Cá tra 12/2017 - Giá cá giống trong tháng tăng mạnh so với tháng 11/2017

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cá tra 12/2017 - Giá cá giống trong tháng tăng mạnh so với tháng 11/2017

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 12

Thị trường cá tra nguyên liệu nội địa

Chuyển động về thị trường

- Sản lượng khai thác cá tra tại ĐBSCL trong tháng 12/2017 giảm nhẹ 3,4% so với tháng 11/2017. Lũy kế 12 tháng năm 2017 sản lượng ước đạt 1,25 triệu tấn tăng 4,17 % so với năm 2016.

- Trong tháng 12/2017, thị trường cá tra nguyên liệu trong size 700-900 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang… có xu hướng khan hiếm nguồn cung hơn so với tháng 11/2017 giá tiếp tục duy trì mức cao, một số thời điểm giá tăng nhẹ. Đến giữa tháng 1/2018, nguồn cung đã bớt khan hiếm hơn nên thị trường bắt đầu quay lại hình thức mua cá trả chậm.

- Trong cuối tháng 12/2017 và đầu tháng 1/2018, cá nguyên liệu vượt size trên 1kg/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ…hút hàng do nhu cầu cao từ thị trường Trung Quốc, nhưng lượng cá ít nên giá được công ty và thương lái chào cao.

- Giá cá giống trong tháng 12/2017 tăng mạnh so với tháng 11/2017 do nguồn cung khan hiếm và nguồn cá bột sản xuất liên tục bị hỏng khiến hộ nuôi không thể sản xuất cá giống.

- Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 12/2017 duy trì ổn định ở mức cao, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 12/2017 ở mức từ 2.787 USD/tấn.

- Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.611 USD/tấn DAP/DAF.

- Tình hình nguồn nguyên liệu tiếp tục duy trì mức thấp, hộ nuôi có xu hướng neo cá lại cỡ lớn, nhưng lượng này không nhiều do thời tiết lạnh cá ăn ít chậm lớn sẽ khiến nguồn cung cá size lớn 1-1,5 kg/con sẽ tăng chậm, nguồn cung cá trong size 700-900 gr/con cũng chỉ duy trì ổn định hoặc giảm dần do lượng cá nhỏ bồi lên ít bởi khan hiếm giống. Trong khi đó nhu cầu xuất khẩu ổn định, một số thị trường có thể tăng như Trung Quốc, Brazil, Saudi Arabia… sẽ khiến thị trường cá nguyên liệu trong ngắn hạn duy trì mức giá như hiện nay hoặc tăng nhẹ. Còn riêng các doanh nghiệp lớn có khả năng tự chủ nguồn cung tốt dự kiến sẽ duy trì khó tăng giá mua ngoài do hiện nay các doanh nghiệp này đã chuyển nhiều sang hình thức trả chậm.

Thương mại

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 12/2017 đạt 60,18 nghìn tấn, kim ngạch đạt 141,56 triệu USD, giảm 32,51% về lượng và 16,04% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016. Lũy kế năm 2017, xuất khẩu cá tra đạt 820,12 nghìn tấn, kim ngạch đạt 1,75 tỷ USD, giảm 6,39% về lượng nhưng tăng 3,61% về kim ngạch so với năm 2016.

- Trung Quốc-Hồng Kông là thị trường nhập khẩu lượng và kim ngạch cá tra lớn nhất tháng 12/2017 và cả năm 2017.

- Trong tháng 12/2017, nhu cầu đi thị trường Mỹ, EU có xu hướng giảm do 2 thị trường này đã tăng nhập hàng trước Giáng Sinh nên thời điểm đầu tháng 1/2018 nguồn hàng dự trữ còn nhiều. Bù lại, thị trường Trung Quốc trong tháng 12/2017 và tháng 1/2018 lại tăng mạnh nhập hàng dự trữ trước dịp Tết Âm Lịch.

- Trong tháng 12/2017 bên phía Trung Quốc đã siết chặt các hoạt động giao dịch qua biên giới để chống buôn lậu trước dịp Tết Nguyên Đán nên lượng hàng đi đường bộ từ thời điểm đó đến nay suy giảm dần và chuyển sang đi đường biển.

- Đối với thị trường Mỹ, trong cuối tháng 12, Việt Nam đang ở giai đoạn bổ sung thông tin bảng trả lời câu hỏi, tức bước thứ 3 của quy trình 6 bước để Mỹ xem xét công nhận tương đương theo đạo luật FarmBill. Bên cạnh việc cố gắng đáp ứng yêu cầu từ phía Mỹ, trong ngày 12/01/2018, Việt Nam đã khiếu nại lên WTO về việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam.

Thị trường cá có vảy

- Trong tháng 12/2017, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…ổn định so với tháng 11/2017 dao động trong khoảng 33.000-35.000 đ/kg.(giá tại bè).

- Trong tháng 12/2017, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang… tăng nhẹ 1,36% so với tháng 11/2017 dao động trong khoảng 29.000-31.000 đ/kg. (giá tại bè).

- Đầu tháng 1/2018, giá cá lóc tăng mạnh so với tháng 11,12/2017. Thương nhân dự đoán nguồn cung cá lóc sẽ tăng lên khi gần Tết.

- Giá cá rô phi nguyên liệu tại Trung Quốc trong tháng 12/2017 và nửa đầu tháng 1/2018 ổn định như tháng 11/2017.

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 12/2017, Việt Nam xuất khẩu 1.438 tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,65 triệu USD, tăng 86,06% về lượng và 49,72% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016. Lũy kế năm 2017, lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 11.780 tấn và 22,17 triệu USD, tăng 16,95% về lượng và 1,85% về kim ngạch so với năm 2016.

