Cao su 7/2018 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam giảm mạnh

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cao su 7/2018 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam giảm mạnh

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 7

Thị trường cao su thế giới

- Theo ANRPC, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm 2018 ước đạt mức 14,040 triệu tấn, tăng 5,2% so với năm 2017.

- Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu 6,960 triệu tấn tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017.

- Tại sàn Thượng Hải và sàn Tocom, giá cao su tiếp tục giảm từ đầu tháng 7 và tăng nhẹ trong cuối tháng.

Thị trường cao su trong nước

- Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 7/2018 giảm mạnh so với tháng 6/2018. Tính bình quân tháng 7, các loại mủ đã giảm từ 7-9% so với tháng 6/2018.

- Giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 7/2018 cũng giảm mạnh. Tính bình quân tháng 7, các loại cao su thành phẩm giảm từ 8-9% so với tháng 6/2018.

Thương mại

- Theo Bộ NN&PTNT, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 7/2018 của Việt Nam đạt 131 nghìn tấn với giá trị đạt 177 triệu USD. Tính chung 7 tháng năm 2018, xuất khẩu cao su đạt 696 nghìn tấn, trị giá 997 triệu USD, tăng 9,9% về lượng và giảm 10,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

- Trong tháng 6/2018, xuất khẩu cao su sang thị trường Mỹ tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 4 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam.

- Trong tháng 6/2018, xuất khẩu cao su SVR L và Latex có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như RSS 3 có xu hướng giảm mạnh.

- Trong tháng 6/2018, CT CP XNK Tổng Hợp Bình Phước tiếp tục là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 23,79 nghìn tấn, kim ngạch 33,13 triệu USD, tăng 77,98% về lượng và 72,33% về kim ngạch so với tháng 5/2018.

 

PHẦN 1:  THỊ TRƯỜNG CAO SU THẾ GIỚI
1. Tổng cung cao su thiên nhiên tại các nước sản xuất lớn nhất thế giới năm 2018

Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC) công bố dự đoán sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu đạt mức 14,040 triệu tấn.

Theo báo cáo tháng 6/2018 của ANRPC, sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu dự kiến sẽ đạt 14,040 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,2% so với năm 2017, giảm 0,78% so với mức dự báo của tháng 5.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu đạt 6,214 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tổng sản lượng cao su thiên nhiên toàn thế giới, 2007 – 2018, (Nghìn tấn)

Nguồn: ANRPC

Sản lượng cao su ở Việt Nam trong nửa đầu năm 2018 đã giảm 19,2% so với cùng kỳ năm 2017, do các yếu tố thời tiết bất lợi gồm sự xuất hiện của các cơn bão, nhiệt độ cao và lũ lụt. Tại Malaysia, sản lượng giảm 20,4% xuống 302.000 tấn chủ yếu do giá cao su không hấp dẫn với nông dân và thời tiết bất lợi. Ấn Độ đã giảm 8,1% sản lượng trong nửa đầu năm 2018 do ngày mưa nhiều và nông dân hạn chế khai thác. Trận lụt trong tháng 7/2018 tại bang Kerala của Ấn Độ, có thể khiến sản lượng cao su của nước này không được như dự kiến​​ trong năm 2018.

Tất cả các nước thành viên ANRPC ngoại trừ Malaysia được dự đoán sẽ tăng trưởng sản lượng dương mặc dù giá cả còn bất ổn. Malaysia dự kiến ​​sẽ sản xuất 700.000 tấn trong năm 2018, giảm 5,4% so với năm 2017. Sản lượng của nước này thấp hơn dự kiến ​​trong năm 2018 là do cây cao su được tái canh với mật độ lớn, làm giảm năng suất lấy mủ.

Báo cáo từ cơ quan thống kê Malaysia công bố hôm 12/7 cho biết, trong tháng 5, sản lượng cao su tự nhiên của Malaysia tăng 0,2% so với tháng 4 lên 35.789 tấn. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2017, sản lượng đã giảm 18,6%. Xuất khẩu cao su tự nhiên tăng 7,6% so với tháng 4 lên 57,263 tấn, với Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm 53,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiêu thụ cao su tự nhiên nội địa trong tháng 5 tăng 1.5% lên 44.043 tấn. Dự trữ cao su tự nhiên ghi nhận vào cuối tháng 5 đạt 216.674 tấn, giảm 14,6% so với cuối tháng 4.

