Cá tra 11/2017 - Giá cá giống liên tục tăng cao do nguồn cung khan hiếm

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cá tra 11/2017 - Giá cá giống liên tục tăng cao do nguồn cung khan hiếm

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRONG THÁNG 11/2017

Thị trường cá tra nguyên liệu nội địa

Chuyển động về thị trường

- Theo Tổng cục Thủy sản, lũy kế diện tích nuôi cá tra đến ngày 26/11/2017 là 5.022 ha bằng 108,5 % so với cùng kỳ 2016. Lũy kế diện tích thu hoạch đến ngày 26/11/2017 là 3.763 ha. Sản lượng thu hoạch là 1.230.498 tấn bằng 110 % so với cùng kỳ 2016.

- Trong tháng 11/2017, thị trường cá tra nguyên liệu trong size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tiếp tục duy trì mức giá cao, nguồn cung cá nguyên liệu vào size chế biến tại hầu hết các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ… thời điểm này ở mức khan hiếm.

- Giá cá giống liên tục tăng cao trong tháng 11/2017 do nguồn cung khan hiếm và nhu cầu thả nuôi lại vụ mới ở mức cao.

- Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 11/2017 duy trì ổn định ở mức cao, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 11/2017 ở mức từ 2.787 USD/tấn.

- Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.611 USD/tấn DAP/DAF.

- Thị trường cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng 12/2017 dự kiến vẫn tiếp tục duy trì mức nguồn cung thấp, nhu cầu bắt cá cao sẽ giữ giá duy trì ổn định ở mức như 2 tháng trước đó.

Thương mại

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 11/2017 đạt 58,07 nghìn tấn, kim ngạch đạt 136,64 triệu USD, giảm 26,94% về lượng và 12,52% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

- Xuất khẩu trong tháng 11/2017 đi nhiều thị trường lớn như: Mỹ, Hà Lan, Úc… đều đã giảm so với thời gian hồi tháng 9,10/2017 do đã qua giai đoạn cao điểm giao hàng phục vụ Giáng Sinh và năm mới 2018. Tuy nhiên giá xuất khẩu cá tra fillet trong tháng 11/2017 đã tăng so với hai tháng trước sau thời gian dài cá nguyên liệu khan hiếm và liên tục tăng giá và duy trì mức cao.

- Trung Quốc - Hồng Kông tiếp tục là thị trường nhập khẩu lượng lớn nhất trong tháng 11/2017.

Thị trường cá rô phi, cá điêu hồng

- Trong tháng 11/2017, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang ổn định so với tháng 10/2017 dao động trong khoảng 34.000-35.000 đ/kg. Tương tự, trong thời gian trên giá tại Cần Thơ và Tiền Giang cũng giữ khá ổn định nhưng thấp hơn Đồng Tháp, An Giang khoảng 1.000 đ/kg dao động ở mức từ 33.000-34.000 đ/kg (giá tại bè).

- Trong tháng 11/2017, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp ổn định so với tháng 10/2017 dao động trong khoảng 29.000-31.500 đ/kg.

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 11/2017, Việt Nam xuất khẩu 1.057 tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,07 triệu USD, tăng 60% về lượng và 61,5% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

SẢN XUẤT

Theo Bộ NN&PTNT, diện tích nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL 11 tháng năm 2017 đạt 5.822 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng thu hoạch 11 tháng đạt 1.207,5 ngàn tấn (+4,3%). Trong đó, các tỉnh có diện tích và sản lượng cá tra lớn vẫn phát triển nuôi mạnh là Đồng Tháp với sản lượng 435,9 ngàn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ, An Giang với sản lượng 257,7 ngàn tấn (+0,5%), Cần Thơ với sản lượng đạt 171,5 ngàn tấn (+12,6%), Bến Tre với sản lượng đạt 176,6  ngàn tấn (+8,6%)…

Diện tích (ha) và sản lượng (tấn) cá tra tại ĐBSCL 11 tháng năm 2017.

