Chăn nuôi tháng 5/2019 - Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp, heo được đổ ra bán mạnh kéo giá giao dịch đồng loạt giảm ở khắp các vùng trong tháng 5 vừa qua
 

Chăn nuôi tháng 5/2019 - Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp, heo được đổ ra bán mạnh kéo giá giao dịch đồng loạt giảm ở khắp các vùng trong tháng 5 vừa qua

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 5/2019

DỰ BÁO CỦA USDA

USDA dự báo tháng 4 năm 2019

- Theo báo cáo tháng 4/2019 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ giảm khoảng 4% trong năm 2019, còn gần 108.5 triệu tấn do sản lượng giảm mạnh ở Trung Quốc.

- Báo cáo tháng 4/2019 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng khoảng 2.2% so với năm 2018, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Mỹ và Trung Quốc.

- Theo báo cáo tháng 4/2019 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ hơn 3% so với năm trước, lên mức kỷ lục 98.4 triệu tấn.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Thịt heo

  • Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp, heo được đổ ra bán mạnh kéo giá giao dịch đồng loạt giảm ở khắp các vùng trong tháng 5 vừa qua.

 

  • Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 4/2019 đạt hơn 3.46 triệu USD, tăng khá so với tháng trước, với mức tăng khoảng 22.7%, tương đương cao hơn gần 641 nghìn USD; tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm ngoái thì mức nhập khẩu thịt heo lại tăng rất mạnh, gấp hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước, tương đương gần 2.67 triệu USD.

Thịt bò

  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 4/2019 đạt 37.36 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức giảm khoảng 24%, tương đương với gần 11.8 triệu USD; nếu so với cùng kỳ năm trước thì mức nhập trong tháng 4 này lại tăng 11.3%, tương đương gần 3.8 triệu USD.
  • Với thịt trâu/bò đã qua giết mổ, giá trị nhập khẩu trong tháng 4 tăng nhẹ so với tháng trước, với mức nhập khẩu đạt gần 21.32 triệu USD, tăng 2.4% so với tháng trước, tương đương hơn 0.5 triệu USD; mức nhập khẩu tháng 4/2019 tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng khoảng 49.6%, tương đương gần 7.07 triệu USD.

Thịt gà

       -  Nguồn cung gà to sụt giảm mạnh khiến giá gà trắng tại thị trường miền Nam bật tăng mạnh trong nửa cuối tháng 5 vừa qua.

-  Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 4/2019 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 23.48 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng trước với mức giảm khoảng 4%, tương đương gần 1 triệu USD; so sánh với cùng kỳ năm 2018, mức nhập khẩu tháng 4 này lại tăng gấp hơn 2 lần, tương đương 12.17 triệu USD.

GIAO DỊCH BIÊN MẬU

Giao dịch biên mậu tiếp tục trầm lắng do Campuchia tiếp tục kiểm soát chặt sau khi Việc Nam công bố có dịch tả châu Phi tại các tỉnh miền Nam.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

-    Một trong những ước tính mới nhất cho biết đàn lợn của Trung Quốc có thể bị suy giảm tới 35% trong năm nay do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi, cao hơn nhiều so với các ước tính trước đó.

SỰ KIỆN

- Bộ NN Việt Nam ban hành hướng dẫn số 3708 về quản lý giết mổ lợn, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có bệnh dịch tả lợn châu Phi. Theo hướng dẫn này, việc vận mua bán lợn đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ trở nên khó khăn hơn.

- Tính từ 1/1-16/5/2019, Trung Quốc đã mua tổng cộng 195.000 tấn thịt heo đông lạnh từ Mỹ, tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ năm trước và vươn lên là đầu ra lớn nhất cho thịt heo Mỹ.

A.DỰ BÁO CỦA USDA

  1. Thịt heo

Theo báo cáo tháng 4/2019 của USDA dự báo, sản lượng thịt heo toàn cầu sẽ giảm khoảng 4% trong năm 2019, còn gần 108.5 triệu tấn do sản lượng giảm mạnh ở Trung Quốc. Dịch tả heo châu Phi (ASF) đã dẫn đến việc hiêu hủy hàng triệu con heo tại nước này. Trong khi đó, tại các quốc gia khác, sản xuất thịt heo lại đang tăng trưởng khá tốt, dẫn đầu là Mỹ với mức tăng đạt khoảng 4% và Brazil là 6%. Sản lượng thịt heo của EU trong năm 2019 sẽ giảm rất nhẹ so với năm 2018 do giá lợn hơi giảm và chi phí thức ăn cao hơn, nếu như ở năm 2018 là 24.3 triệu tấn thì 2019 dự báo là 24.2 triệu tấn; tuy nhiên, triển vọng xuất khẩu có xu hướng cải thiện có thể khuyến khích các nhà sản xuất mở rộng đàn vào cuối năm nay.

Xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ cao hơn khoảng 8% trong năm 2019 do nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh từ thị trường Trung Quốc và tăng trưởng kinh tế ổn định ở hầu hết các thị trường thịt heo lớn. Liên minh Châu Âu (EU) sẽ vẫn là khu vực xuất khẩu hàng đầu thế giới, với lượng ước đạt 3.25 triệu tấn trong năm 2019, tăng 11% so với năm 2018. Mỹ, Canada và Brazil cũng được dự báo lượng xuất khẩu cũng sẽ cao hơn năm trước. Với nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là quốc gia có nhu cầu nhập khẩu thịt heo lớn nhất thế giới, với mức nhập khẩu năm 2019 được dự báo tăng 41% so với năm ngoái do tác động từ sự suy giảm đàn heo nội địa do dịch ASF gây ra.

Bảng 1. Sản xuất và thương mại thịt heo toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

112,008

111,527

6,719

7,237

2016

111.394

111,068

7,981

8,355

2017

112.114

111,642

7,883

8,308

Ước tính 2018

113.081

112,472

7,906

8,446

Dự báo 2019

108.494

108,236

8,766

9,083

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 2. Dự báo xuất khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

EU

2,858

2,934

3,250

Mỹ

2,554

2,663

2,801

Canada

1,351

1,330

1,390

Brazil

786

730

900

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 3. Dự báo nhập khẩu thịt heo của một số nước lớn năm 2017-2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

1,620

1,561

2,200

Nhật Bản

1,475

1,481

1,525

Mê-xi-cô

1,083

1,188

1,235

Hàn Quốc

506

473

456

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

  1. Thịt bò

Báo cáo tháng 4/2019 của USDA dự báo sản lượng thịt bò/bê toàn cầu năm 2019 sẽ tăng khoảng 2.2% so với năm 2018, ước đạt 63.6 triệu tấn, nhờ đóng góp của Brazil, Mỹ và Trung Quốc. Đứng đầu là Mỹ với sản lượng được dự báo trong năm 2019 sẽ đạt 12.44 triệu tấn, tăng 1.5% so với năm ngoái; tiếp sau đó là Brazil với 10.2 triệu tấn và EU là 7.82 triệu tấn. Theo dự báo của USDA, Úc sẽ tiếp tục chứng kiến sự sụt giảm trong sản xuất thịt bò do hạn hán lan rộng ở 2 khu vực chăn nuôi gia súc lớn cộng với thiệt hại do lũ lụt nghiên trọng ở miền Bắc nước này. Tương tự, điều kiện thời tiết khô hạn dự kiến cũng sẽ ảnh hưởng đến chăn nuôi của EU.

Theo USDA, xuất khẩu toàn cầu năm 2019 được dự báo ở mức 10.84 triệu tấn. Trong đó, Brazil tiếp tục là nước xuất khẩu thịt bò/bê lớn nhất thế giới, với lượng xuất khẩu ước đạt 2.21 triệu tấn, sau đó đến Ấn Độ với 1.7 triệu tấn và đứng thứ ba là Úc với 1.58 triệu tấn. Với nhập khẩu, USDA dự báo, năm 2019, Trung Quốc vươn lên vị trí dẫn đầu trong danh sách các quốc gia nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới với 1.68 triệu tấn, tăng 14.5% so với năm 2018 và Mỹ lui về vị trí thứ 2 với 1.37 triệu tấn.

Bảng 4. Sản xuất và thương mại thịt bò và thịt bê toàn cầu năm 2015-2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

59,179

57,295

7,633

9,551

2016

59,659

57,918

7,680

9,423

2017

60,651

58,679

7,929

9,962

Ước tính 2018

62,193

60,258

8,609

10,553

Dự báo 2019

63,593

60,748

8,985

10,835

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 5. Dự báo xuất khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

1,856

2,083

2,210

Ấn Độ

1,849

1,556

1,700

Úc

1,485

1,662

1,575

Mỹ

1,297

1,432

1,476

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 6. Dự báo nhập khẩu thịt bò và thịt bê của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Trung Quốc

974

1,467

1,680

Mỹ

1,358

1,360

1,365

Nhật Bản

817

865

890

Hàn Quốc

531

582

600

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

  1. Thịt gà

Theo báo cáo tháng 4/2019 của USDA, sản lượng thịt gà thế giới năm 2019 được dự báo sẽ hơn 3% so với năm trước, lên mức kỷ lục 98.4 triệu tấn. Mỹ tiếp tục là nước sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới với hơn 19.55 triệu tấn. Tiếp đến là Brazil, Trung Quốc và EU  với sản lượng được dự báo trong năm 2019 lần lượt sẽ là 13.64 triệu tấn, 12.65 triệu tấn và 12.48 triệu tấn.

Về xuất khẩu, xuất khẩu toàn cầu được dự báo tăng mạnh hơn 3% trong năm 2019 lên mức kỷ lục 11.6 triệu tấn. Mặc dù không phải là quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới nhưng Brazil lại là quốc gia xuất khẩu thịt khẩu lớn nhất thế giới năm 2019, đạt gần 3.8 triệu tấn thịt.

Trong năm 2019, Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt gà lớn nhất thế giới với 1.1 triệu tấn. Tiếp theo là đến Mexico và EU, với lượng nhập lần lượt đạt 840 nghìn tấn và 680 nghìn tấn thịt. Nhu cầu tăng nhanh vượt xa so với sản xuất trong nước, đẩy nhập khẩu thịt gia cầm của Trung Quốc trong năm 2019 được dự báo sẽ tăng gần 70% so với năm ngoái.