Bộ Nông nghiệp Campuchia cho biết, trong nửa đầu năm 2018 xuất khẩu cao su của quốc gia này đã tăng 21% so với cùng kỳ năm 2017. Các nhà sản xuất trong nước đã xuất khẩu 84.419 tấn cao su trong 6 tháng đầu năm 2018, tăng 14.376 tấn so với một năm trước đó. Tổng diện tích trồng cao su cũng tăng, đạt 436.299 ha.

Campuchia sẽ không cắt giảm sản xuất cao su tự nhiên như các nước sản xuất lớn đang làm để thúc đẩy giá cao su. Nước này cho biết họ là một nhà cung cấp nhỏ trên thị trường toàn cầu và bất chấp giá giảm, sẽ không cắt giảm sản xuất hoặc giảm diện tích trồng cao su.

Chính phủ Thái Lan đã lên kế hoạch giảm diện tích trồng cao su trong năm 2018, tiếp tục nỗ lực giảm sản lượng cao su tự nhiên để nâng giá cao su nội địa. Phó thủ tướng Thái Lan Somkid Jatusripitak đã chỉ đạo các lãnh đạo cấp cao của Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Nông nghiệp Thái Lan cố gắng giảm diện tích cao su thêm 32.000ha trong 5 năm tới.

Chính phủ Thái Lan cam kết hỗ trợ 16.000 Baht/rai, tương đương khoảng 3.000 USD/ha, giới hạn 10 rai/hộ gia đình, tương đương 1,6ha/hộ gia đình tham gia chương trình. Nhưng những nông dân đủ điều kiện tham gia phải trồng cao su trên diện tích quy hoạch được phép sản xuất cao su.

Diện tích cao su của nước này đã giảm 64.000ha. Bất chấp diện tích cao su giảm, giá cao su nội địa tại Thái Lan vẫn chưa cải thiện. Tính đến tháng 6/2018, diện tích cao su của Thái Lan ước đạt khoảng 2,88 – 3,2 triệu ha.

Thâm hụt sản xuất – tiêu dùng cao su tự nhiên Ấn Độ đạt mức cao kỷ lục

Theo Hiệp hội các nhà sản xuất lốp ô tô Ấn Độ (ATMA), khoảng cách giữa sản xuất và tiêu thụ cao su của nước này dự kiến là 470.000 tấn trong năm tài khóa hiện tại (2018 - 2019), đánh dấu một mức cao chưa từng có. 

Thuế nhập khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ thuộc hàng cao nhất thế giới, gần 30%. Trong khi 35% nhu cầu cao su tự nhiên tại Ấn Độ vẫn đến từ nguồn nhập khẩu. Trong tháng 5/2018, ATMA đã yêu cầu Bộ Thương mại và Công nghiệp Thương mại miễn thuế nhập khẩu lượng cao su tương đương với mức thâm hụt trong nước dự kiến, vì thuế nhập khẩu cao làm tổn hại đến khả năng cạnh tranh về giá của ngành.

Đến cuối tháng 7/2018, Hiệp hội các nhà sản xuất lốp xe hơi Ấn Độ (ATMA) tiếp tục yêu cầu chính phủ một lần nữa cho phép nhập khẩu cao su theo cơ chế hạn ngạch thuế, với mức thuế trong hạn ngạch đề xuất là 0%.

 

2. Nhu cầu, tiêu thụ, tồn kho cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp toàn thế giới

Theo báo cáo tháng 6/2018 của ANRPC, tiêu thụ cao su toàn cầu dự kiến sẽ đạt 14,136 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,7% so với năm 2017.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đạt 6,960 triệu tấn tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo Bộ Công thương Ấn Độ, tiêu thụ cao su của nước này tăng từ mức 9,8 triệu tấn niên vụ 2013 - 2014 lên 11,1 triệu tấn niên vụ 2017 - 2018.

Tính đến 30/6, lượng cao su tồn kho tại Thanh Đảo – Trung Quốc tăng 3,57% so với trung tuần tháng 6/2018, lên mức 188,5 nghìn tấn, trong đó cao su thiên nhiên đạt 73,3 nghìn tấn, cao su tổng hợp khoảng 111,5 nghìn tấn.

Số liệu tồn kho cao su tại cảng Thanh Đảo (Trung Quốc) ngày 30/06/2018

Đơn vị: Tấn

 

Cao su thiên nhiên

Cao su hỗn hợp

Cao su tổng hợp

Tổng

Tồn kho đến 15/06/2018

69.800

3.700

108.500

182.000

Tồn kho đến 30/06/2018

73.300

3.700

111.500

188.500

Thay đổi

+3.500

0

+3.000

+6.500

Tỷ lệ

+5,01%

0,00%

+2,76%

+3,57%

Nguồn: Bộ Công Thương

 

PHẦN 2: GIÁ CAO SU THẾ GIỚI – GIÁ CAO SU VIỆT NAM  VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Giá cao su tại thị trường thế giới

Trong quí 1/2018, giá cao su thế giới liên tục giảm bất chấp nỗ lực cắt giảm xuất khẩu từ các nước sản xuất hàng đầu. Sang quý 2/2018, dù cho giá cao su đã phục hồi nhẹ trong tháng 5 nhờ được hậu thuẫn bởi giá dầu tăng cao, nhưng nhìn chung giá vẫn giảm trong quý này, khi mà căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn tiếp diễn. Xu hướng giảm vẫn tiếp tục trong tháng 7/2018.

Tại sàn Thượng Hải và sàn Tocom, giá cao su tiếp tục giảm từ đầu tháng 7 do tình hình căng thẳng kinh tế Mỹ-Trung leo thang và đồng Yên tăng mạnh mẽ. Đến cuối tháng giá cao su tại cả 2 sàn có tăng nhẹ nhờ giá dầu hỗ trợ nhưng xu hướng này không kéo dài lâu.

Cụ thể, tại Tocom, tính trung bình trong tháng 7/2018, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 8/2018 giảm 8,02 Yên/kg xuống mức 165,80 Yên/kg. Còn tại Shfe, tính trung bình trong tháng 7/2018, giá cao su thiên nhiên giao kỳ hạn tháng 8/2018 giảm 606 NDT/kg xuống mức 10.234 NDT/kg.

Dự báo trong cuối năm giá cao su thế giới vẫn rất bất ổn, và nguyên nhân phần lớn là do các yếu tố bên ngoài ngành.

Diễn biến giá cao su RSS3 kỳ hạn tháng 8/2018, 9/2018 và 10/2018 tại sàn giao dịch Tocom, Yên/kg

Nguồn: Tocom

Diễn biến giá cao su thiên nhiên kỳ hạn tháng 8/2018, 9/2018 và 10/2018 tại sàn giao dịch Thượng Hải, NDT/tấn

Nguồn: Shfe

2. Giá cao su nguyên liệu tại thị trường Việt Nam

Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 7/2018 giảm mạnh so với tháng 6/2018. Tính bình quân tháng 7, các loại mủ đã giảm từ 7-9% so với tháng 6/2018. Giá mủ cao su giảm theo đà giảm của thế giới.

Trong khi đó, giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 7/2018 cũng giảm mạnh. Tính bình quân tháng 7, các loại cao su thành phẩm giảm từ 8-9% so với tháng 6/2018.

Giá thu mua một số loại mủ cao su bình quân tháng 7/2018 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

T7/2018

T6/2018

T7/2017

% thay đổi T7/2018 so với T6/2018

% thay đổi T7/2018 so với T7/2017

Mủ chén dây khô

10,209

11,119

12,990

-8.18

-21.41

Mủ chén dây vừa

9,018

9,852

11,457

-8.47

-21.29

Mủ chén ướt

7,091

7,700

9,127

-7.91

-22.31

Mủ tạp

10,209

11,119

12,990

-8.18

-21.41

Mủ đông khô

9,218

10,057

11,795

-8.34

-21.85

Mủ đông vừa

8,295

8,986

10,481

-7.68

-20.85

Mủ đông ướt

7,495

8,152

9,420

-8.06

-20.43

Mủ tận thu

3,795

4,110

4,810

-7.64

-21.09

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá thu mua một số loại cao su thành phẩm bình quân tháng 7/2018 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

TB tháng 7/2018

TB tháng 6/2018

TB tháng 7/2017

% thay đổi T7/2018 so với T6/2018

% thay đổi T7/2018 so với T7/2017

RSS1

31691

34586

37281

-8.37

-14.99

RSS3

30991

33867

36538

-8.49

-15.18

SVR 3L

30832

33810

34657

-8.81

-11.04

SVR L

31132

34110

35367

-8.73

-11.97

SVR 5

30368

33267

34095

-8.71

-10.93

SVR 10

29968

32867

32102

-8.82

-6.65

SVR 20

29668

32567

31893

-8.90

-6.98

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá mủ chén dây khô, mủ đông khô và mủ tận thu từ tháng 1/2017 – tháng 7/2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá cao su thành phẩm RSS3, SVR3L, SVR10 tại khu vực Đông Nam Bộ từ tháng 1/2017 – tháng 7/2018, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam
3.1. Giá xuất khẩu một số chủng loại cao su chính

Trong tháng 6/2018, giá xuất khẩu cao su có xu hướng tăng giảm trái chiều tùy theo chủng loại. Cụ thể, đối với cao su SVR3L, giá xuất khẩu tháng 6/2018 điều kiện giao hàng CIF ở mức bình quân 1.461 USD/tấn, giảm 2,59% so với tháng trước. Trong khi với cùng điều kiện giao hàng, giá xuất khẩu cao su SVR 10 đạt mức bình quân 1.406 USD/tấn, tăng 0,9% so với tháng 5/2018.

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR3L theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2017-6/2018, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR10 theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2017-6/2018, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

PHẦN 3: XUẤT KHẨU – DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM 2018

Theo Bộ NN&PTNT, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 7/2018 của Việt Nam đạt 131 nghìn tấn với giá trị đạt 177 triệu USD. Tính chung 7 tháng năm 2018, xuất khẩu cao su đạt 696 nghìn tấn, trị giá 997 triệu USD, tăng 9,9% về lượng và giảm 10,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Còn theo số liệu của TCTK, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 7/2017 đạt 140 nghìn tấn, trị giá 189 triệu USD. Tính chung 7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu cao su đạt 705 nghìn tấn, trị giá 1 tỷ USD, tăng 11,3% về lượng và giảm 9,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2017-7/2018

Nguồn: TCHQ, (*) Bộ NN&PTNT, (**) GSO

Trong tháng 6/2018, xuất khẩu cao su sang thị trường Mỹ tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 4 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam. Ngược lại, tiêu thụ cao su của Sri Lanka đã giảm mạnh và tụt xuống xếp ở vị trí thứ 7.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam sang top 20 thị trường tháng 6/2018 so với tháng 5/2018

Thị trường

T6/2018

% thay đổi T6/2018 so với T5/2018

Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

China

87.98

123.48

10.03

8.09

India

3.96

5.92

17.48

14.93

Germany

3.51

5.36

13.53

7.94

USA

3.04

4.29

66.58

68.58

Korea

2.65

4.10

50.67

47.90

Turkey

2.52

3.57

58.74

51.20

Sri Lanka

2.25

3.33

-12.04

-17.93

Taiwan

1.72

2.69

-21.87

-22.15

Malaysia

1.61

2.18

-16.96

-17.57

Spain

1.27

1.89

52.39

52.48

Italy

1.21

1.69

-7.98

-4.54

Netherlands

1.15

1.42

-0.51

4.39

Brazil

1.03

1.39

60.66

55.24

Indonesia

0.92

1.49

-14.63

-8.37

Japan

0.78

1.39

-16.15

-11.72

Canada

0.61

0.91

75.46

88.22

Pakistan

0.60

0.86

58.10

51.36

Bangladesh

0.54

0.83

202.06

203.76

Russia

0.52

0.73

-27.71

-29.47

Egypt

0.46

0.64

-20.31

-17.85

Khác

4.04

5.76

40.50

34.23

Tổng

122.39

173.91

11.94

10.02

Nguồn: TCHQ

Trong tháng 6/2018, xuất khẩu cao su SVR L và Latex có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như RSS 3 có xu hướng giảm mạnh.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam theo chủng loại tháng 6/2018 so với tháng 5/2018

 

T6/2018

% thay đổi T6/2018 so với T5/2018

Chủng loại

 Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

SVR3L

46.46

67.55

15.41

11.81

SVR10

39.42

55.02

8.52

8.54

Latex

9.73

10.44

56.53

57.24

RSS3

6.78

10.55

-34.07

-33.76

SVRCV60

6.53

10.51

31.35

29.21

Cao su tổng hợp

5.69

8.42

2.87

7.82

Cao su hỗn hợp

2.88

4.48

33.82

32.37

SVRCV50

1.68

2.73

24.02

21.77

Khác

1.56

1.62

53.44

79.62

RSS1

0.75

1.21

38.80

35.19

SVR20

0.69

1.03

55.31

53.33

SVRL

0.21

0.34

90.15

90.47

SVR5

 

 

-100.00

-100.00

Tổng

122.39

173.91

11.94

10.02

Nguồn: TCHQ

 

PHẦN 4: NHẬP KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, ước tính khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 7/2018 đạt 42 nghìn tấn, trị giá 79 triệu USD. Tính chung 7 tháng năm 2018, nhập khẩu cao su đạt 332 nghìn tấn, với trị giá 608 triệu USD, tăng 14,6% về lượng và giảm 1,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Một số liệu khác của TCTK cho biết, khối lượng nhập khẩu cao su Việt Nam trong tháng 7/2018 đạt 45 nghìn tấn, trị giá 85 triệu USD. Tính chung 7 tháng năm 2018, nhập khẩu cao su đạt 335 nghìn tấn, với trị giá 614 triệu USD, tăng 15,6% về lượng và giảm 1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2017-7/2018

Nguồn: TCHQ, (*) Bộ NN&PTNT, (**) GSO

Theo số liệu mã HS, nhập khẩu cao su tháng 6/2018 đạt 67,09 triệu USD, giảm 33,22% so với tháng 5/2018. Trong đó, nhập khẩu từ Lào và Campuchia tăng mạnh, trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh.

Kim ngạch nhập khẩu cao su của top 10 thị trường tháng 6/2018 so với tháng 5/2018 (USD)

Thị trường

T6/2018

T5/2018

% thay đổi

Taiwan

9,696,133

3,636,621

166.62

Cambodia

9,421,529

61,276

15275.56

Laos

6,607,480

1,214

544159.26

China

6,226,761

33,467,973

-81.39

Thailand

6,056,839

441,140

1273.00

Korea

5,132,665

3,388,554

51.47

Indonesia

3,658,774

1,810,592

102.08

Japan

3,514,799

1,621,122

116.81

USA

3,185,660

3,676,515

-13.35

Myanmar (Burma)

3,176,000

 

 

Khác

10,414,147

52,355,613

-80.11

Tổng

67,090,785

100,460,620

-33.22

Nguồn: TCHQ

 

PHẦN 5: TRIỂN VỌNG
1. Kinh tế thế giới

Trong Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới được công bố trong tháng 7/2018, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự đoán nền kinh tế toàn cầu có thể tăng trưởng chậm lại đáng kể trước khi năm 2019 khép lại.

Cụ thể, IMF dự đoán kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 3,9% trong cả năm 2018 và 2019, tăng nhẹ so với mức 3,7% năm 2017.

Mức tăng trưởng dự báo của các nền kinh tế phát triển vẫn không thay đổi và sẽ giữ ở mức 2,2% vào năm 2019. Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển và các thị trường mới nổi dự kiến sẽ đạt mức 4,9% vào năm 2018, trước khi vươn lên ngưỡng 5,1% vào năm kế tiếp.

Cụ thể, theo dự báo của IMF, tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong năm 2018 đã bị giảm xuống còn 1,0% so với con số 1,2% được đưa ra vào tháng 4/2018. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế tại khu vực eurozone đã bị cắt giảm từ 2,4% xuống còn 2,2%. Tuy nhiên, dự báo tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ vẫn không thay đổi và giữ nguyên ở mức 2,9% do các chính sách cắt giảm mạnh mẽ về thuế.