 

11T/2017

11T/2016

% thay đổi 11T/2017 so với 11T/2016 về

 

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích

Sản lượng

Đồng Tháp

2372

435,867

2,300

430,000

3.13

1.36

An Giang

1,229

257,655

1,149

256,443

6.96

0.47

Bến Tre

769

176,613

874

162,630

-12.01

8.60

Cần Thơ

713

171,543

679

152,406

5.01

12.56

Vĩnh Long

458

73,358

459

69,471

-0.13

5.60

Tiền Giang

75

31,500

77

33,500

-2.60

-5.97

Hậu Giang

103

30,000

95

29,888

8.76

0.38

Trà Vinh

34

16,909

40

10,406

-15.00

62.49

Sóc Trăng

66

9,994

35

8,872

88.57

12.65

Kiên Giang

3

4,100

-

4,000

-

2.50

ĐBSCL

5,822

1,207,539

5,708

1,157,616

2.01

4.31

Nguồn: Bộ NN&PTNT.

Theo Tổng cục Thủy sản, lũy kế diện tích nuôi cá tra đến ngày 26/11/2017 là 5.022 ha bằng 108,5 % so với cùng kỳ 2016. Lũy kế diện tích thu hoạch đến ngày 26/11/2017 là 3.763 ha. Sản lượng thu hoạch là 1.230.498 tấn bằng 110 % so với cùng kỳ 2016.

Tiến độ thả nuôi và thu hoạch cá tra tại ĐBSCL từ 1/1/2017-26/11/2017.

 

Diện tích,

ha

% thay đổi so với cùng kỳ 2016

Sản lượng, tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2016

Từ 1/1-26/11/2017

5,022

+8,5

1.230.498

+10

Từ 1/1-04/11/2017

4,768

+8,5

1.040.100

+10

Từ 1/1-24/10/2017

4,725

+8,5

1.027.680

+8,5

Từ 1/1-13/10/2017

4,571

+7

994,456

+13

Từ 1/1-08/9/2017

4,193

+5

848,922

+11

Từ 1/1-18/8/2017

3,927

+5

759,168

+10

Từ 1/1-11/8/2017

3,879

+5

741,709

+11

Từ 1/1-04/8/2017

3,835

+5

730,800

+11

Từ 1/1-21/7/2017

3,462

+1

632,431

+5

Từ 1/1-07/7/2017

3,227

+1

561,113

+4

Từ 1/1-23/6/2017

3,131

0

531,486

+3

Từ 1/1-16/6/2017

3,061

0

509,960

+2

Từ 1/1-09/6/2017

2,832

-2

444,144

-4

Từ 1/1-29/5/2017

2,868

+0,6

433,757

+0,5

Từ 1/1-28/4/2017

2,445

-0,1

317,478

+10,4

Từ 1/1-21/4/2017

2,419

-0,3

309,968

+9,2

Nguồn: TCTS

Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng cá tra tại ĐBSCL trong tháng 11/2017 ước tính đạt 101,9 nghìn tấn, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 26,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; Đồng Tháp 25,5 nghìn tấn, tăng 31,9%; Cần Thơ 15,5 nghìn tấn, tăng 1,7%.

GIÁ CÁ TRA NGUYÊN LIỆU TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – GIÁ CÁ TRA XUẤT KHẨU VÀ TRIỂN VỌNG
1. Thị trường cá tra nguyên liệu trong size

Trong tháng 11/2017, thị trường cá tra nguyên liệu trong size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tiếp tục duy trì mức giá cao, dao động từ 28.300-28.500 đ/kg (tiền mặt), một số công ty trả thức ăn hoặc bắt lượng nhỏ mua ở mức giá 28.800-29.000 đ/kg. Thương nhân cho biết nguồn cung cá nguyên liệu vào size chế biến tại hầu hết các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ… thời điểm này ở mức khan hiếm. Như tại Cần Thơ lượng cá thịt của khu vực hộ nuôi ngoài ước chừng duy trì khoảng 20% lượng cá đủ cỡ chế biến, còn lượng này tại vùng nuôi doanh nghiệp cũng chỉ khoảng 30%. Theo đó, các nhà máy lớn tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ… chỉ hoạt động cầm chừng bằng nguồn cá nhà hoặc cá hộ gia công, còn lại khá nhiều nhà máy chế biến cỡ nhỏ đã tạm ngừng hoạt động do không có cá làm hàng, hoặc không cạnh tranh được vì giá cá quá cao (giá trong tháng 11/2017 cao hơn khoảng 5.000-6.000 đ/kg so với cùng kỳ năm trước) mà hộ nuôi có xu hướng giữ cá lại nghe ngóng tình hình sắp tới.

