Cao su 1/2019 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam tăng mạnh

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cao su 1/2019 - Giá mủ cao su tại thị trường Việt Nam tăng mạnh

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 1

Thị trường cao su thế giới

- Theo ANRPC, sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm 2018 ước đạt mức 13,952 triệu tấn, tăng 4,5% so với năm 2017.

- Tiêu thụ cao su toàn cầu dự kiến sẽ đạt 14,017 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,2% so với năm 2017.

- Tại sàn Tocom và sàn Thượng Hải, giá cao đã tăng liên tiếp kể từ đầu tháng 1 và đã có lúc đạt mức cao nhất 8 tháng. Tuy nhiên, trong cuối tháng, giá cao su bắt đầu có chiều hướng đi xuống

Thị trường cao su trong nước

- Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 1/2019 tăng mạnh so với tháng 12/2018. Tính bình quân tháng 1, các loại mủ đã tăng từ 7-9% so với tháng 12/2018.

- Giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 1/2019 cũng tăng mạnh. Tính bình quân tháng 1/2019, các loại cao su thành phẩm đã tăng mạnh từ 8-10% so với tháng 12/2018.

Thương mại

- Theo số liệu của TCTK, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 1/2019 đạt 175 nghìn tấn, trị giá 220 triệu USD, tăng 29,2% về lượng và tăng 10,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

- Trong tháng 12/2018, xuất khẩu cao su sang thị trường Malaysia tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 3 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam.

- Trong tháng 12/2018, xuất khẩu cao cao su hỗn hợp và CSR 10 có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như RSS 1 và SVR 3L có xu hướng giảm mạnh.

- Trong tháng 12/2018, CT TNHH Vạn Lợi vươn lên là doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất với 26,37 nghìn tấn, kim ngạch 32,54 triệu USD, tăng 10,24% về lượng và 9% về kim ngạch so với tháng 11/2018.

 

PHẦN 1:  THỊ TRƯỜNG CAO SU THẾ GIỚI
1. Tổng cung cao su thiên nhiên tại các nước sản xuất lớn nhất thế giới năm 2018

Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC) công bố dự đoán sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu đạt mức 13,952 triệu tấn.

Theo báo cáo tháng 11/2018 của ANRPC, sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu dự kiến sẽ đạt 13,952 triệu tấn trong năm 2018, tăng 4,5% so với năm 2017, tăng 0,29% so với mức dự báo của tháng 10.

Mặc dù tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2017, tuy nhiên một số quốc gia thành viên ANRPC trong giai đoạn này đã trải qua sự sụt giảm sản lượng như Việt Nam (0,5%), Malaysia (18,7%), Ấn Độ ( 9,1%) và Sri Lanka (2,9%). Tuy nhiên, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc và Campuchia đã tăng sản lượng lần lượt là 12,3%, 4,3%, 3,3% và 13,9%.

Tổng sản lượng cao su thiên nhiên toàn thế giới, 2007 – 2018, (Nghìn tấn)

Nguồn: ANRPC

 

Ngày 16/12 vừa qua, Hội đồng cao su quốc tế (ITRC), gồm 3 nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới là Thái Lan, Malaysia và Indonesia đã họp để thảo luận các biện pháp hỗ trợ giá, bao gồm cả khả năng hạn chế xuất khẩu, tuy nhiên cuộc họp đã không đi đến thống nhất.

Trước tình hình giá cao su vẫn đang ở mức thấp, cả 3 nước đã quyết định sẽ gặp mặt tại Bangkok vào cuối tháng 1 để tìm giải pháp giúp các hộ sản xuất qui mô nhỏ tăng thu nhập và giảm nguồn cung cao su dư thừa trên thị trường. Dự kiến cuộc họp sẽ được tổ chức vào ngày 19 và 20/1. Phía Malaysia mong muốn sẽ đạt được sự thống nhất với Thái Lan và Indonesia về việc giải quyết vấn đề giá cao su toàn cầu.

Theo Cục Thống kê Malaysia, sản lượng cao su tự nhiên của Malaysia trong tháng 11/2018 đạt 52.174 tấn, tăng 1,9% so với mức 51.209 tấn trong tháng 10, nhưng giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu cao su tự nhiên của Malaysia đạt 52.943 tấn, giảm 2,3% so với tháng 10/2018. Thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, chiếm 56,9%.

Trong nỗ lực thu hút nhiều nhà đầu tư vào ngành cao su, Bộ Nông nghiệp Campuchia đang nghiên cứu đề xuất giảm thuế đối với xuất khẩu cao su. Bộ trưởng Nông nghiệp Campuchia, ông Veng Sakhon cho biết, một trong những đề xuất là các lô hàng có giá trị dưới 2.000 USD mỗi tấn không nên bị đánh thuế.

Hiện tại, chính phủ đánh thuế 50 USD lên mỗi tấn cao su xuất khẩu nếu nó có giá từ 1.000 đến 2.000 USD/tấn. Theo đó, nếu giá trị vượt quá 2.000 USD/tấn thì thuế suất sẽ tăng lên 100 USD. Các lô hàng cao su có giá trị dưới 1.000 USD/tấn không bị đánh thuế. Đề xuất của Bộ nhận được sự ủng hộ của những người trong ngành cao su, vốn trong nhiều năm đã yêu cầu chính phủ giảm thuế để giảm chi phí sản xuất.

Hội đồng cao su Ấn Độ gia hạn hỗ trợ tài chính cho người trồng cao su

Hội đồng cao su Ấn Độ đã thông báo rằng ngày cuối cùng để người trồng cao su nộp đơn xin hỗ trợ tài chính để trồng lại và trồng mới theo Chương trình Phát triển Trồng Cao su đã được gia hạn đến ngày 31/1/2019.

Ở khu vực trồng cao su truyền thống là Kerala & Tamil Nadu, những người trồng có tổng diện tích trồng cao su không vượt quá 2 ha bao gồm cả trồng mới/trồng lại trong năm 2018, đủ điều kiện để được cấp thêm diện tích 1 ha đất mới. Mức hỗ trợ là 25.000 Rs/ha để trồng lại và trồng mới, bao gồm 5.000 Rs cho chi phí trồng.

Ở các khu vực phi truyền thống và Đông Bắc, người trồng có tổng diện tích trồng cao su không vượt quá 5 ha bao gồm cả trồng mới/trồng lại trong năm 2018, đủ điều kiện để được cấp thêm diện tích 2 ha đất mới. Mức hỗ trợ là 40.000 Rs/ha để trồng lại và trồng mới, bao gồm 5.000 Rs cho chi phí trồng.

 

2. Nhu cầu, tiêu thụ, tồn kho cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp toàn thế giới

Theo báo cáo mới nhất của ANRPC, tiêu thụ cao su toàn cầu dự kiến sẽ đạt 14,017 triệu tấn trong năm 2018, tăng 5,2% so với năm 2017, giảm 0,11% so với mức dự báo của tháng 10.

Về mặt tiêu thụ, Trung Quốc và Ấn Độ vẫn giữ mức tăng trưởng ổn định, lần lượt đạt 4,8% và 13,6% trong giai đoạn này, mặc dù hoạt động sản xuất và bán ô tô bị chậm lại ở Trung Quốc.

Tiêu thụ cao su tự nhiên nội địa của Malaysia vào tháng 11/2018 là 42.834 tấn, giảm 4,3% so với mức 44.771 tấn trong tháng 10/2018. Tồn kho trong tháng 11/2018 ở mức 169.920 tấn, tăng 2,6% so với mức 165.550 tấn trong cuối tháng 10/2018.

 

PHẦN 2: GIÁ CAO SU THẾ GIỚI – GIÁ CAO SU VIỆT NAM  VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1. Giá cao su tại thị trường thế giới

Tại hầu hết các sàn giao dịch, trong tháng 12/2018, giá cao su đã tăng trở lại trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung tạm lắng. Xu hướng này tiếp tục kéo dài sang tháng đầu tiên của năm 2019, giá cao su thế giới đã bật tăng mạnh.

Tại sàn Tocom và sàn Thượng Hải, giá cao su đã tăng liên tiếp kể từ đầu tháng 1 và đã có lúc đạt mức cao nhất 8 tháng. Nguyên nhân là nhờ việc giới đầu tư kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ đạt được thỏa thuận chấm dứt chiến tranh thương mại và giá dầu đi lên. Tuy nhiên, trong cuối tháng, giá cao su bắt đầu có chiều hướng đi xuống do những lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại.

Cụ thể, tại Tocom, tính trung bình trong tháng 1/2019, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 2/2019 tăng 22,73 Yên/kg lên mức 187,96 Yên/kg. Còn tại Shfe, tính trung bình trong tháng 1/2019, giá cao su thiên nhiên giao kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 350 NDT/kg lên mức 11.496 NDT/kg.

Dự báo trong tháng tới giá cao su thế giới sẽ biến động khó lường do tình hình kinh tế và giá dầu thế giới bất ổn.

Diễn biến giá cao su RSS3 kỳ hạn tháng 2/2019, 3/2019 và 4/2019 tại sàn giao dịch Tocom, Yên/kg

Nguồn: Tocom

Diễn biến giá cao su thiên nhiên kỳ hạn tháng 3/2019, 4/2019 và 5/2019 tại sàn giao dịch Thượng Hải, NDT/tấn

Nguồn: Shfe

2. Giá cao su nguyên liệu tại thị trường Việt Nam

Giá mủ cao su tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 1/2019 tăng mạnh so với tháng 12/2018. Tính bình quân tháng 1, các loại mủ đã tăng từ 7-9% so với tháng 12/2018. Giá mủ cao su tăng theo đà tăng của giá cao su thế giới.

Cùng xu hướng, giá các loại cao su thành phẩm tại thị trường nội địa Việt Nam trong tháng 1/2019 cũng tăng mạnh. Tính bình quân tháng 1/2019, các loại cao su thành phẩm đã tăng mạnh từ 8-10% so với tháng 12/2018.

Giá thu mua một số loại mủ cao su bình quân tháng 1/2019 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

T1/2019

T12/2018

T1/2018

% thay đổi T1/2019 so với T12/2018

% thay đổi T1/2019 so với T1/2018

Mủ chén dây khô

9,762

9,005

12,164

8.41

-19.75

Mủ chén dây vừa

8,610

7,957

10,714

8.20

-19.64

Mủ chén ướt

6,795

6,281

8,364

8.19

-18.76

Mủ tạp

9,762

9,005

12,164

8.41

-19.75

Mủ đông khô

8,833

8,171

10,959

8.10

-19.40

Mủ đông vừa

7,910

7,329

9,805

7.93

-19.33

Mủ đông ướt

7,129

6,595

8,859

8.09

-19.53

Mủ tận thu

3,586

3,348

4,464

7.11

-19.67

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá thu mua một số loại cao su thành phẩm bình quân tháng 1/2019 so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, đ/kg

Chủng loại

TB tháng 1/2019

TB tháng 12/2018

TB tháng 1/2018

% thay đổi T1/2019 so với T12/2018

% thay đổi T1/2019 so với T1/2018

RSS1

33524

30776

36555

8.93

-8.29

RSS3

32824

30076

35855

9.14

-8.45

SVR 3L

32419

29595

35855

9.54

-9.58

SVR L

32724

29986

36155

9.13

-9.49

SVR 5

32024

29286

35355

9.35

-9.42

SVR 10

30781

28029

34977

9.82

-12.00

SVR 20

30471

27729

34655

9.89

-12.07

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá mủ chén dây khô, mủ đông khô và mủ tận thu từ tháng 1/2018 – tháng 1/2019, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá cao su thành phẩm RSS3, SVR3L, SVR10 tại khu vực Đông Nam Bộ từ tháng 1/2018 – tháng 1/2019, đồng/kg

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Giá cao su xuất khẩu của Việt Nam
3.1. Giá xuất khẩu một số chủng loại cao su chính

Trong tháng 12/2018, giá xuất khẩu cao su có xu hướng giảm ở hầu hết các chủng loại và điều kiện giao hàng. Cụ thể, đối với cao su SVR3L, giá xuất khẩu tháng 12/2018 điều kiện giao hàng CIF ở mức bình quân 1.290 USD/tấn, giảm 0,74% so với tháng trước. Trong khi với điều kiện giao hàng FOB đạt mức bình quân 1.323 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng 11/2018.

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR3L theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2017-12/2018, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

Giá xuất khẩu bình quân cao su SVR10 theo điều kiện giao hàng CIF và FOB từ tháng 1/2017-12/2018, USD/tấn

Nguồn: TCHQ

PHẦN 3: XUẤT KHẨU – DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM 2018

Theo số liệu của TCTK, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 1/2019 đạt 175 nghìn tấn, trị giá 220 triệu USD, tăng 29,2% về lượng và tăng 10,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2018-1/2019

Nguồn: TCHQ, (*) GSO

Trong tháng 12/2018, xuất khẩu cao su sang thị trường Malaysia tăng mạnh kéo thị trường này lên vị trí thứ 3 trong top 20 thị trường tiêu thụ cao su Việt Nam. Ngược lại, tiêu thụ cao su của Hàn Quốc đã giảm mạnh và tụt xuống xếp ở vị trí thứ 6.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam sang top 20 thị trường tháng 12/2018 so với tháng 11/2018

Thị trường

T12/2018

% thay đổi T12/2018 so với T11/2018

Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

China

119.33

144.17

-8.76

-10.18

India

11.60

15.11

4.66

1.81

Malaysia

4.56

5.32

22.77

20.10

USA

4.06

4.54

-20.10

-25.52

Taiwan

3.90

5.12

35.33

29.30

Korea

3.47

4.65

-18.26

-19.58

Germany

3.13

4.15

17.91

14.95

Netherlands

2.90

3.14

138.37

143.71

Turkey

2.75

3.32

-3.09

-3.51

Lithuania

2.22

2.82

34.26

24.26

Italy

1.36

1.67

34.53

27.55

Japan

1.32

1.96

12.18

8.70

Spain

1.10

1.32

10.54

7.16

Sri Lanka

1.03

1.34

-44.75

-41.86

Brazil

0.99

1.07

-13.82

-9.23

Indonesia

0.93

1.24

-38.17

-39.02

Canada

0.86

1.15

512.27

493.52

Russia

0.72

0.92

-19.25

-19.24

France

0.56

0.78

-0.07

-4.46

Egypt

0.53

0.49

35.67

20.94

Khác

4.94

6.24

18.02

17.87

Tổng

172.29

210.51

-4.31

-5.99

Nguồn: TCHQ

Trong tháng 12/2018, xuất khẩu cao cao su hỗn hợp và CSR 10 có xu hướng tăng mạnh trong khi xuất khẩu các chủng loại khác như RSS 1 và SVR 3L có xu hướng giảm mạnh.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam theo chủng loại tháng 12/2018 so với tháng 11/2018

 