SẢN XUẤT

Theo Bộ NN&PTNT, diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL trong năm 2017 đạt 6.078 ha, tăng 3,13% cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng thu hoạch năm 2017 đạt 1,25 triệu tấn, tăng 5,43% so với năm 2016. Trong đó, các tỉnh có diện tích nuôi lớn đạt sản lượng cá tra tăng mạnh là Đồng Tháp với sản lượng 466,3 ngàn tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ, An Giang với sản lượng 261,6 ngàn tấn (+5,9%), Cần Thơ với sản lượng đạt 174,2 ngàn tấn (+6,4%).

Còn theo Tổng cục Thống kê, diện tích nuôi cá tra năm 2017 ước tính đạt 6.701 ha, tăng 18,9% so với năm trước; sản lượng ước tính đạt 1.251,3 nghìn tấn, tăng 5,0%.

Diện tích và sản lượng cá tra tại ĐBSCL năm 2017 so với cùng kỳ năm 2016.

Tỉnh

Năm 2017

Năm 2016

% thay đổi năm 2017 so với năm 2016 về

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích

Sản lượng

Đồng Tháp

2,465

466,311

2,400

440,000

2.69

5.98

An Giang

1,368

261,610

1,327

246,921

3.09

5.95

Cần Thơ

733

174,180

698

163,666

5.01

6.42

Bến Tre

769

170,000

760

167,212

1.18

1.67

Vĩnh Long

458

78,441

458

77,000

0.07

1.87

Tiền Giang

75

35,405

77

36,900

-2.60

-4.05

Hậu Giang

103

29,446

95

29,888

8.76

-1.48

Trà Vinh

38

17,230

41

10,196

-6.17

68.99

Sóc Trăng

66

13,889

35

10,150

88.57

36.84

Kiên Giang

3

5,500

3

5,621

0.00

-2.15

ĐBSCL

6,078

1,252,012

5,893

1,187,554

3.13

5.43

Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo Tổng cục Thủy sản, lũy kế diện tích nuôi cá tra dự kiến năm 2017 là 5.100 ha tăng 1% so với năm 2016. Sản lượng thu hoạch dự kiến năm 2017 là 1,25 triệu tấn tăng 4,17 % so với năm 2016.

Tiến độ thả nuôi và thu hoạch cá tra tại ĐBSCL dự kiến năm 2017.

 

Diện tích,

ha

% thay đổi so với cùng kỳ 2016

Sản lượng, tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2016

Năm 2017

5,100

+1

1.250.000

+4,17

Từ 1/1-26/11/2017

5,022

+8,5

1.230.498

+10

Từ 1/1-04/11/2017

4,768

+8,5

1.040.100

+10

Từ 1/1-24/10/2017

4,725

+8,5

1.027.680

+8,5

Từ 1/1-13/10/2017

4,571

+7

994,456

+13

Từ 1/1-08/9/2017

4,193

+5

848,922

+11

Từ 1/1-18/8/2017

3,927

+5

759,168

+10

Từ 1/1-11/8/2017

3,879

+5

741,709

+11

Từ 1/1-04/8/2017

3,835

+5

730,800

+11

Từ 1/1-21/7/2017

3,462

+1

632,431

+5

Từ 1/1-07/7/2017

3,227

+1

561,113

+4

Từ 1/1-23/6/2017

3,131

0

531,486

+3

Từ 1/1-16/6/2017

3,061

0

509,960

+2

Từ 1/1-09/6/2017

2,832

-2

444,144

-4

Từ 1/1-29/5/2017

2,868

+0,6

433,757

+0,5

Từ 1/1-28/4/2017

2,445

-0,1

317,478

+10,4

Từ 1/1-21/4/2017

2,419

-0,3

309,968

+9,2

Từ 1/1-14/4/2017

2,355

0

280,959

+17

Từ 1/1-7/4/2017

2,246

-3,7

250,933

+7,7

Từ 1/1-10/3/2017

1,935

-0,9

165,824

+14,4

Nguồn: TCTS

AgroMonitor ước tính sản lượng khai thác cá tra tại ĐBSCL trong tháng 12/2017 giảm nhẹ 3,4% so với tháng 11/2017.

Sản lượng thu hoạch cá tra từ tháng 1/2016 – tháng 12/2017 (Tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ Bộ NN, TCTS

GIÁ CÁ TRA NGUYÊN LIỆU TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – GIÁ CÁ TRA XUẤT KHẨU VÀ TRIỂN VỌNG
1. Thị trường cá tra nguyên liệu trong size

Trong tháng 12/2017, thị trường cá tra nguyên liệu trong size 700-900 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang… có xu hướng khan hiếm nguồn cung hơn so với tháng 11/2017. Cụ thể, từ đầu tháng 12, đối với các công ty có vùng nuôi chính tại Cần Thơ như Biển Đông, Hải Sáng… lượng cá vào size từ 700-900 gr/con trong ao doanh nghiệp ước chỉ đạt 10-20%, còn lượng này đối với hộ nuôi tự do chỉ đạt không quá 30%. Tương tự tại Đồng Tháp, An Giang, lượng cá đủ lớn để chế biến trong vùng nuôi doanh nghiệp, vùng liên kết với hộ dân cũng không còn nhiều. Các doanh nghiệp lớn tại Đồng Tháp, An Giang như: Hoàng Long, Vĩnh Hoàn, Hùng Vương… cũng chỉ bắt 100-300 tấn/ngày trong vùng nuôi, hộ gia công liên kết. Còn lại các công ty khác lượng bắt cũng lai rai trên dưới 50 tấn/ngày. Với tình trạng nguồn cung khan hiếm, giá cá nguyên liệu trong tháng 12/2017 đã nhích dần lên quanh mức 28.500-28.700 đ/kg (tiền mặt) tăng khoảng 300-500 đ/kg so với mức trung bình tháng 11/2017 và giữ ở mức này trong phần lớn thời gian trong tháng.