Về diễn biến xuất khẩu trong tháng 11/2017, nhìn chung xuất khẩu cá tra đi nhiều thị trường lớn như: Mỹ, Hà Lan, Úc… đều đã giảm so với thời gian hồi tháng 9,10/2017 do đã qua giai đoạn cao điểm giao hàng phục vụ Giáng Sinh và năm mới 2018. Tuy lượng xuất khẩu có suy giảm trong tháng 11/2017 nhưng do trong một thời gian dài cá nguyên liệu khan hiếm và liên tục tăng giá duy trì mức cao thì các nhà nhà xuất khẩu đã điều chỉnh giá xuất khẩu theo xu hướng tăng lên trong tháng 11/2017 so với 2 tháng trước đó đặc biệt là tại thị trường Trung Quốc - Hồng Kông. Giá xuất khẩu cá tra fillet đi thị trường Trung Quốc- Hồng Kông chưa qua mạ băng và tăng trọng trong tháng 11/2017 đều tăng lên mức trên 4 USD/kg. Cùng xu hướng tăng giá là tại thị trường EU bởi các nhà nhập khẩu tại đây vẫn khó tìm kiếm được mặt hàng thay thế bởi giá cá thịt trắng khác như cá Cod, cá Haddock, cá minh thái… cũng đều tăng mạnh về cuối năm do bị cắt giảm hạn ngạch khai thác. Chỉ có thị trường Mỹ vẫn duy trì mức giá khá ổn định và có xu hướng giảm nhẹ sau tháng 10/2017 cao điểm có lúc đạt 4-4,2 USD/kg cá fillet đã mạ băng và tăng trọng thì trong tháng 11/2017 chỉ còn dao động quanh mức 3,5-3,7 USD/kg (FOB).

Thương nhân cho biết một số doanh nghiệp cần trả các đơn hàng cá size lớn từ 900-1100 gr/con trong tháng 12/2017 sẽ phải cạnh tranh bắt mạnh hoặc ký hợp đồng trước để hộ nuôi giữ cá lại hoặc tự cung ứng lượng cá cỡ này vì trong tháng size cá từ 700-800 gr/con đã được thương lái thu gom để làm hàng xẻ bướm đi thị trường Trung Quốc rất nhiều.

Như vậy, thị trường cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng 12/2017 dự kiến vẫn tiếp tục duy trì mức nguồn cung thấp, nhu cầu bắt cá cao sẽ giữ giá duy trì ổn định ở mức như 2 tháng trước đó.

Lượng xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ, Hà Lan, Úc trong 11 tháng năm 2017. (tấn)

Tháng

USA

Netherlands

Australia

1

6,460

1,286

867

2

5,450

944

1,094

3

7,988

1,425

1,274

4

9,486

1,494

1,141

5

10,379

1,389

1,201

6

15,717

2,261

1,083

7

12,423

1,427

916

8

5,312

1,592

1,085

9

5,208

1,229

988

10

8,287

1,602

1,103

11

6,177

797

840

Nguồn: TCHQ.

Tương quan giá cá nguyên liệu, giá cá giống và diện tích thả nuôi cá tra tại ĐBSCL từ tháng 1-12/2017: Giá cá giống liên tục tăng mạnh do khan hiếm khiến, theo đó diện tích thả nuôi mới tiếp tục chững lại.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tháng 1/2016-12/2017, (Đồng/kg): Giá cá nguyên liệu tiếp tục chững ở mức cao do khan hiếm.

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thị trường cá vượt size

Trong tháng 11/2017, hộ nuôi ngoài hầu như không có nguồn cung cá nguyên liệu cỡ trên 1k/con. Một số ít cá size trên 1kg/con tại An Giang được bắt làm hàng chợ giá phổ biến ở mức 26.000 đ/kg, lượng bắt không nhiều.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu cỡ trên 1kg/con tại ĐBSCL từ 1/2016-12/2017, (Đồng/kg)

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Thị trường cá tra giống

Tháng 11/2017 do ảnh hưởng mưa nhiều và dịch bệnh khiến cá bột, cá giống, cá thịt tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ bị bệnh hao hụt nhiều. Tại Cần Thơ, An Giang cá thịt thả nuôi mới bị hao hụt khá lớn, ước tính đến khoảng 30%. Do đó, nhu cầu mua cá giống có xu hướng tăng trở lại trong khi thời gian này đã hết mùa sinh sản của cá tra nên nguồn cá bột để sản xuất cá giống ở mức thấp kéo theo nguồn cung cá giống trở nên khan hiếm. Tại An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ mẫu giống 30-40 con/kg đã tăng liên tục từ mức 42.000 đ/kg lên mức 50.000-54.000 đ/kg. Do giá giống cao và nguồn cung khan hiếm nên trong tháng 11/2017 các ao doanh nghiệp tại Cần Thơ có thả mới lại nhưng ít ước chừng chỉ chiếm được khoảng 20%, còn hộ nuôi thả rất ít. Còn tại Đồng Tháp, An Giang hầu như các công ty và hộ nuôi cũng thả mới rất cầm chừng.