Bảng 7. Sản xuất và thương mại thịt gà toàn cầu năm 2015 -2019 (nghìn tấn)

Năm

Sản xuất

Tiêu dùng

Nhập khẩu

Xuất khẩu

2015

91,352

89,691

8,726

10,304

2016

92,252

90,929

9,379

10,718

2017

93,622

91,853

9,313

11,025

Ước tính 2018

95,500

93,629

9,355

11,238

Dự báo 2019

98,382

96,464

9,698

11,594

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 8. Dự báo xuất khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Brazil

3,847

3,687

3,775

Mỹ

3,140

3,244

3,272

EU

1,326

1,429

1,460

Thái Lan

757

835

935

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

Bảng 9. Dự báo nhập khẩu thịt gà của một số nước lớn năm 2019 (nghìn tấn)

Tên nước

2017

Ước tính 2018

Dự báo 2019

Nhật Bản

1,056

1,074

1,100

Mê-xi-cô

804

820

840

EU

693

703

720

Iraq

656

639

640

Nguồn: Báo cáo World Markets and Trade, Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 4/2019

B. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. THỊT LỢN/ HEO

Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp, heo được đổ ra bán mạnh kéo giá giao dịch đồng loạt giảm ở khắp các vùng trong tháng 5 vừa qua.

Dịch tả heo châu Phi tiếp tục có diễn biến phức tạp tại Việt Nam khi nhiều ổ dịch mới được công bố tại nhiều tỉnh thành trên cả nước, trong đó có Đồng Nai-thủ phủ chăn nuôi của khu vực miền Nam, đó là: Yên Bái, Bình Phước, Hậu Giang, Khánh Hòa, Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắc Nông, Hà Giang, Bình Dương, An Giang, Vĩnh Long, Tuyên Quang, Gia Lai, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đắc Lắc và Cà Mau. Phát biểu tại kỳ họp quốc hội vào hôm 31/05, Bộ trưởng NN và PTNT Việt Nam cho biết tính tới 30/5, dịch tả châu Phi đã lan ra 48 tỉnh thành phố của Việt Nam và làm tiêu huỷ hơn 2 triệu con lợn, chiếm khoảng 6% tổng đàn heo. Tuy nhiên, mức độ thiệt hại trên thực tế có thể đã lên tới 20-30%. Như vậy, dịch tả châu Phi đã lây lan ra toàn bộ vùng ĐBSH và Trung du miền núi phía Bắc và tại ĐBSCL, đã có 8/13 tỉnh có dịch. Với đặc thù chăn nuôi dựa chủ yếu vào nguồn nước bề mặt (nước sông hoặc nước máy), ĐBSCL có thể cũng sẽ bị thiệt hại nặng giống như ĐBSH do virus tả châu Phi lây lan nhanh theo nguồn nước. Tại miền Bắc, theo thống kê hồi đầu tháng 5, số lượng các trang trại lớn từ 100-500 nái phát hiện có dịch ngày càng tăng ở nhiều tỉnh khác nhau cho thấy mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh; bên cạnh đó những hộ đã dính dịch hầu hết đều cho biết sẽ chờ thêm 3-4 tháng tới khi dịch bệnh êm hơn mới vào lại.

