Cao su 2/2019 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam tăng nhẹ

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cao su 2/2019 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam tăng nhẹ

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 2

Thị trường cao su thế giới

- Theo ANRPC, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm 2018 đạt mức 13,960 triệu tấn, tăng 4,6% so với năm 2017.

- Tiêu thụ cao su toàn cầu đạt 14,017 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,2% so với năm 2017.

- Tại sàn Tocom và sàn Thượng Hải, sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán giá cao su đã tăng liên tiếp và đã có lúc đạt mức cao nhất 9 tháng.

Thị trường cao su trong nước

- Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 2/2019 tăng nhẹ so với tháng 1/2019. Tính bình quân tháng 2, các loại mủ đã tăng từ 3-5% so với tháng 1/2019.

- Giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 2/2019 cũng tăng nhẹ. Tính bình quân tháng 2/2019, các loại cao su thành phẩm đã tăng nhẹ từ 4-5% so với tháng 1/2019.

Thương mại

- Theo số liệu của TCTK, 2 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su đạt 217 nghìn tấn, trị giá 278 triệu USD, tăng 16,6% về lượng và tăng 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

- Trong tháng 1/2019, xuất khẩu cao su sang thị trường Hàn Quốc tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 3 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam.

- Trong tháng 1/2019, xuất khẩu cao cao su hỗn hợp và RSS 1 có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như cao su tổng hợp và SVR 5 có xu hướng giảm mạnh.

- Trong tháng 1/2019, CT TNHH Vạn Lợi tiếp tục là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 26,9 nghìn tấn, kim ngạch 34,73 triệu USD, tăng 1,99% về lượng và 6,72% về kim ngạch so với tháng 12/2018.

 

PHẦN 1:  THỊ TRƯỜNG CAO SU THẾ GIỚI
1. Tổng cung cao su thiên nhiên tại các nước sản xuất lớn nhất thế giới năm 2018

Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC) công bố sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu đạt mức 13,960 triệu tấn.

Theo báo cáo tháng 12/2018 của ANRPC, sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu đã đạt 13,960 triệu tấn trong năm 2018, tăng 4,6% so với năm 2017.

Phần lớn các quốc gia thành viên ANRPC đều tăng trưởng sản lượng tích cực trong năm 2018 như Thái Lan (9,4%), Indonesia (4,0%), Việt Nam (0,5%), Trung Quốc (4,3%), Campuchia (13,9%) và Philippines (8,7%). Tuy nhiên, xuất khẩu của các nước ANRPC đã giảm 1,4%, đạt 10,280 triệu tấn trong năm 2018, so với mức 10,428 triệu tấn trong năm 2017. Đồng thời, nhập khẩu của các nước thành viên ANRPC tăng 1,3% trong năm 2018, đạt 7,806 triệu tấn.

Tổng sản lượng cao su thiên nhiên toàn thế giới, 2007 – 2018, (Nghìn tấn)

Nguồn: ANRPC

Theo Cơ quan Hải quan Thái Lan, năm 2018, lượng cao su xuất khẩu của nước này đạt 5,37 triệu tấn, trị giá 238,36 tỷ Baht (tương đương 7,49 tỷ USD), tăng 3% về lượng, nhưng giảm 20,7% về trị giá so với năm 2017. Trung Quốc, Malaysia và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu cao su chính của Thái Lan trong năm 2018. Trong đó, lượng cao su xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 58% lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan.

Theo Cơ quan quản lý cao su Ấn Độ, nhập khẩu cao su của nước này tăng gần 35% trong 9 tháng tính đến tháng 12/2018 so với cùng kỳ năm trước lên 449.088 tấn.

Sản xuất trong giai đoạn 9 tháng tính đến tháng 12/2018 ghi nhận giảm 8,5% xuống 479.000 tấn. Mặc dù sản xuất thường tăng trong tháng 12, sản lượng đã giảm 8.000 tấn so với một năm trước xuống 78.000 tấn.

Mặc dù Cơ quan quản lý cao su Ấn Độ đặt mục tiêu sản xuất 600.000 tấn trong năm 2019, các thương nhân dự báo sản lượng sẽ thấp hơn. Cả nhập khẩu và sản xuất được dự báo dao động ở khoảng 500.000 tấn.

ITRC dự kiến hạn chế xuất khẩu 300.000 tấn cao su

Trong tuyên bố chung đưa ra hôm 22/2, Hội đồng Cao su Quốc tế Ba bên (ITRC), gồm Thái Lan, Indonesia và Malaysia cho biết đã đưa ra Kế hoạch thống nhất về khối lượng xuất khẩu (AETS). Qua đó, 3 nước sản xuất cao su tự nhiên hàng đầu thế giới sẽ ngừng xuất khẩu lên tới 300.000 tấn nhằm thúc đẩy giá cao su toàn cầu.

Vào ngày 4/3, ITRC sẽ thảo luận về khối lượng xuất khẩu bị hạn chế của mỗi quốc gia và khoảng thời gian thích hợp để áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, ITRC cũng để ngỏ, nếu 3 nước quyết định (vào ngày 4/3) rằng biện pháp này là không cần thiết, 3 nước có thể sẽ trì hoãn kế hoạch.

 

2. Nhu cầu, tiêu thụ, tồn kho cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp toàn thế giới

Theo báo cáo mới nhất của ANRPC, tiêu thụ cao su toàn cầu đã đạt 14,017 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,2% so với năm 2017. Thâm hụt nguồn cung cao su toàn cầu đạt 57.000 tấn.

Theo Cơ quan quản lý cao su Ấn Độ, tiêu thụ cao su của nước này trong 9 tháng tính đến tháng 12/2018 tiếp tục gia tăng. Trong giai đoạn 9 tháng, khối lượng tiêu thụ đã tăng 13% lên 921.600 tấn, trong đà hướng tới mức mục tiêu 1,2 triệu tấn mà cơ quan này đưa ra.

 

PHẦN 2: GIÁ CAO SU THẾ GIỚI – GIÁ CAO SU VIỆT NAM  VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Giá cao su tại thị trường thế giới

Tại hầu hết các sàn giao dịch, trong tháng đầu tiên của năm 2019, giá cao su đã bật tăng mạnh. Sang tháng 2, sau giai đoạn giao dịch trầm lắng trong đầu tháng do kỳ nghỉ Tết nguyên đán thì giá cao su vẫn tiếp tục duy trì được đà tăng.

Tại sàn Tocom và sàn Thượng Hải, kể từ trung tuần tháng 2, giá cao su đã tăng liên tiếp và đã có lúc đạt mức cao nhất 9 tháng. Nguyên nhân là nhờ sự lạc quan về thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung và giá dầu đi lên. Ngoài ra việc các nước sản xuất cao su hàng đầu dự kiến hạn chế xuất khẩu cũng giúp cho giá cao su được hỗ trợ.

Cụ thể, tại Tocom, tính trung bình trong tháng 2/2019, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 1,25 Yên/kg lên mức 185,6 Yên/kg. Còn tại Shfe, tính trung bình trong tháng 2/2019, giá cao su thiên nhiên giao kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 396 NDT/kg lên mức 11.892 NDT/kg.

Dự báo trong tháng tới giá cao su thế giới sẽ tiếp tục tăng do 3 nước sản xuất cao su hàng đầu là Thái Lan, Malaysia và Indonesia thỏa thuận cắt giảm xuất khẩu.

Diễn biến giá cao su RSS3 kỳ hạn tháng 3/2019, 4/2019 và 5/2019 tại sàn giao dịch Tocom, Yên/kg

Nguồn: Tocom

Diễn biến giá cao su thiên nhiên kỳ hạn tháng 3/2019, 4/2019 và 5/2019 tại sàn giao dịch Thượng Hải, NDT/tấn

Nguồn: Shfe

2. Giá cao su nguyên liệu tại thị trường Việt Nam

Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 2/2019 tăng nhẹ so với tháng 1/2019. Tính bình quân tháng 2, các loại mủ đã tăng từ 3-5% so với tháng 1/2019. Giá mủ cao su tăng theo đà tăng của giá cao su thế giới.