Diễn biến giá cá giống loại 30 con/kg tại ĐBSCL từ 1/2016-12/2017, (Đồng/kg): Giá cá giống tiếp tục tăng và duy trì mức cao.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá cá tra xuất khẩu
4.1 Giá cá tra xuất khẩu tham chiếu

Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 11/2017 duy trì ổn định ở mức cao, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 11/2017 ở mức từ 2.787 USD/tấn.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi các thị trường EU, Bắc Mỹ…, USD/tấn FOB

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.8 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Đối với cá xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường biên, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.611 USD/tấn DAP/DAF.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi Trung Quốc, USD/tấn DAP/DAF.

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.8 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá xuất khẩu cá tra bình quân theo chủng loại vào một số thị trường

 Nguồn: TCHQ

4.2. Giá cá tra xuất khẩu theo số liệu hải quan

Lượng và đơn giá cá tra fillet đông lạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp vào một số thị trường tháng 11/2017 so với tháng 10/2017

     

Tháng 11/2017

Tháng 10/2017

% thay đổi về giá

Thị trường

DNXK

ĐKGH

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

China

CT CP ĐT & PT Đa Quốc Gia I.D.I

DAP

274

2,380

1,503

2,095

13.61

   

C&F

-

--

425

2,014

-

   

CFR

96

2,405

171

2,299

4.62

   

CIF

-

-

98

2,417

-

   

FOB

-

-

49

2,360

-

 

CT CP Gò Đàng

DAF

1,142

1,871

1,650

1,786

4.81

   

CFR

221

2,003

123

1,730

15.75

   

FOB

74

1,617

72

1,708

-5.37

 

CT CP Vĩnh Hoàn

CFR

670

2,692

1,172

2,634

2.22

   

CIF

99

2,475

374

2,432

1.77

   

FOB

171

1,943

93

1,530

27.02

 

CT TNHH Đại Thành

CFR

759

2,216

884

2,004

10.55

   

CIF

50

2,255

325

2,297

-1.81

   

FOB

-

-

24

2,470

-

   

EXW

56

2,557

-

-

-

 

CT CP TS Trường Giang

DAF

229

3,045

409

2,495

22.04

   

CFR

20

2,340

379

2,130

9.88

   

EXW

151

3,064

88

2,716

12.79

   

FOB

19

1,775

-

-

-

   

CIF

187

3,217

-

-

-

USA

CT CP Vĩnh Hoàn

FOB

3,733

3,821

4,520

4,049

-5.62

   

C&F

15

2,870

-

-

-

 

CT TNHH TS Biển Đông

CFR

2,018

3,699

1,905

3,604

2.63

 

CT CP Hùng Vương

FOB

1,377

3,645

1,497

3,890

-6.29

 

CT TNHH TS Đông Phương

C&F

227

2,648

144

2,505

5.74

 

CT TNHH Nguyễn Hưng Gia

CFR

-

-

100

1,551

-

Mexico

CT CP ĐT & PT Đa Quốc Gia I.D.I

FOB

77

1,823

345

1,739

4.81

   

CIF

-

-

177

2,487

-

   

C&F

51

1,389

51

1,389

0.00

   

CFR

12

1,530

51

1,760

-13.07

 

CT CP CB & XNK TS Cadovimex Ii

FOB

563

2,158

590

1,902

13.44

 

CT CP Nam Việt

CFR

217

1,924

208

2,105

-8.59

   

FOB

120

1,620

168

1,482

9.29

   

CIF

22

2,200

114

1,629

35.09

 

CT CP XNK TS Cửu Long

CFR

50

1,550

300

1,678

-7.65

   

CIF

-

-

25

1,460

-

 

CT CP CB THS Hiệp Thanh

FOB

75

1,480

298

1,572

-5.85

Brazil

CT TNHH MTV CB TS Hoàng Long

FOB

224

2,719

684

2,067

31.56

   