Với giao dịch heo hơi nội địa, những thông tin mới về dịch bệnh khiến giá heo hơi tại hầu khắp các vùng đồng loạt có điều chỉnh giảm trong tháng 5 vừa qua. Tại thị trường miền Bắc, việc dịch bệnh kéo dài trong gần 4 tháng qua làm nản lòng cả người chăn nuôi lẫn người tham gia công tác dập dịch; công tác tiêu hủy heo chậm trễ tại nhiều vùng khiến dân đẩy mạnh bán heo chạy dịch, thậm chí có thời điểm giá heo dân một số vùng còn 20.000-25.000 đồng/kg, còn mức phổ biến vẫn dao động từ 25.000-28.000 đồng/kg. Với mức giá này, giá heo dân miền Bắc đang thấp hơn 1.000-3.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 20.000-21.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Với heo công ty, giá heo hơi cũng tiếp tục có điều chỉnh giảm thêm trong tháng 5, giá giao dịch còn dao động từ 25.500-30.500 đồng/kg, thấp hơn 5.500-6.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 13.000-14.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Do heo con hầu như không bán được nên một số công ty chăn nuôi có bán giống ra thị trường buộc phải bán heo nhỏ ký hoặc hạ giá bán heo thương phẩm để lấy chuồng thả heo con. Nếu như ở tuần đầu tháng, giá heo nhỏ ký từ 60-80kg/con được bán với giá 25.000-26.000 đồng/kg thì đến thời điểm cuối tháng giá bán thậm chí giảm về dưới 20.000 đồng/kg. Tại thị trường miền Nam, sau thông tin dịch bệnh được công bố tại khu vực này thì cả giá heo công ty lẫn heo dân cũng liên tiếp có điều chỉnh giảm, theo đó, tính đến ngày cuối tháng, giá heo công ty còn dao động từ 29.500-35.500 đồng/kg, thấp hơn từ 7.000-12.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 15.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; heo dân ở một số địa phương thời điểm này thậm chí bị ép xuống dưới 30.000 đồng/kg, tuy nhiên, mức 30.000-33.000 đồng/kg vẫn khá phổ biến với heo đẹp, thấp hơn 9.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 15.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Không nằm ngoài xu hướng chung, giá heo tại miền Tây cũng liên tiếp giảm trong bối cảnh dịch bệnh được công bố tại nhiều địa phương trong vùng khiến dân đổ bán ra mạnh, có ngày lượng heo về các bến trung chuyển đạt trên dưới 1.000 con/ngày. Giá heo công ty còn 29.500-37.500 đồng/kg, tùy biểu cân, thấp hơn trung bình 9.500 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và 15.500 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; còn giá heo dân cũng còn cao nhất được 30.000 đồng/kg với heo trong chuẩn và 25.000-28.000 đồng/kg với heo to, thấp hơn 10.000-12.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 14.000-20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Với giao dịch heo Bắc-Nam, ở 2 tuần đầu tháng, việc giá heo hơi các vùng miền liên tiếp có điều chỉnh giảm khiến mức chênh lệch giữa 2 miền Nam Bắc rút ngắn, cộng thêm việc cấp giấy kiểm dịch liên tỉnh khó khăn nên heo thịt từ miền Bắc hầu như không còn được đưa vào miền Nam tiêu thụ. Tuy nhiên, sang đến nửa cuối tháng, dù giá heo các miền vẫn được kéo giảm nhưng do giá heo to miền Bắc đóng lên xe vào Nam được hạ giá mạnh, chỉ còn khoảng 28.000-29.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm chỉ còn 26.000-27.000 đồng/kg, chênh lệch đủ hấp dẫn nên heo Bắc được đóng lại vào miền Nam tiêu thụ, với lượng khoảng trên dưới 10 xe/ngày.

Hình 1.Diễn biến giá lợn hơi tại Đồng Nai và Thái Bình từ năm 2016-5/2019 (đồng/kg)

     Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ tháng 4/2019 đạt hơn 3.46 triệu USD, tăng khá so với tháng trước, với mức tăng khoảng 22.7%, tương đương cao hơn gần 641 nghìn USD; tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm ngoái thì mức nhập khẩu thịt heo lại tăng rất mạnh, gấp hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước, tương đương gần 2.67 triệu USD. Tháng 4 này, Brazil tiếp tục là quốc gia xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ nhiều nhất vào Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1.58 triệu USD, chiếm 45.6% thị phần; theo sau đó là Ba Lan, Tây Ban Nha và Đức. Đối với xuất khẩu, giá trị xuất khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam sang các thị trường khác trong tháng 4 giảm khá mạnh so với tháng trước, trị giá xuất khẩu chỉ còn khoảng 5.04 triệu USD, giảm 44.4%, tương đương hơn 4 triệu USD; tuy nhiên, nếu so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì mức xuất khẩu năm nay lại tăng gấp hơn 2 lần, tương đương 2.73 triệu USD. Hong Kong tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ lớn nhất của Việt Nam trong tháng 4 với kim ngạch nhập khẩu đạt gần 4.29 triệu USD, chiếm 85.04% thị phần.

Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng trị giá nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam đạt 10.33 triệu USD, cao gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 10. Kim ngạch xuất nhập khẩu thịt heo đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016 - 2019 (triệu USD)

Năm

Tháng

Nhập khẩu (triệu USD)

Xuất khẩu (triệu USD)

2016

1

1.7

5.8

2

1.0

4.4

3

1.5

6.8

4

2.0

5.7

5

1.6

6.8

6

1.3

8.2

7

1.9

7.6

8

1.4

9.5

9

1.2

9.0

10

1.5

8.9

11

1.5

9.6

12

2.3

9.0

2017

1

1.7

7.2

2

2.0

7.0

3

1.4

9.5

4

0.97

5.35

5

1.55

6.57

6

1.29

5.48

7

1.303

5.94

8

0.48

5.87

9

0.32

4.40

10

0.65

4.33

11

0.51

3.65

12

0.91

4.66

2018

1

0.62

4.25

 

2

0.26

2.76

 

3

1.48

4.13

 

4

0.80

2.31

 

5

0.84

3.49

 

6

1.03

3.57

 

7

2.02

3.09

 

8

2.10

4.67

 

9

4.50

3.06

 

10

4.75

4.68

 

11

6.13    

3.89

 

12

4.17

5.00

2019

1

2.77

5.00

2

1.28

4.31

3

2.82

9.06

4

3.46

5.04

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Hình 2. Kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đã qua giết mổ năm 2017 - 2019 (triệu USD)

            Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

  1. THỊT BÒ

- Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam trong tháng 4/2019 đạt 37.36 triệu USD, giảm khá so với tháng trước, với mức giảm khoảng 24%, tương đương với gần 11.8 triệu USD; nếu so với cùng kỳ năm trước thì mức nhập trong tháng 4 này lại tăng 11.3%, tương đương gần 3.8 triệu USD. Trong tháng 4, Úc tiếp tục là quốc gia giữ tỷ trọng cao nhất trong các quốc gia cung cấp trâu/bò sống cho Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu từ nước này đạt 24.78 triệu USD, chiếm 66.3% thị phần; theo sau đó là Thái Lan với 12.58 triệu USD, chiếm 33.7% thị phần; khác với những tháng trước, trong tháng 4 không có trâu/bò sống được nhập khẩu từ Mỹ và Lào về Việt Nam.