T12/2018

% thay đổi T12/2018 so với T11/2018

Chủng loại

 Lượng, nghìn tấn

Trị giá, triệu USD

Lượng

Trị giá

SVR10

65.54

78.31

8.20

5.33

SVR3L

61.24

78.85

-17.63

-18.38

Latex

13.87

11.58

-11.08

-13.26

SVRCV60

7.78

10.86

18.14

15.50

Cao su tổng hợp

7.29

9.47

-11.72

-13.36

RSS3

7.23

9.43

-8.24

-10.92

Cao su hỗn hợp

1.79

2.90

309.81

258.72

SVR20

1.78

2.20

44.39

37.83

CSR10

1.68

1.98

60.00

57.26

Khác

1.55

1.42

1.05

3.72

SVRCV50

1.52

2.13

-4.06

-6.36

SVR5

0.44

0.60

43.89

31.52

SVRL

0.32

0.42

-6.45

-15.38

RSS1

0.27

0.36

-18.46

-19.37

Tổng

172.29

210.51

-4.31

-5.99

Nguồn: TCHQ

 

PHẦN 4: NHẬP KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu của TCTK, khối lượng nhập khẩu cao su Việt Nam trong tháng 1/2019 đạt 70 nghìn tấn, trị giá 129 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và tăng 17,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cao su Việt Nam từ tháng 1/2018-1/2019

Nguồn: TCHQ, (*) GSO

Theo số liệu mã HS, nhập khẩu cao su tháng 12/2018 đạt 83,7 triệu USD, tăng 2,1% so với tháng 11/2018. Trong đó, nhập khẩu từ Đài Loan và Trung Quốc giảm mạnh, trong khi nhập khẩu từ Lào tăng mạnh.

Kim ngạch nhập khẩu cao su của top 10 thị trường tháng 12/2018 so với tháng 11/2018 (USD)

Thị trường

T12/2018

T11/2018

% thay đổi

Cambodia

17,532,154

17,261,648

1.57

Laos

12,259,719

8,059,964

52.11

Thailand

9,766,714

10,021,913

-2.55

Taiwan

8,626,372

10,113,475

-14.70

Korea

6,054,626

6,123,354

-1.12

China

5,916,765

7,331,633

-19.30

Indonesia

3,868,786

4,056,068

-4.62

USA

3,485,674

2,931,864

18.89

Singapore

3,485,534

2,961,060

17.71

Japan

3,130,443

3,068,952

2.00

Khác

9,576,361

10,051,211

-4.72

Tổng

83,703,147

81,981,143

2.10

Nguồn: TCHQ

 

PHẦN 5: TRIỂN VỌNG
1. Kinh tế thế giới

Trong báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu công bố hôm 8/1, Ngân hàng Thế giới (World Bank) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 giảm nhẹ xuống mức 2,9% sau khi đã điều chỉnh giảm tăng trưởng năm 2018 xuống 3% trong bối cảnh nhiều rủi ro ảnh hưởng tới viễn cảnh kinh tế.

World Bank cho biết, thương mại quốc tế và các hoạt động sản xuất đang sụt giảm, trong khi căng thẳng thương mại ngày càng leo thang, đồng thời một số nền kinh tế mới nổi đang chịu sức ép lớn từ thị trường tài chính là lý do khiến triển vọng kinh tế thế giới xấu đi trong năm 2019.

Tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển được dự báo giảm xuống mức 2% trong năm 2019. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu giảm dần, chi phí vốn vay tăng lên và chính sách thiếu ổn định sẽ là gánh nặng đối với viễn cảnh của các quốc gia đang phát triển và các quốc gia mới nổi. Tăng trưởng cho nhóm này được kỳ vọng giữ vững mức 4,2% trong năm 2019, thấp hơn so với dự báo trước đó.

​Khu vực Đông Á Thái Bình Dương, Đông Á Thái Bình Dương được dự báo vẫn tiếp tục là một trong những khu vực có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Tăng trưởng khu vực được kỳ vọng duy trì ở mức 6% trong năm 2019, với giả định giá cả hàng hóa giữ ở mức ổn định, thương mại và sức mua toàn cầu tăng trưởng trung bình và các điều kiện tài chính toàn cầu dần thắt chặt.