CFR

167

3,103

126

2,731

13.61

   

CIF

26

3,000

26

3,000

0.00

 

CT TNHH CN TS Miền Nam

CFR

338

2,372

364

2,328

1.88

   

FOB

154

2,569

192

2,588

-0.74

   

CIF

-

-

77

2,761

-

 

CT TNHH TS Phát Tiến

FOB

402

2,466

484

2,322

6.23

   

C&F

66

2,040

102

2,206

-7.52

   

CFR

26

2,560

26

2,560

0.00

 

CT CP Nam Việt

FOB

113

2,582

249

2,519

2.52

   

CFR

294

2,658

168

2,333

13.92

   

CIF

23

3,020

23

3,020

0.00

 

CT CP Hùng Vương

FOB

100

3,060

150

3,060

0.00

   

CIF

23

3,500

47

3,365

4.01

Saudi Arabia

CT CP XNK TS Cửu Long An Giang

C&F

175

1,517

275

1,669

-9.10

   

CIF

175

1,831

250

1,840

-0.48

   

CFR

75

1,450

75

1,640

-11.59

 

CT CP Nam Việt

CIF

49

2,560

340

2,048

25.01

   

CFR

-

-

50

1,525

-

 

CT CP TP Bạn & Tôi

CIF

204

1,263

255

1,256

0.50

   

CFR

-

-

85

1,605

-

   

C&F

25

2,070

50

1,773

16.73

 

CT CP XNK TS An Mỹ

CIF

150

2,185

250

1,931

13.14

 

CT TNHH TS Phát Tiến

CFR

125

1,549

100

1,481

4.57

   

CIF

49

2,060

48

2,035

1.23

   

C&F

-

-

25

1,450

-

Nguồn: AgroMonitor tính toán từ số liệu sơ bộ TCHQ

XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam tháng 11/2017

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 11/2017 đạt 58,07 nghìn tấn, kim ngạch đạt 136,64 triệu USD, giảm 26,94% về lượng và 12,52% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

Lũy kế 11 tháng năm 2017, xuất khẩu cá tra đạt 748,58 nghìn tấn, kim ngạch đạt 1,58 tỷ USD, giảm 4,85% về lượng nhưng tăng 4,29% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 1/2016-11/2017 (sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

2. Xuất khẩu cá tra theo thị trường

Top 20 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất tháng 11/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

China

11,421

25,491,814

USA

8,110

29,117,112

Mexico

3,494

6,311,315

Brazil

3,018

8,061,502

Pakistan

2,598

5,621,327

Thailand

2,509

4,757,330

Saudi Arabia

2,113

3,449,129

Colombia

2,100

3,389,621

Philippines

1,668

2,594,709

HongKong

1,523

3,803,581

Singapore

1,420

3,725,798

UAE

1,378

2,213,074

Canada

1,163

3,034,080

Australia

1,064

3,011,251

Netherlands

1,032

2,892,105

India

969

1,501,781

United Kingdom

941

3,120,749

Malaysia

929

1,664,802

Taiwan

835

1,546,421

Egypt

828

1,892,481

Khác

8,960

19,441,597

Tổng

58,074

136,641,578

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

Xuất khẩu cá tra vào khu vực Bắc Mỹ, EU, Nam Mỹ, Trung Đông, Asean tháng 11/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Khu vực

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Bắc Mỹ

12,767

38,462,507

Asean

6,578

12,840,625

Nam Mỹ

5,655

12,492,505

EU

5,650

14,360,364

Trung Đông

5,630

10,033,448

Khác

21,864

42,948,311

Tổng

58,074

136,641,578

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

THỊ TRƯỜNG CÁ RÔ PHI
1. Giá cá rô phi, điêu hồng tại khu vực ĐBSCL
1.1. Cá điêu hồng

Trong tháng 11/2017, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang ổn định so với tháng 10/2017 dao động trong khoảng 34.000-35.000 đ/kg. Tương tự, trong thời gian trên giá tại Cần Thơ và Tiền Giang cũng giữ khá ổn định nhưng thấp hơn Đồng Tháp, An Giang khoảng 1.000 đ/kg dao động ở mức từ 33.000-34.000 đ/kg (giá tại bè).

Giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang và Đồng Tháp từ tháng 2-12/2017.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

1.2. Cá rô phi

Trong tháng 11/2017, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp ổn định so với tháng 10/2017 dao động trong khoảng 29.000-31.500 đ/kg.

Giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp từ tháng 1/2016-12/2017.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

2. Giá cá rô phi Trung Quốc

Giá cá rô phi nguyên liệu cỡ 1-1,6kg/con tại thị trường Trung Quốc, NDT/kg

 

Quảng Đông. Phật Sơn

Quảng Đông. Mậu Danh

Quảng Đông. Trạm Giang

Quảng Đông. Dương Giang

Quảng Đông. Giang Môn

Vân Nam

Quảng tây

Chương châu. Phúc kiến

Hải Nam

26/11

7.8

8.4

8.2

7.8

7.8

10

7.6

8.2

8

21/11

7.6

8.4

8.2

7.8

-

9.6

7.6

-

-

14/11

8.2

8.5

8.2

8

7.8

9.6

7.6

8.4

7.8

07/11

8.2

8.6

8.2

8

7.8

10

7.6

-

8.2

01/11

8.4

-

8.2

8.2

8

10

8

8.4

-

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá cá rô phi nguyên liệu cỡ dưới 0,6-1kg/con tại thị trường Trung Quốc, NDT/kg

 

Quảng Đông. Giang Môn

Quảng Đông. Phật Sơn

Quảng Đông. Dương Giang

Quảng Đông. Mậu Danh

Vân Nam

26/11

5.8

6.4

5.8

6.4

7

21/11

-

6.2

6

6.4

7.2

14/11

-

6.2

6

6.4

7.2

07/11

5.8

6.2

6

6.6

7.2

01/11

-

6

6.2

-

-

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam
3.1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng của Việt Nam

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 11/2017, Việt Nam xuất khẩu 1.057 tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,07 triệu USD, tăng 60% về lượng và 61,5% về kim ngạch so với cùng kỳ 2016.

Lũy kế 11 tháng năm 2017, lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 10.250 tấn và 19,42 triệu USD, tăng 10,23% về lượng nhưng giảm 2,88% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam từ tháng 1/2016-11/2017 (Sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

3.2. Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất

Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất tháng 11/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Nước

Lượng XK, tấn

Kim ngạch XK, USD

USA

149

400,007

Norway

125

276,510

Netherlands

119

229,365

Saudi Arabia

116

170,459

Monaco

89

169,100

UK

88

115,330

Singapore

51

55,796

Korea (Republic)

47

121,709

UAE

47

63,115

China

44

90,013

Khác

183

379,123

Tổng

1,057

2,070,526

Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

3.3. Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất

Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất tháng 11/2017 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

DN XK

Lượng XK, tấn

Kim ngạch XK, USD

CT CP THS An Phú

221

454,249

CT CP Nam Việt

143

272,709

CT TNHH MTV ấn Độ Dương

111

222,935

CT CP TS MINH PHú - HậU GIANG

104

193,434

CT TNHH CB TS Minh Quý

94

141,152

CT TNHH TM & DV Sông Biển

82

175,601

CT TNHH XNK Hải Sản Hải Ngư

47

46,172

CT CP KD THS Sài Gòn

40

100,802

CT TNHH Ck Frozen Foods Việt Nam

30

34,939

CT TNHH MTV Hùng Phúc

25

41,588

Khác

160

386,947

Tổng

1,057

2,070,526

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 11/2017

15/11: Trong 10 tháng 2017, xuất khẩu cá tra đi thị trường Brazil đạt 84 triệu tấn, tăng 70% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Dự báo, trong quý 4/2017, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Brazil tiếp tục tăng từ 25-50% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, sản phẩm cá tra chất lượng cao giá cao vẫn được khách hàng Brazil ưa chuộng.

20/11: Hiệp hội Thương mại châu Âu AIPCE-CEP, đại diện cho các nhà chế biến, thương nhân và nhà NK thủy hải sản của khu vực, cho biết trong năm nghiên cứu 2016, khối lượng NK các loài cá vào Liên minh châu Âu tăng 213.000 tấn lên 9,2 triệu tấn, tăng 2,4% so với năm trước. Thêm vào đó, tiêu thụ hải sản bình quân đầu người tăng 0,6 kg/người lên 24,5 kg/người trong năm 2016. Nguồn cung ổn định và sự phục hồi nền kinh tế EU đã đẩy mạnh NK các sản phẩm cá thịt trắng.