Với thịt trâu/bò đã qua giết mổ, giá trị nhập khẩu trong tháng 4 tăng nhẹ so với tháng trước, với mức nhập khẩu đạt gần 21.32 triệu USD, tăng 2.4% so với tháng trước, tương đương hơn 0.5 triệu USD; mức nhập khẩu tháng 4/2019 tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng khoảng 49.6%, tương đương gần 7.07 triệu USD. Ấn Độ tiếp tục giữ vị trí đứng đầu trong các quốc gia xuất khẩu thịt với thịt trâu/bò đã qua giết mổ vào Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 9.41 triệu USD, chiếm 44.15% thị phần. Theo sau đó là Úc, với kim ngạch đạt gần 5.5 triệu USD, chiếm 26.01% và Mỹ với kim ngạch đạt 4.44 triệu USD, chiếm 20.84%.

Bảng 11. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2016 – 2019 (triệu USD)

Tháng

2016 (triệu USD)

2017 (triệu USD)

2018 (triệu USD)

2019 (triệu USD)

TT %

1

53.9

29.7

21.35

34.12

+59.86

2

31.7

21.9

18.92

17.51

-7.46

3

25.1

6.5 

28.06

49.15

+75.2

4

42.0

22.6 

33.58

37.36

+11.3

5

37.6

45.09 

32.70

 

 

6

16.3

54.29 

24.47

 

 

7

26.8

26.68 

26.84

 

 

8

22.9

13.18 

33.67

 

 

9

29.9

18.26 

17.08

 

 

10

31.9

27.84 

41.70

 

 

11

16.1

22.00 

33.34

 

 

12

15.9

33.74 

43.93

 

 

Tổng

350.1

321.82

355.62

138.14

 

Hình 3. Kim ngạch nhập khẩu trâu/bò sống của Việt Nam năm 2017 – 2019 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

  1. THỊT GÀ

Nguồn cung gà to sụt giảm mạnh khiến giá gà trắng tại thị trường miền Nam bật tăng mạnh trong nửa cuối tháng 5 vừa qua.

  1. Gà trắng

Thị trường gà trắng 2 miền có những diễn biến trái chiều trong tháng 5 vừa qua. Tại thị trường miền Bắc, trong nửa đầu tháng, giá gà bán ra liên tiếp có điều chỉnh giảm với tổng mức giảm so với ngày đầu tháng là 7.000 đồng/kg, còn quanh mức 23.500-24.000 đồng/kg. Nguyên nhân khiến giá gà giảm như vậy là do: (1) Lượng gà từ miền Nam được đóng ra Bắc khá mạnh tạo áp lực lên giá gà hơi miền Bắc; (2) Nguồn cung gà từ các công ty ra thị trường nhiều trong khi tiêu thụ không thực tốt; (3) Thời tiết nắng nóng khiến tiêu thụ thịt giảm. Sang đến nửa cuối tháng, giá gà lại có những tăng giảm thất thường, như ở cuối tuần thứ 3 tăng tới 7.000 đồng/kg lên cao nhất được 31.000 đồng/kg nhưng sau đó lại giảm lại 5.000 đồng/kg và lại nhích tăng ở những ngày gần cuối tháng. Theo đó, tính đến cuối tháng, giá gà bán ra giao dịch quanh mức 27.500-28.000 đồng/kg, thấp hơn 4.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 9.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Trong giai đoạn này, nguyên nhân khiến giá gà biến động liên tục như vậy là do (1) Thời tiết mát mẻ hơn giúp cải thiện phía cầu, tiêu thụ tại các chợ cũng tốt hơn; (2) Tình dịch dịch tả châu Phi lan rộng trên đàn heo khiến các bếp ăn tập thể quay ra dùng thịt gà; (3) Nguồn cung gà có khi ồ ạt được đẩy ra thị trường, kéo giá giảm nhưng sau đó biểu gà lại chủ yếu còn biểu nhỏ nên đẩy giá tăng lại.