Cùng xu hướng, giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 2/2019 cũng tăng nhẹ. Tính bình quân tháng 2/2019, các loại cao su thành phẩm đã tăng nhẹ từ 4-5% so với tháng 1/2019.

Giá thu mua một số loại mủ cao su bình quân tháng 2/2019 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

T2/2019

T1/2019

T2/2018

% thay đổi T2/2019 so với T1/2019

% thay đổi T2/2019 so với T2/2018

Mủ chén dây khô

10,084

9,762

11,742

3.30

-14.12

Mủ chén dây vừa

8,884

8,610

10,311

3.19

-13.84

Mủ chén ướt

7,005

6,795

8,068

3.09

-13.17

Mủ tạp

10,084

9,762

11,742

3.30

-14.12

Mủ đông khô

9,132

8,833

10,611

3.38

-13.94

Mủ đông vừa

8,200

7,910

9,495

3.67

-13.64

Mủ đông ướt

7,384

7,129

8,521

3.59

-13.34

Mủ tận thu

3,732

3,586

4,305

4.07

-13.32

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá thu mua một số loại cao su thành phẩm bình quân tháng 2/2019 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

TB tháng 2/2019

TB tháng 1/2019

TB tháng 2/2018

% thay đổi T2/2019 so với T1/2019

% thay đổi T2/2019 so với T2/2018

RSS1

34932

33524

37563

4.20

-7.01

RSS3

34232

32824

36863

4.29

-7.14

SVR 3L

33832

32419

36863

4.36

-8.22

SVR L

34132

32724

37163

4.30

-8.16

SVR 5

33463

32024

36363

4.49

-7.97

SVR 10

32184

30781

35963

4.56

-10.51

SVR 20

31884

30471

35663

4.64

-10.60

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá mủ chén dây khô, mủ đông khô và mủ tận thu từ tháng 1/2018 – tháng 2/2019, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá cao su thành phẩm RSS3, SVR3L, SVR10 tại khu vực Đông Nam Bộ từ tháng 1/2018 – tháng 2/2019, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam
3.1. Giá xuất khẩu một số chủng loại cao su chính

Trong tháng 1/2019, giá xuất khẩu cao su có xu hướng tăng ở hầu hết các chủng loại và điều kiện giao hàng. Cụ thể, đối với cao su SVR3L, giá xuất khẩu tháng 1/2019 điều kiện giao hàng CIF ở mức bình quân 1.344 USD/tấn, tăng 4,24% so với tháng trước. Trong khi với điều kiện giao hàng FOB đạt mức bình quân 1.346 USD/tấn, tăng 1,74% so với tháng 12/2018.

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR3L theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2018-1/2019, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR10 theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2018-1/2019, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

PHẦN 3: XUẤT KHẨU – DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM 2018

Theo số liệu của TCTK, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 2/2019 đạt 60 nghìn tấn, trị giá 78 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su đạt 217 nghìn tấn, trị giá 278 triệu USD, tăng 16,6% về lượng và tăng 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2018-2/2019

Nguồn: TCHQ, (*) GSO

Trong tháng 1/2019, xuất khẩu cao su sang thị trường Hàn Quốc tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 3 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam. Ngược lại, tiêu thụ cao su của Malaysia đã giảm mạnh và tụt xuống xếp ở vị trí thứ 6.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam sang top 20 thị trường tháng 1/2019 so với tháng 12/2018