21/11: Tập đoàn Sao Mai khánh thành nhà máy thức ăn thủy sản (TATS) “Sao Mai Super Feed” tọa lạc tại Cụm công nghiệp Sao Mai (Đồng Tháp). Sao Mai Super Feed khởi công năm 2015, công suất 360.000 tấn/năm, lắp đặt 7 dây chuyền, công suất 12 tấn/giờ/dây chuyền, nạp liệu theo quy trình hoàn toàn tự động và khép kín. Sao Mai đã tiên phong đầu tư khép kín chuỗi giá trị con cá tra theo mô hình 3F (nhà máy thức ăn, trang trại chăn nuôi, nhà máy chế biến và phân phối đến người tiêu dùng), bước ngoặt trong quá trình sản xuất khép kín ngành hàng cá tra Việt Nam.

24/11: Ông Cui He, người đứng đầu Theo Liên minh Marketing và Chế biến các sản phẩm thủy sản Trung Quốc (Cappa) cho biết nhập khẩu thủy sản năm 2016 của Trung Quốc đạt khoảng 5,6 triệu tấn, trong đó khoảng 1 triệu tấn được buôn lậu vào Trung Quốc từ Việt Nam. Đây là một thực tế mà ngành thủy sản đều biết rằng thủy sản được vận chuyển đến Hải Phòng, sau đó được buôn lậu qua biên giới Trung Quốc, để tránh thuế nhập khẩu và thuế doanh thu. Ngoài ra, thủy sản cũng được nhập lậu vào Trung Quốc qua Hong Kong.

27/11: Tại châu Âu có 5 cảng lớn là các trung tâm phân phối quan trọng cho cá tra vào thị trường này, trong đó có cảng Rotterdam (Hà Lan). Nhờ quốc gia nằm ở cửa ngõ nên giao dịch cá tra, basa Việt Nam vào thị trường này vẫn “tấp nập” hơn trong nhiều năm qua. Giá nhập khẩu trung bình sản phẩm cá tra, basa fillet đông lạnh (HS 030462) của Hà Lan đang ở mức tương đương, dao động từ 2,8 - 3 USD/kg. Giá sản phẩm cá tra chế biến và GTGT của Việt Nam tại thị trường Hà Lan khá tốt, đặc biệt, với các sản phẩm có dãn nhãn ASC sẽ có mức giá cao gấp từ 2-3 lần so với sản phẩm cá tra phile đông lạnh thông thường. Trong 10 tháng năm 2017, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Hà Lan giảm nhẹ 2% so với cùng kỳ năm trước là nằm trong xu thế chung của nhiều quốc gia lớn tại Châu Âu. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lạc quan cho rằng, nếu doanh nghiệp cá tra đẩy mạnh sản phẩm cá tra chất lượng cao, tỷ lệ mạ băng thấp thì vẫn có được giá tốt tại nhiều thị trường nhập khẩu lớn, không riêng chỉ thị trường Hà Lan.

27/11: Theo ông Phạm Hùng Minh, Phó Giám đốc Hợp tác xã Thủy sản Đại Thắng, ở xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang năm nay, hợp tác xã có 4/22 hộ không nuôi cá, các hộ còn lại thả nuôi số lượng ít hơn so với năm trước. Nếu như những năm trước sản lượng cá của hợp tác xã là 1.500 tấn thì năm nay chỉ còn khoảng 1.200 tấn. Do thời điểm này khan hiếm cá nên mức giá này đã giữ nửa tháng nay. Tuy nhiên, đến thời điểm này chỉ có một vài hộ có cá để bán.

28/11: NHNN Việt Nam đang lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Thông tư Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú. Theo đó, tại Dự thảo Thông tư, NHNN Việt Nam đề xuất kéo dài thời hạn cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay đến hết ngày 31/12/2018.