Tại thị trường miền Nam, giá gà trắng tiếp đà giảm thêm ở nửa đầu tháng, xuống thấp nhất 16.000-17.000 đồng/kg, nguyên nhân khiến giá giảm sâu như vậy là do thông tin dịch tả heo châu Phi tại một số địa phương miền Nam khiến lượng heo dân bán chạy dịch đổ ra thị trường nhiều khiến giá heo mảnh rớt sâu, kéo theo tiêu thụ thịt gà tại các bếp ăn tập thể giảm lại, tạo áp lực lên giá gà. Theo thông tin từ thương nhân cho biết, ở thời điểm giá gà miền Nam sụt sâu, gà Nam được đóng ra Bắc tiêu thụ, gà đưa ra biểu to, khoảng trên dưới 4kg/con, được đưa ra các chợ đầu mối Bình Đà, Hà Vỹ, Yên Viên và một số đơn vị mổ nhỏ lẻ khác. Sang đến nửa cuối tháng, giá gà trắng khu vực này bật tăng mạnh trở lại do nguồn cung gà to giảm mạnh do đã đưa mạnh ra Bắc tiêu thụ khiến lượng gà ra thị trường giảm, giá lên cao nhất được 26.000-28.000 đồng/kg; tuy nhiên, những biến động liên tiếp trong những ngày cuối tháng khiến giá gà ngày cuối tháng còn quanh mức 24.000-25.000 đồng/kg, thấp hơn 2.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 6.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá gà miền Nam tăng lại nên gà Nam không còn được đóng ra Bắc do chênh lệch giá thu hẹp, không hấp dẫn các lái gom hàng. Giá gà giống DOC miền Bắc liên tiếp có điều chỉnh giảm trong tháng qua, giá giao dịch ở tuần cuối tháng còn từ 8.000-10.000 đồng/con, giảm 6.000 đồng/con so với đầu tháng; trong khi đó, tại miền Nam thì giá giảm về thấp nhất còn 9.000-10.000 đồng/con, nhưng sau đó tăng lại lên cao nhất được 11.000 đồng/con.

Hình 4. Diễn biến giá gà trắng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016-5/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

3.2. Gà tam hoàng

Đối với gà màu, nếu trong tuần đầu tháng, giá gà màu tại thị trường miền Bắc có xu hướng giảm với tổng lượng giảm từ 3.000-4.000 đồng/kg, kéo giá gà bán ra còn quanh mức 41.000-42.000 đồng/kg; thì sang đến nửa cuối tháng giá gà màu lại quay đầu nhích tăng trở lại, lên dao động từ 43.000-45.000 đồng/kg, tăng 2.000-3.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng, nhưng vẫn thấp hơn 2.000-4.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước và thấp hơn 5.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018. Tại thị trường miền Nam, giao dịch có xu hướng tăng giảm liên tục và đều đặn hơn so với miền Bắc, khi sự tăng/giảm đan xem giữa các tuần. Tính đến ngày cận cuối tháng, sau khi có điều chỉnh tăng lại từ 3.000-4.000 đồng/kg, giá gà miền Nam lên quanh mức 40.000-42.000 đồng/kg, giá này vẫn thấp hơn 8.000 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước nhưng lại cao hơn 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Hình 5. Diễn biến giá gà tam hoàng tại miền Bắc và miền Nam từ tháng 10/2016 – tháng 5/2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 4/2019 tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam đạt gần 23.48 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng trước với mức giảm khoảng 4%, tương đương gần 1 triệu USD; so sánh với cùng kỳ năm 2018, mức nhập khẩu tháng 4 này lại tăng gấp hơn 2 lần, tương đương 12.17 triệu USD. Trong tháng 3 này Mỹ tiếp tục là giữ vị trí đứng đầu trong danh sách các quốc gia có thị phần xuất khẩu thịt gà đã qua giết mổ lớn nhất vào Việt Nam với tổng kim ngạch đạt 10.44 triệu USD, chiếm 44.4% tổng kim ngạch.

Bảng 12. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2016-2019 (triệu USD)

Tháng

2016 triệu USD

2017 triệu USD

2018 triệu USD

2019 triệu USD

TT %

1

7.6

6.1

16.3

19.12

+17.3

2

5.3

7.5 

8.82

9.39

+6.6

3

10.0

8.1 

15.35

24.47

+59.4

4

9.0

7.6 

11.31

23.48

+107.6

5

10.7

11.74 

17.21

 

 

6

10.1 

9.31

15.36

 

 

7

13.2

9.44 

14.67

 

 

8

10.7

8.93 

14.76

 

 

9

6.8

7.64 

14.33

 

 

10

6.7

9.12 

19.14

 

 

11

8.5

11.76 

19.66

 

 

12

10.9

16.21 

19.20

 

 

Tổng

99.4

113.38

186.10

76.46

 

Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu thịt gia cầm đã qua giết mổ của Việt Nam năm 2017 – 2019 (triệu USD)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

GIAO DỊCH BIÊN MẬU

Giao dịch biên mậu tiếp tục trầm lắng do Campuchia tiếp tục kiểm soát chặt sau khi Việc Nam công bố có dịch tả châu Phi tại các tỉnh miền Nam.

Với giao dịch biên mậu, giá heo Thái tiếp tục tăng cao trong tháng qua, với mức phổ biến từ 74-75 baht/kg, tương đương 55.000-56.000 đồng/kg nên nhu cầu của Cam với heo từ Việt Nam là rất lớn. Mặc dù vậy, việc Việt Nam công bố có dịch tả châu Phi tại miền Nam khiến cho phía Campuchia tiếp tục kiểm soát chặt, heo khó đi hơn, với lượng phổ biến khoảng 200-300 con/ngày, nhiều nhất được 500-600 con/ngày; giá heo tại biên dao động từ 36.000-42.000 đồng/kg tùy việc trả nhanh hay trả chậm. Để tránh công an và biên phòng nên dạng mua lẻ bằng xe máy được sử dụng nhiều hơn.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ                                                              

Một trong những ước tính mới nhất cho biết đàn lợn của Trung Quốc có thể bị suy giảm tới 35% trong năm nay do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi, cao hơn nhiều so với các ước tính trước đó.

Theo số liệu của FAO dựa trên công bố dịch từ Bộ NN Trung Quốc, dịch tả châu Phi đang có xu hướng tăng trở lại trong 3 tháng gần đây. Số ổ dịch tại Trung Quốc sau khi đạt đỉnh vào tháng 10/2018 thì giảm mạnh và đạt đáy vào tháng 1/2019. Nhưng từ tháng 2/2019 trở lại đây số ổ dịch có xu hướng tăng. Riêng trong tháng 4/2019, Trung Quốc công bố thêm 10 ổ dịch mới, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung, miền Nam và Tây Bắc. Sang đến tháng thứ 5, nếu như ở nửa đầu tháng, thông tin về các ổ dịch có phần tạm lắng thì sang nửa cuối tháng 5, Bộ NN Trung Quốc tiếp tục công bố thêm các ổ dịch tả heo châu Phi mới bùng phát tại nhiều tỉnh thành ở cả miền Bắc-Trung-Nam của nước này.

STT

Ngày

Địa phương có dịch

Thiệt hại

1

18/5

Quý Châu

Chính quyền thành phố Quý Châu đã tiến hành bắt giữ 1 lô heo còn 75 con, trong đó có 6 con đã chết và 6 con nghi nhiễm bệnh được vận chuyển trái phép mang đi tiêu thụ

2

20/5

Tứ Xuyên

Dịch tả châu Phi được phát hiện tại một trang trại có 429 con trong đó có 78 con đã chết tại vùng Zoige

3

21/5

Ninh Hạ

1 ổ dịch mới tại tỉnh Ninh Hạ - Tây Bắc Trung Quốc trên 1 trang trại có 40 con, trong đó có 3 con đã chết

4

27/5

Quảng Tây và Vân Nam

2 ổ dịch tả châu Phi mới làm tổng cộng 105 con heo bị ảnh hưởng

5

29/5

Vân Nam

1 ổ dịch tả châu Phi mới được công bố, làm 12/80 con lợn bị chết

 

  • Theo quy định mới của chính phủ Trung Quốc, chỉ có Bộ NN và Tổng cục giám sát thị trường mới được đưa thông tin về các kết quả xét nghiệm liên quan đến dịch tả châu Phi, nhằm hạn chế những thông tin tiêu cực, giúp cải thiện tình hình tiêu thụ. Một trong những ước tính mới nhất cho biết đàn lợn của Trung Quốc có thể bị suy giảm tới 35% trong năm nay do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi, cao hơn nhiều so với các ước tính trước đó. Phát biểu trong cuộc họp lần thứ 87 tổ chức tại Paris (Pháp) ngày hôm 29/5, Tổ chức thú y thế giới (OIE) cho biết Trung Quốc sẽ còn mất nhiều năm nữa mới có thể loại bỏ được virus tả châu Phi ra khỏi đất nước.
  • Theo tờ South China Morning Post, hôm 10/5, Hồng Kông đã cho tiêu hủy 6.000 con heo sau khi phát hiện có 1 con heo trong đàn bị nhiễm virus ASF tại một lò mổ gần biên giới với Trung Quốc-nơi cung cấp 80% thịt heo cho thị trường. Số heo này có nguồn gốc từ 1 trang trại của tỉnh Quảng Đông. Lo ngại heo bệnh có thể đã được vận chuyển đi nơi khác, nên 1 lò mổ quy mô lớn khác của đặc khu thời điểm đó cũng bị tạm đình chỉ hoạt động. Trong một diễn biến khác, hôm 30/5, Bộ NN Triêu Tiên chính thức báo cáo lên Tổ chức thú y thế giới (OIE) ổ dịch đầu tiên tại nước này. Theo đó, ổ dịch được xác nhận vào ngày 25/5 tại 1 trang trại thuộc Chagang-Do, gần biên giới với Trung Quốc, làm 77/ 99 con heo chết do nhiễm virus ASF.
  • Hôm 24/5, Reuters dẫn nguồn tin từ công bố của Viện nghiên cứu thú y Cáp Nhĩ Tân cho biết họ đã tìm ra 2 loại vắc xin đã được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm có khả năng miễn dịch với virus tả châu Phi. Viện Hàn lâm khoa học nông nghiệp Trung Quốc cho biết sẽ đẩy nhanh tiến độ thử nghiệm lâm sàng cũng như sản xuất vắc xin. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu về vắc xin động vật khá thận trọng trước công bố này bởi lẽ việc sản xuất và đưa ra thị trường một loại vắc xin hiệu quả là khá khó khăn khi Trung Quốc đang có ít nhất 2 chủng virus hiện hữu. Do đó, việc khảo nghiệm vắc xin trên thực địa và đưa ra thị trường có thể phải mất nhiều năm. Một trong những ước tính mới nhất cho biết đàn lợn của Trung Quốc có thể bị suy giảm tới 35% trong năm nay do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi, cao hơn nhiều so với các ước tính trước đó.
  • Theo Tổng cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, chỉ số giá tiêu dùng tại nước này trong tháng 4 đã tăng lên mức cao nhất trong 6 tháng do giá thịt heo tăng mạnh 14,1%. Thống kê của Bộ NN Trung Quốc cũng cho thấy, số lượng đàn heo nái của Trung Quốc trong tháng 4 đã giảm 22,3% so với cùng kỳ năm trước khiến cho tổng đàn heo giảm 20.8%. JBS SA – nhà đóng gói thịt lớn nhất thế giới cho biết họ đang được hưởng lợi lớn từ các nhà xuất khẩu thịt do nhu cầu nhập khẩu thịt các loại của Trung Quốc tăng mạnh. Trong 4 tháng đầu năm 2019, doanh số bán thịt bò của Úc đi Trung Quốc đã tăng 66% trong khi từ Brazil tăng 14%. Theo nhận định của Credit Suisse- một tổ chức tài chính của Thuỵ Sĩ, nguồn cung thịt toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong vòng 2 năm tới do ảnh hưởng của dịch tả châu Phi và chưa từng ghi nhận cú sốc nào lớn như vậy trong lịch sử.
  • Theo số liệu hải quan Trung Quốc công bố, nhập khẩu thịt heo của nước này trong tháng 4 là 136.517 tấn, tăng 7.31% so với tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng có mức nhập khẩu thịt cao nhất trong 2 năm trở lại đây.
  • Liên quan tới hoạt động thương mại Mỹ-Trung, sau gần 1 tháng không mua thịt heo đông lạnh từ Mỹ do căng thẳng thương mại Mỹ Trung leo thang thì trong tuần giữa tháng 5 Mỹ bán cho Trung Quốc 31.400 tấn và xuất đi Trung Quốc 4.500 tấn- theo số liệu từ Bộ NN Mỹ. Tính từ 1/1-16/5/2019, Trung Quốc đã mua tổng cộng 195.000 tấn thịt heo đông lạnh từ Mỹ, tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ năm trước và vươn lên là đầu ra lớn nhất cho thịt heo Mỹ. Ngoài ra, trong báo cáo được công bố hôm 16/5, Bộ NN Mỹ cho biết, Trung Quốc huỷ mua 3.200 tấn thịt heo đông lạnh từ Mỹ trong tuần 03-09/05 – trước thời điểm Mỹ áp thuế thêm 15% đối với 200 tỷ hàng hoá của Trung Quốc.
  • Trước sự bùng phát mạnh của dịch tả châu Phi tại Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia thì kể từ 1/6 Hàn Quốc cũng tiến hành phạt nặng với những du khách mang theo các sản phẩm thịt heo từ những khu vực bị ảnh hưởng bởi dịch tả châu Phi. Theo đó, mức phạt cho người vi phạm lần đầu là 5 triệu won (tương đương 4.200 USD), lần 2 là 7.5 triệu won và lần 3 là 10 triệu won. Hàn Quốc là một trong những nước có đàn heo phát triển tại khu vực châu Á nhưng cũng là nước đón nhận lượng du khách đến từ Trung Quốc, Việt Nam rất lớn.
  • Theo tin từ UPI, Bộ NN Mỹ có kế hoạch xét nghiệm virus tả châu Phi trên đàn heo Mỹ như 1 phần trong chương trình kiểm soát sự lây lan của virus lên đàn heo, nhằm bảo vệ ngành chăn nuôi trị giá 20 tỷ USD.
  • Với giao dịch heo hơi, nếu như trong 3 tuần đầu tháng, giá heo hơi tại thị trường Trung Quốc chủ yếu có điều chỉnh giảm, đặc biệt là ở khu vực phía Nam nước này, thì sang đến tuần cuối tháng, giá heo bình quân nhích tăng trở lại bất chấp giá heo tại vùng dịch tiếp tục suy giảm. Theo đó, tính đến ngày cuối tháng, giá bình quân cả nước tăng 0.14 tệ/kg so với ngày đầu tháng, lên 15.21 tệ/kg, tương đương trên 51.000 đồng/kg.

Hình 7. Đồ thị giá heo hơi tại Quảng Đông, Quảng Tây từ tháng 01 năm 2016- tháng 5 năm 2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 

- Bộ NN Việt Nam ban hành hướng dẫn số 3708 về quản lý giết mổ lợn, tiêu thụ sản phẩm từ lợn khi có bệnh dịch tả lợn châu Phi. Theo hướng dẫn này, việc vận mua bán lợn đối với các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ trở nên khó khăn hơn.

- Tính từ 1/1-16/5/2019, Trung Quốc đã mua tổng cộng 195.000 tấn thịt heo đông lạnh từ Mỹ, tăng gấp 10 lần so với cùng kỳ năm trước và vươn lên là đầu ra lớn nhất cho thịt heo Mỹ.

 

 

 

 

 

 

Tin tham khảo