Đến tuần cuối tháng 12/2017, do ảnh hưởng của bão Tembin, trong 3 ngày từ 25-27/12 đã có mưa lớn trên diện rộng tại các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang…khiến cá tại nhiều vùng nuôi lớn bị dịch bệnh đốm đỏ. Như tại Cần Thơ, Đồng Tháp… thương nhân ước tính khoảng 30% số lượng ao cá thịt… bị dịch đốm đỏ. Thương nhân cho biết, chất lượng cá này làm fillet sẽ bị màu đỏ, có thể sẽ ảnh hưởng đến xuất cá đi các thị trường khó tính như: Mỹ, EU. Tuy nhiên, đối với phân khúc thị trường trung bình như: Trung Quốc, Trung Đông…thì xuất cá này sẽ không ảnh hưởng. Dịch bệnh làm hao hụt cả về số lượng và chất lượng cá nguyên liệu đã khiến khá nhiều nhà máy tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ…phải nghỉ làm. Thương nhân cho biết, đến cả một số doanh nghiệp sở hữu vùng nuôi lớn, mạng lưới gia công liên kết rộng như Hùng Vương, Agifish, Vĩnh Hoàn…cũng tuần làm tuần nghỉ. Thậm chí có thông tin cho rằng, Vĩnh Hoàn còn tạm ngưng nhận các đơn hàng từ nay đến tháng 3/2018 do lượng cá nguyên liệu hiện có chỉ đủ làm các đơn hàng đã ký.

Đến đầu tháng 1/2018, thị trường cá tra nguyên liệu tại các tỉnh khu vực ĐBSCL có 2 xu hướng mới thay đổi so với trước đó. Một là, các doanh nghiệp lớn tại Đồng Tháp, An Giang đã bắt đầu quay trở lại xu hướng bắt cá trả tiền chậm từ 10 đến 30 ngày thay vì trả tiền ngay như trước. Bên cạnh đó, vẫn có những doanh nghiệp trả tiền ngay thường là các doanh nghiệp xuất khẩu đi thị trường Trung Quốc, do thị trường này có nhu cầu nhập hàng cao dự trữ trước Tết Âm Lịch. Cũng vì xu hướng gia tăng mua hàng cao tại thị trường Trung Quốc đã tác động đến size cá các thương lái và doanh nghiệp muốn thu mua nhiều. Đó là size cá cỡ lớn từ 1-1,5 kg/con. Theo đó, xu hướng mới thứ 2 là cá size lớn “được” giá hơn cá trong size 700-900 gr/con nên các hộ nuôi có xu hướng neo cá lại lên cỡ lớn hoặc muốn đẩy giá cá trong size 700-900 gr/con lên mức thấp nhất là 29.000 đ/kg (tiền mặt) thay vì mức 28.500-28.700 đ/kg (tiền mặt), còn cá size lớn 1,2-1,3 kg/con đang được chào phổ biến quanh mức 29.500 đ/kg (tiền mặt).

Ngoài ra lúc này một số ao cá tra tại Đồng Tháp bị bệnh mới, chưa có thuốc đặc trị là bệnh sưng bong bóng, cá nổi lên mặt nước, không ăn cám. Do vậy, những ao cá còn nhỏ mà bị bệnh này hầu như sẽ thiệt hại toàn bộ. Còn các ao cá đã lớn, gần thu hoạch thì không ảnh hưởng do chất lượng cá vẫn đảm bảo chế biến.

Nhìn chung, hiện nay tình hình nguồn cung nguyên liệu tại Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang…dự kiến vẫn khá thiếu hụt trong các tháng đầu năm 2018 vì cá giống khan hiếm, giá vẫn tăng cao. Do ảnh hưởng của thời tiết lạnh, khiến cá bột ương liên tục bị hỏng khiến “đứt” nguồn giống. Thương nhân dự đoán từ nay đến Tết Âm Lịch nguồn giống sẽ rất ít, một số khu vực có thể không có giống thả nuôi.

Về diễn biến xu hướng xuất khẩu nhìn chung trong tháng 12/2017, nhu cầu đi thị trường Mỹ, EU có xu hướng giảm do 2 thị trường này đã tăng nhập hàng trước Giáng Sinh nên thời điểm đầu tháng 1/2018 nguồn hàng dự trữ còn nhiều. Bù lại, thị trường Trung Quốc trong tháng 12/2017 và tháng 1/2018 lại tăng mạnh nhập hàng dự trữ trước dịp Tết Âm Lịch. Điểm đáng chú ý là trong tháng 12/2017 bên phía Trung Quốc đã siết chặt các hoạt động giao dịch qua biên giới để chống buôn lậu trước dịp Tết Nguyên Đán nên lượng hàng đi đường bộ từ thời điểm đó đến nay suy giảm dần và chuyển sang đi đường biển.

Thương nhân cho biết, các công ty đang gấp rút làm hàng đi thị trường Trung Quốc giao trước ngày 31/01/2018. Còn sau thời gian này, Trung Quốc và Việt Nam đều chuẩn bị Tết Âm Lịch và sẽ hạn chế giao dịch hàng hóa.

Đối với thị trường Mỹ, trong cuối tháng 12, Việt Nam đang ở giai đoạn bổ sung thông tin bảng trả lời câu hỏi, tức bước thứ 3 của quy trình 6 bước để Mỹ xem xét công nhận tương đương theo đạo luật FarmBill. Sau khi Việt Nam nộp bảng trả lời câu hỏi (SRT-Self-Reporting Tool), trên cơ sở phía Mỹ đã nhận thông tin và đang yêu cầu bổ sung thông tin. Căn cứ vào tiến độ của quy trình xem xét công nhận tương đương như nhiều khả năng phải đến hết tháng 3/2018 mới có kết quả. Do đó, về nguyên tắc việc xuất khẩu cá tra Việt Nam vào thị trường này vẫn diễn ra bình thường như trước đó.