29/11: UBND tỉnh An Giang vừa triển khai kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững tỉnh An Giang giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2025. Mục tiêu hướng tới là tạo ra sản phẩm thủy sản đạt tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng theo yêu cầu của thị trường nội địa và xuất khẩu, tổ chức sản xuất thủy sản theo chuỗi giá trị gắn với thị trường tiêu thụ, nâng mức đóng góp ngành thủy sản chiếm trên 30% trong tăng trưởng GDP của ngành nông nghiệp. An Giang sẽ ban hành chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây dựng các vùng sản xuất thủy sản ứng dụng công nghệ cao, quy mô công nghiệp, tăng năng suất, hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

29/11: Theo Philippine Mirror Business đã báo cáo vào ngày 28 tháng 11 năm 2017, Cục Thống kê Philippine đã đưa ra một báo cáo cho rằng do sự kém hiệu quả của nghề cá thương mại (-14,2%) và thủy sản ven biển (-0,68%), sản lượng thủy sản trong quý thứ ba là 971.000 tấn, Giảm 3,89%, dẫn đến giảm sản lượng thủy sản 2% trong ba quý đầu năm. Sản lượng cá nuôi chính trong quý 3 như sau: Cá nheo 107.000 tấn, giảm 0,73%; Vòng 47.000 tấn, giảm 3,94%, cá rô phi 52.500 tấn, giảm 0.23%.

05/12: Hợp tác xã C. Vale ở miền nam Brazil đã mở ra nhà máy chế biến cá rô phi lớn nhất cả nước có khả năng giết mổ 75.000 con cá hàng ngày. Nhà máy này có chi phí ước tính 33,7 triệu USD tại khu liên hợp của thành phố Palotina. Khu liên hợp này được đặt gần một cơ sở chế biến sẽ bước đầu tập trung vào sản xuất cá rô phi phi lê nhưng sẽ sớm mở rộng thành các mặt hàng làm sẵn. Khu liên hợp này cũng bao gồm một nhà máy thức ăn thủy sản.

06/12: Mỹ không thuê lao động Bắc Triều Tiên do lệnh trừng phạt có thể khiến giá thuỷ sản tại Mỹ tăng do hầu hết nguồn cung cấp thuỷ sản tại Mỹ đến từ Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia Châu Á.

06/12: Giá cá cod và haddock bỏ đầu và ruột tăng cao lên mức 3.9-4 USD/kg và 3 USD/kg. Dù giá cao nhưng các nhà chế biến lớn sẽ phải chấp nhận các mức giá này vì phải hoàn thành hợp đồng dài hạn. Các nhà chế biến nhỏ sẽ chuyển sang cá minh thái vì giá thấp hơn.

PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Xuất khẩu, nhập khẩu cá đông lạnh của Trung Quốc trong 10 tháng năm 2017.

Trong 10 tháng năm 2017, xuất khẩu cá đông lạnh của Trung Quốc đạt 1,67 triệu tấn. Nhập khẩu cá đông lạnh của nước này trong 10 tháng năm 2017 đạt 1,76 triệu tấn.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 10/2017, (tấn, 1000 USD)

 

T10/2017

10T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

6,127

34,917

64,913

399,202

Frozen fish or fish fillet

170,000

557,589

1,670,000

5,375,635

Fresh or frozen prawns

2,391

28,302

12,637

138,190

Frozen shelled shrimps

6,593

75,280

52,349

598,948

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 10/2017, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T10/2017

10T 2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

160

343,463

1,760

3,022,935

Fish flour for animal feeding

110

146,838

1,470

2,075,030

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Phụ lục 02: Bảng giá cám cá tra và cá có vảy

Bảng giá thức ăn cá da trơn (tra, basa) loại 26% đạm (đồng/kg):

Tháng/DN

Việt Thắng

Cỏ May

Proconco

US FEED

Hoàng Long

Vina

12/2017

9.600

9.200-9.400

9.500

8.800

9.200

9.200-9.400

11/2017

9.600

9.200-9.400

9.500

8.800

9.200

9.200-9.400

10/2017

9.600

9.200-9.400

9.500

8.800

9.200

9.200-9.400

9/2017

9.600

9.000 (26%)

9.600-9.700 (28%)

9.500

9.300-9.400

9.000

 

8/2017

10.100

10.150

10.100

-

-

 

7/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

6/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

5/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

4/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

3/2017

10.500-10.600

9.500-9.600

10.800-11.000

-

-

 

2/2017

10.800

9.500-9.600

11.000

-

-

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng giá thức ăn cá có vảy loại 30% và 40% đạm (đồng/kg):

Độ đạm

Tháng/DN

Cargill/

Ewos

Proconco

Tongwei

US FEED

Thăng Long

CP

Greenfeed

30%

12/2017

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

11/2017

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

10/2017

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

9/2017

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

14.000

40%

12/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

11/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

10/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

9/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp