Cá tra 1/2018 - Giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL tăng nhẹ

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cá tra 1/2018 - Giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL tăng nhẹ

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 1/2018

Thị trường cá tra nguyên liệu nội địa

Chuyển động về thị trường

- Lượng tồn kho cá tra nguyên liệu cuối tháng 1/2018 tiếp tục có chiều hướng suy giảm. Tuy nhiên, điều đó không hẳn tạo lên áp lực tăng giá “rõ nét” cho thị trường cá tra nguyên liệu thời điểm ra Tết.

- AgroMonitor ước tính sản lượng khai thác cá tra tại ĐBSCL trong tháng 1/2018 tăng nhẹ 6,14% so với tháng 12/2017.

- Trong tháng 1/2018, thị trường cá tra nguyên liệu trong size 700-900 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang… tiếp tục tăng giá nhẹ so với trước đó do nguồn cung thiếu hụt và nhu cầu tăng mạnh của thị trường Trung Quốc trước dịp Tết.

- Trong tháng 1/2018, cá nguyên liệu vượt size trên 1kg/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ…hút hàng do nhu cầu cao từ thị trường Trung Quốc, nhưng lượng cá ít nên giá được công ty và thương lái chào cao.

- Giá cá giống trong tháng 1/2018 và đầu nửa đầu tháng 2/2018 biến động tăng giảm với biên độ rất lớn và có thời điểm đạt mức cao chưa từng có.

- Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 1/2018 có xu hướng tăng nhẹ so với tháng 12/2017, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 1/2018 ở mức 2.843 USD/tấn.

- Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.642 USD/tấn DAP/DAF.

- Có tin đồn đoán cho rằng, có công ty tại Cần Thơ chào mua cá nguyên liệu size dưới 1 kg/con và trên 1 kg/con tương ứng mức 29.500 đ/kg (tiền mặt) và 30.000 đ/kg (tiền mặt) dự kiến bắt sau Tết. Nếu điều này xảy ra, thị trường cá nguyên liệu sẽ đạt mốc kỷ lục chưa từng có từ trước đến nay. Tuy nhiên, với mức giá tăng cao liên tục các doanh nghiệp xuất khẩu đã ký những đơn hàng kỳ hạn giao xa sẽ gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất sẽ là lực cản đà tăng của thị trường. Ngoài ra, thị trường cá thịt còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố chủ chốt như các rào cản thị trường (Mỹ, EU), tính ổn định thị trường (Trung Quốc), những rủi ro tiềm ẩn (Saudi Arabia), thị trường cá bột, cá giống…Do đó, diễn biến thị trường cá nguyên liệu ra Tết có thể biến động đa chiều với biên độ khó đoán định.

Thương mại

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 1/2018 đạt 62,24 nghìn tấn, kim ngạch đạt 148 triệu USD, tăng nhẹ 0,28% về lượng nhưng tăng mạnh 23,3% về kim ngạch so với cùng kỳ 2017.

- Trung Quốc-Hồng Kông là thị trường nhập khẩu lượng và kim ngạch cá tra lớn nhất tháng 1/2018. Về cuối tháng 1/2018, xuất khẩu qua biên mậu sang thị trường Trung Quốc ngưng trệ do thời tiết xấu và ách tắc giao thông.

- Áp lực chính sách do Mỹ áp dụng gần đây đối với nhập khẩu cá tra từ Việt Nam có thể tiếp tục điều chỉnh luồng thương mại cá tra dịch chuyển sang Trung Quốc. Khuynh hướng này được cho là mới chỉ bắt đầu và dự kiến gây ra nhiều vấn đề cho xuất khẩu cá tra Việt Nam trong năm 2018 vào thị trường Mỹ.

- Tính chung cả lượng xuất chính ngạch và tiểu ngạch, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Trung Quốc tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc năm 2017 ước đạt gần 107 nghìn tấn.

- Vĩnh Hoàn, Nam Việt, Đại Thành và Trường Giang là những doanh nghiệp xuất khẩu tăng trưởng tốt trong tháng 1/2018, ngược lại “vua cá tra” Hùng Vương lại đang trên đà suy giảm.

Thị trường cá có vảy

- Trong tháng 1/2018, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…giảm 0,1% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 33.000-34.000 đ/kg (giá tại bè). Giá cá diêu hồng trong cuối tháng 1/2018 giảm do có nguồn cá biển về nhiều khiến thị trường nội địa bị dư cung.

- Trong tháng 1/2018, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang…tăng 2,67% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 31.000-33.000 đ/kg. (giá tại bè).