Tuy nhiên các chuyên gia cũng cảnh báo các cuộc xung đột thương mại giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại 430 tỷ USD và Mỹ sẽ là bên "đặc biệt dễ bị tổn thương".

2. Triển vọng giá dầu

Theo dự báo trong đầu tháng 7 của Morgan Stanley, các chuyên gia tin rằng giá dầu thô Brent chuẩn quốc tế sẽ tăng trung bình từ 77,5 USD/thùng lên 85 USD/thùng trong 6 tháng cuối năm 2018. Trong tháng 6/2018, giá dầu Brent đang giao dịch quanh mức 78 USD/thùng, giảm so với mức 80,5 USD/thùng hồi tháng 5/2018, mức cao nhất trong vòng ba năm qua.

Một dự báo khác của Ngân hàng America Merrill Lynch cho biết tình trạng nguồn cung dầu thô từ Iran bị “chặn” liên quan tới các lệnh trừng phạt của Mỹ có thể đẩy giá dầu lên tới mức 90 USD/thùng trong quý 4/2018.

Tuy nhiên theo Reuters, giá dầu có thể vẫn duy trì ổn dịnh trong năm 2018 và năm 2019 nhờ sản lượng gia tăng từ OPEC và Mỹ đáp ứng được tăng trưởng nhu cầu, dẫn đầu là châu Á, và giúp cân bằng nguồn cung bị gián đoạn tại Iran và một số nơi khác. Cụ thể, kết quả khảo sát 44 chuyên gia phân tích và các nhà kinh tế của Reuters cho biết, giá dầu thô Brent trung bình đạt 72,87 USD/thùng trong năm 2018, tăng 29 US cent so với dự đoán 72,58 USD trong  tháng 6/2018 và vượt mức trung bình 71,68 USD trong năm 2018.

3. Triển vọng xuất khẩu cao su của Việt Nam

Xuất khẩu cao su của Việt Nam trong 6 tháng cuối năm được dự báo sẽ chậm lại trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung đang leo thang. Mỹ đã đưa một loạt các hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc phải chịu thuế thêm 10% trong đó có lốp xe, điều này sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ cao su của Trung Quốc – nhà tiêu dùng cao su lớn nhất thế giới. Trong khi đó tồn kho của nước này có xu hướng tăng trở lại.

Tuy nhiên, việc xuất khẩu cao su sang Trung Quốc cũng được hỗ trợ bởi từ ngày 1/7/2018 Trung Quốc đã công bố giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ 25% xuống 15%.

Ngoài ra, Ấn Độ sẽ tiếp tục là thị trường tiêu thụ cao su tiềm năng của Việt Nam trong những tháng tới do sản lượng nội địa giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ tăng buộc nước này phải đẩy mạnh nhập khẩu.

 

PHẦN 6: CÁC SỰ KIỆN ĐÁNG CHÚ Ý TRONG THÁNG

9/7: Ngày 17/7 CTCP Cao su Tây Ninh (TRC) sẽ chốt danh sách cổ đông thực hiện chi trả cổ tức năm 2017 bằng tiền tỷ lệ 23%. Tương ứng cổ đông sở hữu 1 cổ phiếu được nhận về 2.300 đồng. Thời gian thanh toán vào 31/7/2018. Như vậy Cao su Tây Ninh sẽ chi khoảng 67 tỷ đồng trả cổ tức lần này cho cổ đông.

11/7: Theo Báo cáo tài chính năm 2017, Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé báo lãi ròng hơn 223 tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2016, lợi nhuận của Công ty phần lớn đến từ hoạt động thanh lý cây cao su. Cụ thể, trong khi lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chính của Công ty (bán mủ cao su và xây dựng) năm 2017 chỉ đạt 1,8 tỷ đồng thì hoạt động thanh lý cao su mang về tới hơn 310 tỷ đồng. Năm 2016, hoạt động này cũng mang về cho Công ty hơn 124 tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính.

12/7: Theo báo cáo sơ bộ 6 tháng đầu năm 2018 của CTCP Cao su Đồng Phú (DPR), doanh thu đạt 358 tỷ đồng, tăng trưởng 5% và thực hiện 49% kế hoạch năm. Trong 6 tháng đầu năm, sản lượng cao su chỉ đạt 4.657 tấn, mới thực hiện được 28% kế hoạch năm. Trong đó, sản lượng chế biến là 5.512 tấn, thực hiện 33% kế hoạch năm. Sản lượng tiêu thụ là 4.671 tấn thực hiện 28,3% kế hoạch.