Bên cạnh việc cố gắng đáp ứng yêu cầu từ phía Mỹ, trong ngày 12/01/2018, Việt Nam đã khiếu nại lên WTO về việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể, Việt Nam cho rằng Washington đã vi phạm quy tắc của WTO trong cách áp dụng các mức thuế suất với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam. Theo đó, Hoa Kỳ có 60 ngày để dàn xếp khiếu nại hoặc Việt Nam có thể yêu cầu WTO phán xử[1].

Như vậy, tình hình nguồn nguyên liệu tiếp tục duy trì mức thấp, hộ nuôi có xu hướng neo cá lại cỡ lớn, nhưng lượng này không nhiều do thời tiết lạnh cá ăn ít chậm lớn sẽ khiến nguồn cung cá size lớn 1-1,5 kg/con sẽ tăng chậm, nguồn cung cá trong size 700-900 gr/con cũng chỉ duy trì ổn định hoặc giảm dần do lượng cá nhỏ bồi lên ít bởi khan hiếm giống. Trong khi đó nhu cầu xuất khẩu ổn định, một số thị trường có thể tăng như Trung Quốc, Brazil, Saudi Arabia… sẽ khiến thị trường cá nguyên liệu trong ngắn hạn duy trì mức giá như hiện nay hoặc tăng nhẹ. Còn riêng các doanh nghiệp lớn có khả năng tự chủ nguồn cung tốt dự kiến sẽ duy trì khó tăng giá mua ngoài do hiện nay các doanh nghiệp này đã chuyển nhiều sang hình thức trả chậm.

Tương quan giá cá nguyên liệu, giá cá giống và diện tích thả nuôi cá tra tại ĐBSCL từ tháng 1-12/2017: Trong tháng 12/2017 hầu như diện tích thả nuôi mới không tăng.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tháng 1/2016-1/2018, (Đồng/kg): Giá cá nguyên liệu tiếp tục chững ở mức cao do khan hiếm.

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thị trường cá vượt size

Trong cuối tháng 12/2017 và đầu tháng 1/2018, cá nguyên liệu vượt size trên 1kg/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ…hút hàng do nhu cầu cao từ thị trường Trung Quốc, nhưng lượng cá ít nên giá được công ty và thương lái chào cao phổ biến quanh mức 29.500 đ/kg (tiền mặt). Lượng bắt tại các tỉnh lớn như Đồng Tháp, An Giang khoảng 60-70 tấn/ngày, Cần Thơ khoảng 30-40 tấn/ngày. Thương nhân cho biết, do lượng cá thịt size 700-800 gr/con tại Cần Thơ còn ít, trong khi giá cá cỡ lớn đang được chào mua cao hơn nên hộ nuôi đang có xu hướng neo cá lại cỡ lớn.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu cỡ trên 1kg/con tại ĐBSCL từ 1/2016-1/2018, (Đồng/kg): Cá size lớn hút hàng đi thị trường Trung Quốc, giá tăng lên mức cao.

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Thị trường cá tra giống

Giá cá giống trong tháng 12/2017 tăng mạnh so với tháng 11/2017 do nguồn cung khan hiếm và có thể một số khu vực tại Cần Thơ, Đồng Tháp…còn không có giống kể từ cuối tháng 12/2017. Tại An Giang nguồn giống cũng rất ít. Theo đó diện tích thả nuôi mới trong tháng 12/2017 cũng khá ít. Thương nhân cho rằng, nguồn cung giống thiếu hụt do nguyên nhân cá bột ương liên tục bị hỏng do ảnh hưởng bởi nguồn nước và thời tiết lạnh. Theo đó, nhiều khu vực các hộ sản xuất cá bột đã quyết định sau Tết Âm Lịch thời tiết ấm hơn sẽ bắt đầu làm bột lại. Giá cá giống mẫu 30 con/kg trung bình tháng 12/2017 ở mức 53.500 đ/kg tăng 5,6% so vớí tháng 11/2017.

Trước tình hình giá cả con giống tăng cao và chất lượng không ổn định, nhiều doanh nghiệp muốn chủ động nguồn nguyên liệu đã quan tâm nhiều hơn đến mảng liên kết từ khâu con giống và Tập đoàn Sao Mai tại An Giang là một ví dụ. Ngày 29/12/2017, tập đoàn Sao Mai đã ký kết các hợp đồng bao tiêu sản phẩm cá giống với các hộ nuôi giống ở An Giang. Theo các hộ nuôi liên kết với Sao Mai cho biết, Sao Mai cam kết bao tiêu cá tra giống mẫu 30 con/kg với giá thấp nhất là 23.000 đ/kg, còn lại khi giá thị trường cao hơn Sao Mai sẽ mua theo giá mặt bằng chung thời điểm đó.

Diễn biến giá cá giống loại 30 con/kg tại ĐBSCL từ 1/2016-1/2018, (Đồng/kg): Giá cá giống tiếp tục tăng cao do khan hiếm từ nguồn cá bột.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá cá tra xuất khẩu
4.1 Giá cá tra xuất khẩu tham chiếu

Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 12/2017 duy trì ổn định ở mức cao, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 12/2017 ở mức từ 2.787 USD/tấn.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi các thị trường EU, Bắc Mỹ…, USD/tấn FOB

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.8 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Đối với cá xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường biên, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.611 USD/tấn DAP/DAF.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi Trung Quốc, USD/tấn DAP/DAF.

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.8 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá xuất khẩu cá tra bình quân theo chủng loại vào một số thị trường

 Nguồn: TCHQ

4.2. Giá cá tra xuất khẩu theo số liệu hải quan

Lượng và đơn giá cá tra fillet đông lạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp vào một số thị trường tháng 11/2017 so với tháng 10/2017

Thị trường

DNXK

ĐKGH

Tháng 12/2017

Tháng 11/2017

% thay đổi về giá

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

China

CT CP Gò Đàng

DAF

1,275

2,018

1,219

1,884

7.11

   

CFR

102

1,938

225

2,061

-5.95

   

FOB

-

-

98

1,850

-

   

CIF

-

-

64

2,443

-

 

CT CP TS Trường Giang

CIF

498

3,055

187

3,217

-5.03

   

DAF

208

2,616

332

3,042

-14.02

   

CFR

132

2,926

65

2,860

2.31

   

EXW

113

3,041

172

3,106

-2.10

   

FOB

43

2,518

19

1,775

41.83

 

CT CP Vĩnh Hoàn

CFR

531

2,758

738

2,707

1.88

   

FOB

174

1,812

116

1,530

18.45

   

CIF

124

2,454

99

2,475

-0.85

 

CT CP XNK TS Cửu Long

CFR

426

2,413

25

2,300

4.93

   

EXW

120

2,575

106

2,623

-1.84

   

CIF

75

1,970

200

2,553

-22.82

   

C&F

73

2,863

24

3,450

-17.00

 

CT TNHH Việt Hiếu Nghĩa

DAF

328

2,550

545

2,550

0.00

USA

CT CP Vĩnh Hoàn

FOB

3,071

3,699

3,752

3,819

-3.15

 

CT TNHH TS Biển Đông

CFR

2,176

3,806

2,025

3,700

2.87

 

CT CP Hùng Vương

FOB

588

3,548

1,377

3,652

-2.84

 

CT CP TS Ntsf

FOB

498

3,479

599

3,419

1.76

   

CIF

13

3,247

-

-

-

 

CT TNHH Cá Việt Nam

CIF

412

2,129

-

-

-

Mexico

CT CP Nam Việt

FOB

478

1,616

141

1,711

-5.58

   

CFR

375

1,939

489

2,208

-12.18

   

CIF

-

-

47

1,803

-

 

CT TNHH MTV CB TS Hoàng Long

FOB

275

1,598

50

1,550

3.08

   

C&F

107

2,400

57

2,720

-11.76

 

CT TNHH Đại Thành

FOB

365

2,086

-

-

-

   

CFR

-

-

26

1,378

-

 

CT CP CB & XNK TS Cadovimex Ii

FOB

288

1,696

563

2,158

-21.40

 

CT CP XNK TS Cửu Long

FOB

225

1,646

75

1,460

12.74

   

CFR

-

-

123

1,740

-

   

CIF

-

-

25

1,460

-

Brazil

CT CP Nam Việt

CFR

636

2,639

390

2,622

0.62

   

FOB

541

2,592

180

2,626

-1.31

   

CIF

93

3,120

23

3,020

3.31

 

CT CP PT Hùng Cá 2

FOB

697

2,834

303

2,412

17.54

   

CFR

187

2,983

164

3,068

-2.76

   

CIF

185

2,630

117

3,040

-13.49

 

CT TNHH MTV CB TS Hoàng Long

FOB

517

2,103

224

2,719

-22.66

   

CFR

267

3,000

167

3,103

-3.32

   

CIF

52

3,000

26

3,000

0.00

 

CT TNHH CN TS Miền Nam

CFR

362

2,631

416

2,412

9.07

   

FOB

153

2,477

250

2,557

-3.12

   

CIF

-

-

25

3,354

-

 

CT TNHH TS Phát Tiến

FOB

198

2,261

428

2,483

-8.93

   

C&F

26

1,980

66

2,040

-2.94

   

CFR

-

-

26

2,560

-

Thailand

CT CP Nam Việt

CIF

528

1,985

704

1,903

4.31

   

CFR

24

1,835

96

1,589

15.51

   

FOB

22

2,650

-

-

-

 

CT TNHH Kết Nối Hải Sản Mekong

CFR

243

1,783

75

1,738

2.56

   

FOB

-

-

21

2,100

-

 

CT CP TS Anh Vũ Avfish

CFR

149

1,583

123

1,596

-0.79

 

CT CP XNK TS Cửu Long An Giang

C&F

76

1,507

51

1,360

10.78

   

CFR

48

1,910

73

1,790

6.70

   

FOB

22

1,510

-

-

-

XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam tháng 12/2017

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 12/2017 đạt 60,18 nghìn tấn, kim ngạch đạt 141,56 triệu USD, giảm 32,51% về lượng và 16,04% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

Lũy kế năm 2017, xuất khẩu cá tra đạt 820,12 nghìn tấn, kim ngạch đạt 1,75 tỷ USD, giảm 6,39% về lượng nhưng tăng 3,61% về kim ngạch so với năm 2016.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 1/2016-12/2017 (sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

2. Xuất khẩu cá tra theo thị trường

Top 20 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất tháng 12/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

China

10,480

24,014,930

USA

7,809

27,152,129

Brazil

4,035

10,766,999

Mexico

3,391

6,238,773

Thailand

2,494

4,831,701

Singapore

2,250

5,256,661

Philippines

2,235

3,509,956

Colombia

2,014

3,372,740

HongKong

1,944

5,391,443

Saudi Arabia

1,830

2,964,807

India

1,601

2,470,771

Netherlands

1,414

3,680,038

Pakistan

1,367

2,908,332

UAE

1,218

2,289,629

UK

1,215

3,603,628

Canada

1,090

2,976,239

Australia

996

2,757,557

Russian Federation

925

1,573,729

Spain

919

1,819,701

Malaysia

791

1,382,450

Khác

10,165

22,598,481

Tổng

60,183

141,560,695

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

Xuất khẩu cá tra vào khu vực Bắc Mỹ, EU, Nam Mỹ, Trung Đông, Asean tháng 12/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Khu vực

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Bắc Mỹ

12,290

36,367,141

Asean

7,811

15,066,089

EU

7,482

18,234,102

Nam Mỹ

6,656

15,396,624

Trung Đông

4,656

8,560,957

Khác

21,864

42,948,311

Tổng

60,183

141,560,695

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

THỊ TRƯỜNG CÁ CÓ VẢY
1. Giá cá rô phi, điêu hồng tại khu vực ĐBSCL
1.1. Cá điêu hồng

Trong tháng 12/2017, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…ổn định so với tháng 11/2017 dao động trong khoảng 33.000-35.000 đ/kg.(giá tại bè).

Giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang và Đồng Tháp từ tháng 2/2017-1/2018, (Đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

1.2. Cá rô phi

Trong tháng 12/2017, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang… tăng nhẹ 1,36% so với tháng 11/2017 dao động trong khoảng 29.000-31.000 đ/kg. (giá tại bè).

Giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang từ tháng 1/2016-1/2018, (Đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

Cá lóc

Đầu tháng 1/2018, giá cá lóc tăng mạnh so với tháng 11,12/2017. Cụ thể, ngày 15/01/2018, tại Đồng Tháp, giá cá lóc cỡ 700-800 gr/con tăng lên mức 37.000-38.000 đ/kg, cá lóc cỡ 1-1,2 kg/con tăng lên mức 41.000-42.000 đ/kg. Giá cá lóc tăng cao do nguồn cung thấp, theo đó kích thích hộ nuôi thả lại khá nhiều dẫn tới cá giống cá lóc cũng tăng theo. Cụ thể, mẫu 500 con/kg tăng lên mức giá 320 đ/con. Thương nhân dự đoán nguồn cung cá lóc sẽ tăng lên khi gần Tết.

Tại Cần Thơ, giá cá lóc cỡ 700-800 gr/con cũng tăng lên mức 39.000 đ/kg (giá tại ao,tiền mặt).

Diễn biến giá cá lóc cỡ 700-800 gr/con tại ĐBSCL, đồng/kg

Ngày/Khu vực

Cần Thơ

An Giang

Trà Vinh

Đồng Tháp

Ngày 15/01

39.000

33.000-34.000

32.000

37.000-38.000

Ngày 02-12/01

33.000

33.000-34.000

32.000

36.000-37.000

Ngày 28-29/12

33.000

33.000-34.000

32.000

36.000-37.000

Ngày 25-27/12

33.000

33.000-34.000

32.000

33.000-34.000

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá cá rô phi Trung Quốc

Giá cá rô phi nguyên liệu cỡ 1-1,6kg/con tại thị trường Trung Quốc, NDT/kg

 

Quảng Đông. Phật Sơn

Quảng Đông. Mậu Danh

Quảng Đông. Trạm Giang

Quảng Đông. Dương Giang

Quảng Đông. Giang Môn

Vân Nam

Quảng tây

Chương châu. Phúc kiến

07/01

8

8.6

8.3

8

7.8

10

7.8

8.4

18/12

8

8.6

8.2

8

7.7

10

7.6

8.6

26/11

7.8

8.4

8.2

7.8

7.8

10

7.6

8.2

21/11

7.6

8.4

8.2

7.8

-

9.6

7.6

-

14/11

8.2

8.5

8.2

8

7.8-7.9

9.6

7.6

8.4

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá cá rô phi nguyên liệu cỡ dưới 0,6-1kg/con tại thị trường Trung Quốc, NDT/kg

 

Quảng Đông. Giang Môn

Quảng Đông. Phật Sơn

Quảng Đông. Dương Giang

Quảng Đông. Mậu Danh

Vân Nam. Tây song Bản Lạp

07/01

5.8

-

6

6.6

-

18/12

5.8

6

6

6.6

-

26/11

5.8

6.4

5.8

6.4

7

21/11

-

6.2

6

6.4

7.2

14/11

-

6.2

6

6.4

7.2

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam
3.1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng của Việt Nam

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 12/2017, Việt Nam xuất khẩu 1.438 tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,65 triệu USD, tăng 86,06% về lượng và 49,72% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

Lũy kế năm 2017, lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 11.780 tấn và 22,17 triệu USD, tăng 16,95% về lượng và 1,85% về kim ngạch so với năm 2016.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam từ tháng 1/2016-12/2017 (Sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

3.2. Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất

Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất tháng 12/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Nước

Lượng XK, tấn

Kim ngạch XK, USD

USA

342

689,116

Saudi Arabia

177

215,911

UAE

148

244,784

Mexico

125

169,920

Netherlands

92

210,143

China

75

136,275

Singapore

74

61,700

Monaco

71

133,950

Italy

56

84,920

Taiwan

38

100,734

Khác

240

599,094

Tổng

1,437

2,646,545

Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

3.3. Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất

Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất tháng 12/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

DN XK

Lượng XK, tấn

Kim ngạch XK, USD

CT CP Nam Việt

320

585,671

CT CP TS Minh Phú Hậu Giang

250

454,312

CT TNHH CB TS Minh Quý

155

238,150

CT CP THS An Phú

146

235,914

CT TNHH TM & DV Sông Biển

90

112,771

CT TNHH XNK Hải Sản Hải Ngư

87

76,450

CT TNHH MTV ấn Độ Dương

80

161,092

CT TNHH TS Nam Thiên Phát

49

59,444

CT TNHH TM - TS Đức Cường

35

96,250

CN CT CP TS 4

35

80,599

Khác

191

545,893

Tổng

1,437

2,646,545

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

CHÍNH SÁCH

Ngày 21/11/2017, Quốc hội đã thông qua Luật số 18/2017/QH14 quy định về hoạt động thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động thủy sản hoặc có liên quan đến hoạt động thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản (gọi tắt là Luật thủy sản 2017). Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày kể từ ngày 01/01/2019. Luật Thuỷ sản 2017 có nhiều điểm mới. Trong đó, về nuôi trồng thủy sản, được quy định tại Chương III, từ Điều 23 đến Điều 47. Luật đã quy định chi tiết hơn và không bỏ sót các đối tượng nuôi, hình thức nuôi và mục đích của việc nuôi trồng thủy sản. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, chứng chỉ, văn bản chấp thuận trong lĩnh vực thủy sản đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thì được sử dụng cho đến khi hết thời hạn. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật đã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ hoặc thay thế. Chi tiết văn bản xem tại mục Tài liệu hữu ích trên website: viettrader.com/ca-tra

THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 12/2017

+ Trong tháng 10, 11/2017 doanh thu xuất khẩu của IDI tăng đột biến so với cùng kỳ, chỉ tính riêng 2 tháng trên doanh thu của IDI đã đạt 1.197 tỷ đồng tăng 54,45% so với cùng kỳ năm 2016. Lợi nhuận sau thuế là 120 tỷ đồng tăng 634% so với cùng kỳ năm 2016. Tính lũy kế 11 tháng năm 2017 IDI đã đạt doanh thu 4.982 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 344,6 tỷ đồng.

+ Sau khi Công ty Cổ phần Hùng Vương (Mã: HVG) thoái vốn khỏi CTCP Thực phẩm Sao Ta (Mã: FMC), CTCP Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre (Mã: ABT) đã quyết mua 20,1% vốn, tương đương hơn 7,8 triệu cổ phiếu của FMC. Năm 2017, lợi nhuận sau thuế của ABT vào khoảng 35 tỷ đồng, tương ứng với lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) là 2.739 đồng.

+ Trong ngày 08/01/2018, Sở giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh ra thông báo xin ý kiến tới các cổ đông của CTCP ĐT và PT Đa Quốc Gia IDI về việc CTCP Tập đoàn Sao Mai nâng tỷ lệ nắm giữ trên 51% đến mức tối đa có thể trên tổng sô cổ phần có quyền biểu quyết mà không phải thực hiện chào mua công khai. Thời gian gửi văn bản xin ý kiến là đến đầu tháng 02/2018.

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Đề án liên kết SX giống cá tra 3 cấp chất lượng cao cho các tỉnh ĐBSCL

- Theo dự thảo đề án, 7 vùng SX, ương dưỡng giống cá tra chất lượng cao sẽ được đầu tư tại 2 tỉnh gồm An Giang và Đồng Tháp. Trong đó, tỉnh An Giang có 3 vùng ương giống tập trung với tổng diện tích 350 ha, gồm 150 ha tại huyện Châu Phú, 100 ha tại TP Long Xuyên và 100 ha tại TX Tân Châu; tỉnh Đồng Tháp gồm 4 vùng ương giống tập trung với tổng diện tích 420 ha, gồm 100 ha tại huyện Hồng Ngự, 100 ha tại TX Hồng Ngự, 100 ha tại huyện Cao Lãnh và 100 ha tại huyện Châu Thành...Bên cạnh đó, một trung tâm SX giống cá tra chất lượng cao sẽ được xây dựng tại tỉnh An Giang.

- Cơ chế trong việc triển khai sẽ được liên kết theo 3 cấp, bao gồm: Các đơn vị nghiên cứu (viện, trường) cung ứng nguồn giống cá tra bố mẹ, cá tra hậu bị cho các trung tâm giống và các DN để SX cá bột, sau đó các trung tâm và DN cung ứng cá bột cho các DN, cá nhân, HTX, tổ hợp tác... ương giống để cung cấp cho người nuôi thương phẩm, trong đó các DN chế biến, XK cá tra được xác định là hạt nhân cơ bản trong mối liên kết. Theo đó, toàn bộ con giống cá tra của chuỗi SX phải được DN bao tiêu trong chuỗi liên kết từ con giống tới chế biến, XK...

- Theo dự thảo đề án, tổng nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn 2018 - 2025 sẽ cần khoảng 610 tỉ đồng, trong đó giai đoạn 2018-2020 là trên 450 tỉ đồng. Theo đó, cơ chế xã hội hóa và thu hút đầu tư tư nhân sẽ được khuyến khích với cơ cấu vốn ngân sách TƯ chỉ chiếm khoảng 12%; ngân sách địa phương khoảng 6,5%, còn lại là vốn vay tín dụng đầu tư (25%); vốn vay tín dụng thương mại (25%) và hơn 28% là vốn huy động từ đầu tư tư nhân...

- Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2016, toàn vùng ĐBSCL có 108 cơ sở cho sinh sản nhân tạo cá tra với diện tích khoảng 1.500 ha, sản lượng cá bột SX khoảng 16,5 tỷ con, trong đó An Giang và Đồng Tháp là 2 tỉnh SX, cung ứng giống cá tra giống chủ yếu của khu vực ĐBSCL.

- Theo đánh giá, nhu cầu giống cá tra hàng năm cho các tỉnh ĐBSCL hiện nay lên khoảng 2 tỷ con, với số lượng cá tra bột cần thiết khoảng 20 tỷ con (tỷ lệ ương từ bột lên giống trung bình 10%), tổng đàn cá tra bố mẹ cần thiết cho toàn vùng ĐBSCL sẽ vào khoảng 134.000 con.

- Theo dự thảo đề án đang được Bộ NN-PTNT và tỉnh An Giang xây dựng, đến năm 2020, các trung tâm và cơ sở ương giống chất lượng cao theo đề án sẽ đáp ứng 70% nhu cầu giống cá tra chất lượng cao, tăng trưởng nhanh và kháng bệnh theo quy chuẩn cho vùng ĐBSCL với diện tích ương giống toàn vùng nâng lên từ 1.700 ha đến 2.500 ha; đáp ứng cho nhu cầu toàn vùng là 3 - 3,5 tỷ giống. Đến năm 2025, chuỗi SX giống cá tra 3 cấp chất lượng cao sẽ hoạt động ổn định, cung cấp 100% giống cá tra chất lượng cao cho vùng ĐBSCL với nhu cầu toàn vùng là 3,5 - 4 tỷ giống...

Phụ lục 02: Xuất khẩu, nhập khẩu cá đông lạnh của Trung Quốc trong 11 tháng năm 2017.

Trong 11 tháng năm 2017, xuất khẩu và nhập khẩu cá đông lạnh của Trung Quốc lần lượt đạt 1,87 triệu tấn và 1,96 triệu tấn.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 11/2017, (tấn, 1000 USD)

 

T11/2017

11T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

7,063

39,529

71,976

438,731

Frozen fish or fish fillet

200,000

657,591

1,870,000

6,033,333

Fresh or frozen prawns

1,936

24,841

14,572

163,031

Frozen shelled shrimps

7,889

92,714

60,238

691,663

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 11/2017, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T11/2017

11T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

200

349,295

1,960

3,372,034

Fish flour for animal feeding

60

78,083

1,520

2,153,112

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Phụ lục 3: Nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ trong 11 tháng năm 2017

Theo NOAA, trong 11 tháng năm 2017, lượng và giá trị nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ giảm 18,08% và 5,09% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, thị trường Việt Nam giảm 19,66% về lượng và 7,16% về giá trị.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá da trơn của Mỹ trong 11 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm 2016

Thị trường

11T 2017

11T 2016

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Vietnam

97,937

316,562,274

121,908

340,974,927

-19.66

-7.16

China

5,505

36,521,822

4,374

31,150,922

25.88

17.24

Burma

29

194,964

15

110,953

99.73

75.72

Indonesia

13

115,148

-

-

-

-

Bangladesh

10

72,188

1

3,736

587.71

1832.23

India

10

64,482

-

-

-

-

Thailand

8

38,404

53

208,824

-84.34

-81.61

Guyana

7

53,238

19

145,448

-62.42

-63.40

Brazil

5

21,067

1

4,432

800.00

375.34

Panama

   

1

2,298

-

-

Spain

   

1

12,120

-

-

Iceland

   

1

5,598

-

-

Tổng

103,525

353,643,587

126,373

372,619,258

-18.08

-5.09

 Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu của NOAA.

Phụ lục 4: Nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ trong 11 tháng năm 2017

Theo NOAA, trong 11 tháng năm 2017, lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ giảm lần lượt 8,29% và 11,68% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, các thị trường giảm khá mạnh về lượng là: Trung Quốc (-10,9%), Indonesia (-9,34%),…Ngược lại lượng nhập khẩu cá rô phi từ thị trường Việt Nam tăng mạnh 27,31% so với cùng kỳ năm 2016.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của Mỹ trong 11 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm 2016

Thị trường

11T/2017

11T/2016

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

119,865

382,899,949

134,530

442,289,673

-10.90

-13.43

Taiwan

11,459

25,622,868

8,957

22,716,199

27.94

12.80

Honduras

7,858

44,310,774

8,526

51,224,673

-7.83

-13.50

Indonesia

6,425

43,081,609

7,087

48,570,948

-9.34

-11.30

Colombia

5,697

43,596,613

4,997

39,466,160

14.01

10.47

Costa Rica

4,600

28,651,934

4,709

30,245,104

-2.31

-5.27

Mexico

2,627

17,350,331

3,090

19,302,742

-15.00

-10.11

Vietnam

1,801

3,754,186

1,415

3,594,170

27.31

4.45

Ecuador

1,241

6,770,154

1,959

10,881,996

-36.64

-37.79

Thailand

985

3,093,636

1,548

6,389,081

-36.40

-51.58

Khác

2,428

11,814,756

3,091

17,031,716

-21.46

-30.63

Tổng

164,986

610,946,810

179,909

691,712,462

-8.29

-11.68

 Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu của NOAA.

Phụ lục 05: Bảng giá cám cá tra và cá có vảy

Bảng giá thức ăn cá da trơn (tra, basa) loại 26% đạm (đồng/kg):

Tháng/DN

Việt Thắng

Cỏ May

Proconco

US FEED

Hoàng Long

Vina

1/2018

9.650

9.400

9.200

9.000

9.200

9.000

12/2017

9.200

8.900

9.200

9.000

9.200

9.000

11/2017

9.200

8.900

9.200

9.000

9.200

9.000

10/2017

9.600

9.200-9.400

9.500

8.800

9.200

9.200-9.400

9/2017

9.600

9.000 (26%)

9.600-9.700 (28%)

9.500

9.300-9.400

9.000

 

8/2017

10.100

10.150

10.100

-

-

 

7/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

6/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

5/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

4/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

3/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

2/2017

10.800

9.500-9.600

11.000

-

-

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng giá thức ăn cá có vảy loại 30% và 40% đạm (đồng/kg):

Độ đạm

Tháng/DN

Cargill/

Ewos

Proconco

Tongwei

US FEED

Thăng Long

CP

Greenfeed

30%

1/2018

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

12/2017

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11/2017

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

10/2017

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

9/2017

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

40%

1/2018

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

12/2017

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

11/2017

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

10/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

9/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

[1] Hồ sơ đệ trình lần này của Việt Nam là lần tranh chấp thứ tư do Việt Nam khởi xướng kể từ khi tham gia WTO từ năm 2007. Hai khiếu nại trước đó về biện pháp chống bán phá giá của Hoa Kỳ với tôm xuất khẩu của Việt Nam. Vụ việc này kéo dài nhiều năm, cuối cùng đã kết thúc vào năm 2016 khi Hoa Kỳ chấp nhận loại bỏ thuế với một hãng xuất khẩu tôm của Việt Nam và hoàn trả số tiền đặt cọc thuế. Thời điểm đó, cả Hoa Kỳ và Việt nam đều là thành viên của TPP. Tuy nhiên, Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump đã rút khỏi Hiệp định này.