Thị trường

T1/2019

% thay đổi T1/2019 so với T12/2018

Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

China

104.27

131.81

-12.62

-8.57

India

13.64

17.95

17.51

18.77

Korea

4.62

6.17

33.39

32.67

Germany

4.46

5.99

42.34

44.38

USA

3.60

4.28

-11.31

-5.73

Malaysia

3.20

3.89

-29.90

-26.94

Turkey

2.53

3.17

-8.30

-4.42

Netherlands

2.27

2.44

-21.89

-22.29

Lithuania

1.94

2.55

-12.80

-9.62

Indonesia

1.92

2.56

105.80

106.97

Taiwan

1.86

2.49

-52.19

-51.33

Spain

1.65

1.99

49.53

51.06

Italy

1.65

1.91

20.65

14.41

Japan

0.94

1.58

-28.87

-19.23

Brazil

0.88

0.91

-10.74

-14.65

Belgium

0.83

0.76

194.54

172.76

Sri Lanka

0.53

0.73

-48.97

-45.30

Egypt

0.52

0.60

-1.07

22.92

Russian Federation

0.51

0.68

-28.56

-26.68

Canada

0.46

0.60

-46.45

-47.43

Khác

5.23

7.25

0.12

7.63

Tổng

157.50

200.32

-8.59

-4.84

Nguồn: TCHQ

Trong tháng 1/2019, xuất khẩu cao cao su hỗn hợp và RSS 1 có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như cao su tổng hợp và SVR 5 có xu hướng giảm mạnh.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam theo chủng loại tháng 1/2019 so với tháng 12/2018

 

T1/2019

% thay đổi T1/2019 so với T12/2018

Chủng loại

 Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

SVR10

60.12

74.49

-8.26

-4.88

SVR3L

56.13

74.74

-8.34

-5.21

Latex

11.37

9.88

-18.01

-14.64

RSS3

9.18

12.60

26.93

33.65

SVRCV60

7.57

10.57

-2.65

-2.64

Cao su tổng hợp

4.76

6.31

-34.68

-33.42

Cao su hỗn hợp

2.28

3.46

27.16

19.28

SVRCV50

1.88

2.67

23.98

25.59

SVR20

1.71

2.20

-3.54

-0.04

Khác

1.22

1.55

-21.79

9.41

RSS1

0.80

1.20

199.34

229.34

SVR5

0.24

0.35

-44.40

-41.92

SVRL

0.22

0.31

-30.80

-27.65

CSR10

 

 

-100.00

-100.00

Tổng

157.50

200.32

-8.59

-4.84

Nguồn: TCHQ

Trong tháng 1/2019, CT TNHH Vạn Lợi tiếp tục là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 26,9 nghìn tấn, kim ngạch 34,73 triệu USD, tăng 1,99% về lượng và 6,72% về kim ngạch so với tháng 12/2018. Ngoài CT TNHH Vạn Lợi, có 11 doanh nghiệp xuất khẩu cao su khác trong top 20 tăng cả về lượng và kim ngạch so với tháng 12.

 

PHẦN 4: NHẬP KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu của TCTK, khối lượng nhập khẩu cao su Việt Nam trong tháng 2/2019 đạt 40 nghìn tấn, trị giá 71 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su đạt 101 nghìn tấn, với trị giá 173 triệu USD, tăng 5,5% về lượng và tăng 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2018-2/2019

Nguồn: TCHQ, (*) GSO

Theo số liệu mã HS, nhập khẩu cao su tháng 1/2019 đạt 77,61 triệu USD, giảm 7,28% so với tháng 12/2018. Trong đó, nhập khẩu từ Campuchia và Mỹ giảm mạnh, trong khi nhập khẩu từ Malaysia tăng mạnh.

Kim ngạch nhập khẩu cao su của top 10 thị trường tháng 1/2019 so với tháng 12/2018 (USD)

Thị trường

T1/2019

T12/2018

% thay đổi

Thailand

10,884,861

9,766,714

11.45

Laos

10,771,869

12,259,719

-12.14

Cambodia

10,312,931

17,532,154

-41.18

Taiwan

9,310,395

8,626,372

7.93

China

6,506,102

5,916,765

9.96

Korea (Republic)

6,375,986

6,054,626

5.31

Singapore

4,108,062

3,485,534

17.86

Indonesia

3,476,987

3,868,786

-10.13

Malaysia

3,447,230

2,849,978

20.96

United States of America

2,865,436

3,485,674

-17.79

Khác

9,552,886

9,856,826

-3.08

Tổng

77,612,745

83,703,147

-7.28

Nguồn: TCHQ

 

PHẦN 5: TRIỂN VỌNG
1. Kinh tế thế giới

Hội nghị thượng đỉnh chính phủ toàn cầu lần thứ 7 tại thủ đô Dubai của Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) ngày 10/2, Tổng Giám đốc điều hành IMF Christine Lagarde cảnh báo chính phủ các nước cần chuẩn bị đối phó với cơn bão kinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Bà Lagarde đã chỉ ra 4 yếu tố chính làm suy yếu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đồng thời cảnh báo có thể sẽ xuất hiện một cơn bão kinh tế. Bao gồm:

  • Căng thẳng thương mại và vấn đề thuế quan leo thang.
  • Chính sách thắt lưng buộc bụng về tài chính.
  • Tính không xác định liên quan đến hậu quả của việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) và sự mở rộng của nó.
  • Sự chậm lại nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc.

Theo bà Lagarde, căng thẳng thương mại chủ yếu đến từ tranh chấp thuế quan giữa hai nền kinh tế lớn Trung Quốc và Mỹ cũng như cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã tác động đến toàn thế giới.

Bà nhấn mạnh: “Chúng ta không biết cuộc chiến thương mại này sẽ phát triển như thế nào, nhưng chắc chắn rằng cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã tác động đến thị trường thương mại, niềm tin và thị trường tài chính.” Bà Lagarde cũng cảnh báo chính phủ các nước cần né tránh chủ nghĩa bảo hộ thương mại.

Bà chỉ ra rằng chi phí vay nợ tăng của các chính phủ, công ty và hộ gia đình đã gây ra các khoản nợ lớn và mang lại rủi ro cho nền kinh tế toàn cầu. Trong bản báo cáo công bố vào tháng 1/2019, IMF đã dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong 2020 giảm từ 3,7% xuống còn 3,5%./.

2. Triển vọng giá dầu

Các nhà phân tích dầu mỏ đang bi quan hơn về triển vọng của giá dầu mỏ trong năm 2019, trong bối cảnh sản lượng dầu đá phiến của Mỹ bùng nổ và nguy cơ kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại đe dọa các nỗ lực cắt giảm sản lượng nhằm vực dậy giá dầu của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).

Theo khảo sát được công bố trong cuối tháng 2 của hãng tin Reuters, 36 chuyên gia kinh tế và nhà phân tích dự đoán giá dầu Brent trên thị trường kỳ hạn có thể ở mức trung bình 66,44 USD/thùng trong năm 2019, thấp hơn so với dự đoán 67,32 USD/thùng được đưa ra trong khảo sát tháng 1/2019.

Đây là tháng thứ tư liên tiếp giới phân tích hạ thấp dự báo triển vọng giá dầu. Các chuyên gia cho rằng, giá dầu chỉ có thể tăng dần nếu OPEC và những đối tác như Nga nhất trí cắt giảm thêm sản lượng trong cuộc họp vào tháng 4/2019, và các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran và Venezuela khiến nguồn cung dầu thô trên toàn cầu bị thắt chặt hơn.

Nhà phân tích Edward Bell thuộc tập đoàn Emirates NBD nhận định, các thị trường dầu mỏ trong ngắn hạn sẽ chịu sự chi phối của nguồn cung bị thắt chặt nhờ quyết định cắt giảm sản lượng của các nhà sản xuất trong và ngoài OPEC và lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran và Venezuela. Tuy nhiên, trong phần còn lại của năm 2019, triển vọng tăng giá dầu vẫn chưa rõ ràng do tăng trưởng kinh tế chậm lại tại nhiều thị trường chủ chốt.

Trong khi đó, chuyên gia phân tích thị trường hàng hóa Carsten Fritsch tại Commerzbank cho rằng, OPEC và các đối tác (còn gọi là nhóm OPEC+) sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục tuân thủ cam kết cắt giảm sản lượng, nếu không thị trường dầu sẽ đối mặt với tình trạng dư cung. Bản thân Saudi Arabia hiện vẫn duy trì cam kết hướng tới việc cân bằng thị trường dầu mỏ thông qua giải pháp cắt giảm sản lượng mạnh hơn.

Theo kế hoạch, OPEC và các đối tác sẽ nhóm họp trong hai ngày 17-18/4 tới tại Vienna (Áo) để xem xét chính sách hạn chế sản lượng, từng đạt được hồi cuối năm ngoái nhằm ngăn chặn nguy cơ dư thừa nguồn cung và vực dậy giá dầu.

3. Triển vọng xuất khẩu cao su của Việt Nam

Do cây cao su đang chuẩn bị bước vào giai đoạn thay lá và cho năng suất thấp nên xuất khẩu cao su của Việt Nam trong những tháng tới được dự báo sẽ giảm dần.

Trong đó, xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn do triển vọng tiêu thụ kém khả quan từ thị trường này.

Lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysia đã đạt mức thấp nhất trong vòng 6 năm qua và bước sang năm 2019 nhiều khả năng cũng sẽ tiếp tục giảm do nguồn cung cao su nội địa của nước này tăng, đồng thời giảm nhập khẩu để đẩy mạnh tiêu thụ trong nước.

 

PHẦN 6: CÁC SỰ KIỆN ĐÁNG CHÚ Ý TRONG THÁNG

7/2: Công ty Cổ phần Đầu tư Cao Su Quảng Nam (VHG) đã công bố BCTC quý IV/2018 và lũy kế cả năm 2018. Theo đó, riêng quý 4 doanh thu thuận đạt 6,7 tỷ đồng trong khi cùng kỳ không có doanh thu, lãi gộp đạt 66 triệu đồng. Chi phí tài chính giảm mạnh từ 842 tỷ đồng xuống 186,7 tỷ đồng, tuy nhiên VHG không còn lãi từ hoạt động liên doanh liên kết, chi thêm gần 3 tỷ đồng chi phí QLDN, nhận thêm khoản lỗ 4,3 tỷ đồng từ hoạt động khác và vẫn phải nộp 37 tỷ đồng chi phí thuế TNDN hoãn lại nên kết quả VHG lỗ ròng 231 tỷ đồng trong quý 4/2018 trong đó công ty mẹ chịu lỗ 225,6 tỷ đồng. Lũy kế cả năm 2018, VHG có 7,4 tỷ đồng doanh thu thuần, gánh nặng chi phí tài chính là nguyên nhân khiến VHG tiếp tục chịu lỗ 240 tỷ đồng trong năm 2018.

20/2: Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đã công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý 4/2018. Trong đó doanh thu thu từ cao su của Hoàng Anh Gia Lai đạt mức kỷ lục nhiều năm, giá cao su tăng bình quân tới 1% thị giá sau mỗi ngày. Doanh thu bán mủ cao su tăng mạnh lên 221 tỉ đồng, cao nhất từ trước tới nay.

26/2: CTCP Cao su Phước Hòa (PHR) đã công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý 4 và kết quả kinh doanh cả năm 2018. Cụ thể, trong quý 4, PHR đạt doanh thu gần 674 tỷ đồng, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, do giá vốn hàng bán tăng mạnh 48%, PHR chỉ thu về khoản lợi nhuận gộp là gần 78 tỷ đồng, sụt giảm tới 41% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung cả năm 2018, PHR đạt doanh thu thuần đạt gần 1.558 tỷ đồng, giảm 6% so với năm 2017. Cũng nhờ chủ yếu từ thanh lý cây cao su đạt 425 tỷ đồng, PHR lãi ròng 637 tỷ đồng, tăng mạnh so với con số 340 tỷ đồng trong năm 2017.