World Bank cho rằng, xu hướng tăng xuất khẩu hàng hóa đang chững lại, trong khi các hoạt động nhập khẩu có dấu hiệu giảm dần. Tăng trưởng bình quân đầu người của 35% các quốc gia đang phát triển và quốc gia mới nổi không đủ để thu hẹp khoảng cách thu nhập với các quốc gia phát triển trong năm 2019. Tỉ lệ này đối với các quốc gia dễ bị tổn thương, xung đột và bạo lực lên đến 60%.

Việc thực hiện nhiều hoạt động phát triển cùng lúc có thể làm chậm tốc độ phát triển. Chi phí vốn vay thắt chặt ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn chảy vào và tốc độ tăng trưởng ở nhiều quốc gia đang phát triển và quốc gia mới nổi. Nợ công và nợ tư nhân leo thang trong thời gian qua có thể làm tăng mức độ dễ bị tổn thương của những thay đổi trong điều kiện tài chính và tâm lý thị trường. Căng thẳng thương mại gia tăng có thể tác động xấu đối với tăng trưởng kinh tế thế giới và làm gián đoạn chuỗi giá trị liên kết toàn cầu.

2. Triển vọng giá dầu

Trong ngày 18/1, OPEC đã công bố danh sách giảm sản lượng dầu của các thành viên và nhà sản xuất lớn khác trong 6 tháng (đến tháng 6/2019), một nỗ lực nhằm gia tăng sự tự tin trong động thái được đề xuất để tránh tình trạng dư cung vào năm 2019.

Trước đó, lo ngại về giá giảm và nguồn cung tăng, nhóm sản xuất dầu mỏ, được gọi là OPEC +, hồi tháng 12/2018 đã thống nhất giảm sản lượng trở lại. Theo đó, cam kết sẽ giảm nguồn cung khoảng 1,2 triệu thùng mỗi ngày kể từ ngày 1/1/2019, với lượng giảm sản xuất của OPEC là 800.000 thùng/ngày.

Tuyên bố mới nhất của OPEC cho biết hội đồng, được gọi là Ủy ban giám sát chung của Bộ trưởng (JMMC), sẽ nghiên cứu việc giảm sản lượng mỗi tháng và xác nhận hội đồng sẽ họp tại Baku, Azerbaijan vào ngày 18/3.

Trong nửa đầu năm 2019, OPEC và các đồng minh sẽ giảm 1,195 triệu thùng dầu/ngày xuống còn 43,874 triệu thùng/ngày. Nhóm OPEC + sẽ họp vào ngày 17 - 18/4 tại Vienna, Áo để quyết định có nên gia hạn thỏa thuận sau tháng 6/2019 hay không.

Còn theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) trong tháng 1/2019, sản lượng dầu thô từ Mỹ sẽ lại là yếu tố quan trọng trong năm nay và Mỹ sẽ củng cố vững chắc cho vị thế quốc gia sản xuất dầu thô hàng đầu thế giới. Vào giữa năm 2019, sản lượng dầu thô tại Mỹ có lẽ sẽ cao hơn sản lượng từ Ả-rập Xê-út hoặc Nga

IEA cho biết họ ước tính tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu trong năm 2018 và 2019 vẫn không thay đổi ở mức 1.3 triệu thùng/ngày và 1.4 triệu thùng/ngày. Theo IEA, tác động của mức giá dầu cao hơn trong năm 2018 đã “phai nhạt”, qua đó giúp bù đắp cho tác động từ đà giảm tốc kinh tế trong vài tháng tới.

3. Triển vọng xuất khẩu cao su của Việt Nam

Sau khi liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng trong những năm qua, khối lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2019 nhiều khả năng sẽ chững lại do nhu cầu tiêu thụ cao su của Trung Quốc có thể giảm trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nước này suy yếu do căng thẳng thương mại với Mỹ.

Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam trong năm 2019 phần nào sẽ được hỗ trợ bởi giá cao su được kỳ vọng sẽ ổn định, trong bối cảnh mặt bằng giá đã giảm xuống mức thấp trong năm 2018.

 

PHẦN 6: CÁC SỰ KIỆN ĐÁNG CHÚ Ý TRONG THÁNG

2/1: Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (GVR) đã thông qua báo cáo của Tổng giám đốc về kết quả sản xuất kinh doanh ước thực hiện trong năm 2018 và các nội dung khác. Theo đó, Tập đoàn ước sản lượng khai thác cả năm 2018 đạt 307.000 tấn mủ. Qua đó, Tập đoàn ước tính tạo ra 20.822 tỷ đồng tổng doanh thu, thực hiện 94,5% kế hoạch năm. Tổng lợi nhuận trước thuế ước đạt 4.552 tỷ đồng, đạt 89,8% kế hoạch.

3/1: Công ty CP Cao su Đà Nẵng (DRC) đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch kinh doanh quý I/2019. Theo đó, Công ty đặt mục tiêu doanh thu tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận trước thuế lần lượt là 875 tỷ đồng và 29,5 tỷ đồng. Kế hoạch này tăng trưởng tương ứng 19% và 14% so với doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế của quý I/2018.

7/1: Cao su Phước Hòa (PHR) đã công bố tình hình kinh doanh năm 2018 với tổng diện tích khai thác chưa đạt chỉ tiêu đề ra, thực hiện trên tổng 6.977,6 ha. Sản lượng cao su khai thác tương ứng ghi nhận 13.109,6 tấn, tiêu thụ được hơn 31.614 tấn. Với giá bán thành phẩm bình quân 32,97 triệu đồng/tấn, tổng doanh thu năm 2018 PHR ghi nhận 1.721 tỷ, vượt hơn 9% kế hoạch. Lợi nhuận trước thuế theo đó thu được 622 tỷ đồng, vượt gần 40% so với chỉ tiêu là 444,5 tỷ đồng.

15/1: CTCP Cao su Tân Biên (RTB) đã thông qua việc điều chỉnh kế hoạch sản xuất - kinh doanh năm 2018 với tổng doanh thu giảm 1%, từ 595 tỷ đồng xuống hơn 589 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế giảm 12%, từ hơn 200 tỷ đồng xuống hơn 177 tỷ đồng.

20/1: Theo báo cáo tài chính năm 2018, CTCP Cao su Đồng Phú (DPR) ghi nhận sự tăng trưởng cả doanh thu và lợi nhuận so với năm 2017. Năm 2018, doanh thu DPR tăng nhẹ 3% lên mức 805,6 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu bán thành phẩm giảm hơn 136 tỷ đồng trong khi doanh thu bán cây cao su lại tăng đột biến 160 tỷ đồng. Đây cũng là mảng hoạt động đem lại biên lợi nhuận gộp cao nhất cho DPR với 89%. Lãi gộp đến từ hoạt động này đạt 230 tỷ đồng, chiếm 77% lợi nhuận gộp của DPR. Sau khi trừ các chi phí, DPR thu về 245,6 tỷ đồng lãi sau thuế, tăng 19,6% so với năm 2017 qua đó vượt 19,6% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2018 đề ra trước đó.

29/1: CTCP Cao su Phước Hòa (PHR) đã công bố báo cáo tài chính quý IV/2018 với doanh thu thuần tăng 26% lên 674 tỷ đồng. Tuy nhiên, giá vốn tăng tới 48% dẫn đến biên lãi gộp co lại còn 11,5% tương ứng mức lợi nhuận gộp 77,6 tỷ đồng, giảm 41% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2018, doanh thu thuần Phước Hòa sụt giảm 6% còn 1.558 tỷ đồng. Dù vậy, hoạt động tài chính, lãi liên kết và lợi nhuận khác tăng đột biến giúp công ty báo lãi sau thuế 637 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi số lãi năm 2017.