- Trong tháng 1/2018, giá cá lóc size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…giảm 5% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 33.000-37.000 đ/kg (giá tại ao).

- Giá cá rô phi nguyên liệu tại Trung Quốc trong tháng 1/2018 tăng khá mạnh so với tháng trước.

- Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 1/2018, Việt Nam xuất khẩu 1,27 nghìn tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,15 triệu USD, tăng 82,37% về lượng và 41,86% về kim ngạch so với cùng kỳ 2017.

 

PHẦN 1: CÂN ĐỐI CUNG CẦU CÁ TRA NGUYÊN LIỆU THÁNG 1/2018

Dựa vào con số về tình hình cung cầu cá tra dưới đây, AgroMonitor ước tính lượng tồn kho cá tra tính đến cuối tháng 1/2018 sẽ còn khoảng gần 166 nghìn tấn. Lượng tồn kho tiếp tục có chiều hướng suy giảm so với mức đầu kỳ chủ yếu do nhu cầu tăng mạnh nhập hàng trước Tết của thị trường Trung Quốc. 

Bảng cân đối cung cầu nguyên liệu cá tra tháng 1/2018, tấn

TT

Chỉ tiêu

Tháng 1/2018

Tháng 12/2017

Tháng 1/2017

% thay đổi so với tháng trước

% thay đổi so với cùng kỳ

1

Tồn kho đầu kỳ

173,500

211,780

305,000

-18.08

-43.11

2

Sản lượng cá tra nguyên liệu

90,220

85,000

83,000

6.14

8.70

3

Xuất khẩu cá tra nguyên con đã bỏ đầu, bỏ nội tạng - đã quy đổi ra cá nguyên liệu

6,300

6,500

6,800

-3.08

-7.35

4

Xuất khẩu cá tra fillet - đã quy đổi ra cá nguyên liệu

85,700

106,000

88,500

-19.15

-3.16

5

Xuất khẩu cá tra khác - đã quy đổi ra cá nguyên liệu

2,300

3,800

4,500

-39.48

-48.89

6

Xuất khẩu tiểu ngạch - đã quy đổi ra cá nguyên liệu

2,180

5,480

2,200

-60.22

-0.91

7

Tiêu thụ nội địa

1,500

1500

1,500

0.00

0.00

8

Tồn kho cuối kỳ

165,740

173,500

284,500

-4.47

-41.74

Ghi chú: 8= (1+2)-(3+4+5+6+7); tồn kho đầu kỳ sẽ bằng tồn kho cuối kỳ trước chuyển sang. Bảng cân đối cung cầu được AgroMonitor cập nhật hàng tháng trên website: www.viettraders.com

Một số nhận định về cân đối cung cầu tháng 1/2018

Số liệu trong báo cáo cung cầu được AgroMonitor tính cho cá tra nguyên liệu (cá tra nguyên con, chưa qua chế biến) theo đó các số liệu xuất khẩu (chính ngạch và tiểu ngạch); tồn kho cá tra đều quy đổi về cá tra nguyên liệu. Theo các doanh nghiệp chế biến cá tra, tỷ lệ quy đổi cá tra fillet thành phẩm so với cá tra nguyên liệu là 1.6-1.7 và cá tra nguyên con xẻ bướm (bỏ nội tạng) so với cá tra nguyên liệu là 1-1.1.

  • Tồn kho cuối năm 2017 chuyển sang tháng 1/2018 ở mức rất thấp chỉ ước đạt 173,5 nghìn tấn, tương ứng giảm 18% so với tháng trước và giảm mạnh 43% so với cùng kỳ năm trước.
  • Sản lượng cá tra tháng 1/2018 ước đạt hơn 90 nghìn tấn tăng 6,14% so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu khiến sản lượng cá tra tăng là do nhu cầu “ăn hàng” cá size lớn từ 800-1.150 gr/con của thị trường Trung Quốc. Giá cá size lớn theo đó được giá và “hút hàng” hơn trong tháng 1/2018 khuyến khích các hộ nuôi neo cá lại cỡ lớn hơn để bán thay vì thường bán cá size 600-800 gr/con đi các thị trường quốc tế.
  • Theo số liệu sơ bộ của TCHQ, lượng xuất khẩu trong tháng 1/2018 ước đạt 62,24 nghìn tấn, giảm gần 15% so với tháng trước và tương đương với tháng 1/2017. Lượng xuất khẩu có xu hướng tăng mạnh tại thị trường Trung Quốc – Hông Kông và một số nước trong khu vực Asean như: Thái Lan, Singapore, Philippines. Ngược lại, lượng xuất có xu hướng giảm tại các thị trường lớn như: Mỹ, Mexico, Brazil, Colombia. Lượng xuất giảm do nguồn nguyên liệu thường xuyên trong tình trạng thiếu hụt, giá nguyên liệu theo đó cũng liên tục duy trì ở mức cao, có thời điểm tăng nhẹ trong tháng 1/2018.
  • Trong tháng 1/2018, xuất khẩu chính ngạch ước đạt 94,3 nghìn tấn cá tra thành phẩm (giảm 22% so với tháng trước). Xuất khẩu tiểu ngạch ước đạt khoảng 2,18 nghìn tấn (giảm mạnh 60% so với tháng trước do Chính phủ Trung Quốc siết chặt giao dịch qua biên giới trước Tết).
  • Tiêu thụ nội địa nhìn chung không có nhiều thay đổi so với các tháng trước đó. Chúng tôi ước tính lượng này khoảng 1,5 nghìn tấn/tháng tập trung tiêu thụ tại các chợ đầu mối của các thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Cần Thơ…Nguồn cung chủ yếu là cá nguyên liệu cỡ lớn từ 1,2-1,5 kg/con tại một số huyện của An Giang, Đồng Tháp…
  • Tồn kho cuối tháng 1/2018 ở mức gần 166 nghìn tấn nguyên liệu.

Dưới áp lực tồn kho giảm và nguồn cung nguyên liệu ở mức thấp đã khiến giá cá nguyên liệu bước vào đầu tháng 2 tiếp tục duy trì mức giá cao như thời điểm tăng cuối tháng 1. Ngoài ra, thời điểm nửa đầu tháng 2 đã cận Tết Nguyên Đán nên nhu cầu bắt cá làm hàng của các nhà máy có chiều hướng giảm dần qua đó không tạo thêm áp lực tăng giá lên thị trường. Ra Tết dự kiến áp lực lên thị trường cá nguyên liệu cuối tháng 2, đầu tháng 3 sẽ “hạ nhiệt” khi mà thị trường Trung Quốc còn lượng hàng dự trữ, các thị trường quốc tế thường chưa tăng nhập hàng trong thời điểm thời tiết vẫn chưa nắng nóng.

PHẦN 2: SẢN XUẤT

Theo Bộ NN&PTNT, sản lượng nuôi cá tra của các tỉnh ĐBSCL tháng 1 năm 2018 ước đạt 90,2 ngàn tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích và sản lượng cá tra tại ĐBSCL tháng 1/2018 so với cùng kỳ năm 2017

Tỉnh

Tháng 1 năm 2018

Tháng 1 năm 2017

% thay đổi năm 2018 so với cùng kỳ năm 2017 về

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích, ha

Sản lượng, tấn

Diện tích

Sản lượng

Đồng Tháp

1226

32,200

1,200

31,051

2.17

3.70

An Giang

70

24,500

65

24,209

7.69

1.20

Cần Thơ

358

5,530

312

5,108

14.74

8.26

Bến Tre

80

12,000

75

12,000

6.67

0.00

Vĩnh Long

454

8,829

458

8,794

-0.92

0.40

Tiền Giang

18

1,500

10

3,700

80.00

-59.46

Hậu Giang

19

450

2

170

850.00

164.71

Trà Vinh

18

-

18

-

0.00

-

Sóc Trăng

4

212

4

200

0.00

6.00

Kiên Giang

-

5,000

-

4,800

-

4.17

ĐBSCL

2,247

90,221

2,144

90,032

4.79

0.21

Nguồn: Bộ NN&PTNT

Theo Tổng cục Thủy sản, lũy kế diện tích nuôi cá tra đến ngày 26/1/2018 là 1.695 ha tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2017 (Trong đó, diện tích thả nuôi mới 32 ha, diện tích chuyển nuôi từ năm 2017 sang năm 2018 là 1.520 ha). Sản lượng thu hoạch 58 nghìn tấn giảm 7% so với cùng kỳ năm 2017.

Tiến độ thả nuôi và thu hoạch cá tra tại ĐBSCL năm 2018

 

Diện tích,

ha

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Sản lượng, tấn

% thay đổi so với cùng kỳ 2017

Từ 1/1-26/1/2018

1,695

+5,4

58,056

-7

Nguồn: TCTS

Còn theo Tổng cục Thống kê, sản lượng cá tra tháng 1/2018 ước tính đạt 91,5 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 24,5 nghìn tấn, tăng 1,2%; Đồng Tháp đạt 32,2 nghìn tấn, tăng 3,7%; Cần Thơ đạt 7,2 nghìn tấn, tăng 7%.