14/7: Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (GVR) trong cuộc họp HĐQT lần thứ 3 năm 2018 cho biết kết quả kinh doanh trong 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt lợi nhuân trước thuế là 2.105 tỷ đồng, thực hiện 34% kế hoạch năm. Tổng doanh thu ước đạt 9.737 tỷ đồng, đạt 35% kế hoạch năm.

16/7: Theo BCTC quý II, CTCP Cao su Thống Nhất (TNC) đạt doanh thu thuần 22,8 tỷ đồng, tăng trưởng 43% so với năm 2017. Giá vốn tăng mạnh hơn khiến lợi nhuận gộp còn tăng 12,7% đạt 4 tỷ đồng. Trong hoạt động kinh doanh chính của TNC, việc bán mủ cao su vẫn đem lại lợi nhuận gộp chủ yếu với gần 4 tỷ đồng. Tuy nhiên, doanh thu hoạt động tài chính duy trì ở mức cao 17,6 tỷ đồng mới là nhân tố giúp lãi ròng TNC đạt 17,7 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ năm 2017. Trong đó, lãi tiền gửi ngân hàng là 2,4 tỷ đồng và cổ tức, lợi nhuận được chia là 15,3 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm, TNC đạt 33 tỷ đồng doanh thu thuần và 19,6 tỷ đồng lãi ròng; tăng trưởng 27,8% về mặt doanh thu nhưng lãi ròng khá tương đương cùng kỳ năm 2017. So với kế hoạch năm, công ty đã thực hiện được 78,7% kế hoạch lợi nhuận sau thuế.

20/7: CTCP Công nghiệp Cao su Miền Nam (Casumina, CSM) đã công bố báo cáo tài chính quý II với khoản lợi nhuận tiếp tục suy giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2017. Cụ thể, tuy doanh thu thuần công ty quý II tăng 3,7% lên 981,6 tỷ đồng nhưng giá vốn tăng mạnh hơn khiến biên lãi gộp giảm từ 13% xuống 10,5%,lãi gộp giảm 16% xuống 103,8 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm, CSM đạt doanh thu thuần 1.777 tỷ đồng, tăng trưởng 5%; lãi ròng 10 tỷ đồng, giảm 79%. Năm 2018, công ty đặt kế hoạch 105 tỷ đồng lãi trước thuế. Như vậy, sau nửa đầu năm, CSM mới thực hiện 11,7% kế hoạch lãi trước thuế.

23/7: Theo báo cáo kết quả kinh doanh hàng tháng của Công ty cổ phần cao su Đắk Lắk (DRI) cho biết lũy kế tới tháng 6 năm 2018, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp ước đạt 770.000 USD.

26/7: Công ty TNHH MTV Cao su Phú Riềng cho biết tổng doanh thu 6 tháng đạt 643 tỷ đồng, thực hiện 43% kế hoạch. Trong đó doanh thu từ kinh doanh mủ cao su 341 tỷ đồng, đạt 29% kế hoạch. Lợi nhuận trước thuế ước 320 tỷ đồng, đạt 72% kế hoạch. Công ty đã thu mua 2.221 tấn mủ, đạt 28% kế hoạch; chế biến 10.218 tấn sản phẩm các loại, trong đó mủ từ vườn cây của công ty 8.092 tấn, mủ thu mua 2.126 tấn.

27/7: Công ty cổ phần Cao su Đồng Phú (DPR) cho biết ngày 8/8 tới là thời hạn đăng ký cuối cùng để chốt danh sách cổ đông làm cơ sở cho thanh toán cổ tức đợt II/2017. Theo đó, ngày 30/8, DPR sẽ trả cổ tức với tỷ lệ 20% bằng tiền. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2018, DPR đạt 333,4 tỷ đồng doanh thu, 154,4 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, trong khi các chỉ tiêu này của cùng kỳ năm trước lần lượt đạt 316,7 tỷ đồng và 129,7 tỷ đồng.