng 6% về số lượng nhưng giảm 28% về giá trị.

Năm 2018 (tính đến tháng 9), các nhà xuất khẩu hàng đầu tiêu đen hạt sang Đài Loan là Malaysia với số lượng 1169 tấn, tiếp theo là Việt Nam (795 tấn) và Indonesia (103 tấn). Trong khi các nhà xuất khẩu hàng đầu tiêu hạt trắng là Indonesia với số lượng 900 tấn, tiếp theo là Malaysia (209 tấn) và Trung Quốc (29 tấn). Nhà xuất khẩu hàng đầu tiêu xay sang Đài Loan là Ấn Độ với số lượng 52 tấn, tiếp theo là Việt Nam (17 tấn) và Malaysia (16 tấn). https://www.commodity3.com/content/47/softs

 

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Lượng xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2017-2018, (ngàn tấn)

Tháng

Năm 2017

Năm 2018

1

8.32

17.201

2

13.66

12.933

3

29.06

30.068

4

25.12

26.88

5

26.44

23.10

6

22.86

21.40

7

21.54

21.33

8

20.22

22.20

9

13.52

17.48

10

11.03

15.02

11

10.70

12.52

12

12.58

12.56

Tổng

215.03

233.31

 

Kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam theo tháng, 2015-2018, (triệu USD)

Tháng

Năm 2017

Năm 2018

1

61.63

68.93

2

90.52

47.34

3

170.93

106.18

4

142.48

85.66

5

138.20

75.18

6

107.86

68.51

7

96.69

66.28

8

92.19

65.10

9

64.94

50.65

10

50.94

45.54

11

48.40

38.83

12

53.87

40.54

Tổng

1118.64

760.82

 

Top 20 thị trường nhập khẩu hồ tiêu từ Việt Nam theo lượng 11/2018

STT

Thị trường

Lượng (tấn)

1

America

2,969

2

China

1,395

3

India

1,237

4

United Arab

789

5

Korea

607

6

Pakistan

466

7

Japan

411

8

England

408

9

Germany

398

10

Philippine

381

11

Nerthlands

285

12

Ireland

259

13

Thailand

245

14

Canada

231

15

Saudi Arabia

138

16

Spain

131

17

Turkey

122

18

Australia

117

19

Sri Lanka

107

20

Syria

105

 

Top 20 Doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam theo trị giá, tháng 11/2018

STT

Doanh nghiệp

Trị giá (triệu USD)

1

Nedspice Việt Nam

5,012,771

2

Pearl Corporation

4,416,107

3

Olam Việt Nam

4,041,087

4

Phúc Sinh

2,015,584

5

Nguyễn Phúc Lộc

1,977,917

6

Harris Freeman Việt Nam

1,768,121

7

Haprosimex JSC

1,606,160

8

Unispice

1,220,791

9

Gia vị Sơn Hà

1,168,213

10

Hoàng Gia Luân

1,124,802

11

Thành Phát

1,107,257

12

Ottogi Việt Nam

981,960

13

Pitco

977,293

14

Expo Commodities

813,673

15

KSS Việt Nam

786,110

16

Nông sản DK

692,831

17

Liên Thành

665,925

18

XNK Tm

657,467

19

Sinh Lộc Phát

555,479

20

Simexco Đăk Lăk

519,142