AgroMonitor ước tính sản lượng khai thác cá tra tại ĐBSCL trong tháng 1/2018 tăng nhẹ 6,14% so với tháng 12/2017.

Sản lượng thu hoạch cá tra từ tháng 1/2017 – 1/2018 (Tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ Bộ NN, TCTS

Theo dữ liệu tại Hội nghị Thị trường Thủy sản Toàn cầu (GSMC), sản xuất cá tra thế giới dự báo sẽ tăng 20% trong năm 2018 so với năm 2016, chủ yếu do sản xuất tăng tại Việt Nam và Bangladesh. Theo dữ liệu nguồn từ FAO và Global Aquaculture Alliance (GAA), sản lượng cá tra toàn cầu ước đạt 2,498 triệu tấn năm 2016 và 2,771 triệu tấn năm 2017. Trong năm 2018, sản lượng cá tra toàn cầu dự báo tăng lên mức 2,977 triệu tấn, cũng theo dữ liệu FAO và GAA. Về phía Việt Nam, nước sản xuất cá tra lớn nhất thế giới, sản lượng cá tra ước đạt 1,172 triệu tấn trong năm 2016 và 1,237 triệu tấn năm 2017, dự báo tăng lên mức 1,301 triệu tấn năm 2018.

Sản lượng cá tra Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017 và dự báo 2018 (Nghìn tấn)

Nguồn: FAO và GAA.

 

PHẦN 3: GIÁ CÁ TRA NGUYÊN LIỆU TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – GIÁ CÁ TRA XUẤT KHẨU VÀ TRIỂN VỌNG
1. Thị trường cá tra nguyên liệu trong size

Đầu tháng 1/2018, thị trường cá tra nguyên liệu tại các tỉnh khu vực ĐBSCL có 2 xu hướng mới thay đổi so với tháng trước. Một là, các doanh nghiệp lớn tại Đồng Tháp, An Giang đã bắt đầu quay trở lại xu hướng bắt cá trả tiền chậm từ 10 đến 30 ngày thay vì trả tiền ngay như trước. Bên cạnh đó, vẫn có những doanh nghiệp trả tiền ngay thường là các doanh nghiệp xuất khẩu đi thị trường Trung Quốc, do thị trường này có nhu cầu nhập hàng cao dự trữ trước Tết Âm Lịch. Cũng vì xu hướng gia tăng mua hàng cao tại thị trường Trung Quốc đã tác động đến size cá các thương lái và doanh nghiệp muốn thu mua nhiều. Đó là size cá cỡ lớn từ 1-1,5 kg/con. Theo đó, xu hướng mới thứ 2 là cá size lớn “được” giá hơn cá trong size 700-900 gr/con nên các hộ nuôi có xu hướng neo cá lại lên cỡ lớn hoặc muốn đẩy giá cá trong size 700-900 gr/con lên mức cao hơn mặt bằng 28.500-28.700 đ/kg thời điểm cuối tháng 12/2017. Tuy vậy trong nửa đầu tháng 1/2018 các công ty lớn vẫn giữ giá mua vào chỉ như cuối tháng 12/2017 quanh mức 28.500-28.700 đ/kg.

Sau đó, trạng thái ổn định không duy trì được nữa khi giai đoạn nửa cuối tháng 1/2018 nguồn cá bột bị hao hụt rất lớn do thời tiết lạnh, kéo theo đó giảm mạnh nguồn cung giống và khiến giá giống tăng cao liên tục có thời điểm đạt đỉnh 75.000-80.000 đ/kg với mẫu 2 phân. Qua đó, dự kiến nguồn cá thịt thời điểm 6-8 tháng tới sẽ rất khan hiếm nếu ra Tết các hộ nuôi không đủ khả năng cung cấp bù lượng cá bột đã hao hụt này. Cùng với đó, nhu cầu từ thị trường Trung Quốc càng về dịp gần Tết càng tăng mạnh, cộng với nhu cầu có xu hướng tăng của một số thị trường châu Á như: Thái Lan, Ấn Độ…đã khiến nguồn cung cá nguyên liệu chỉ còn đáp ứng được từ 30-40% nhu cầu đặt hàng. Qua đó, các nhà máy tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ… đã liên tục tăng giá mua vào và đến cuối tháng 1/2018 đã đạt mức đỉnh mới cao hơn tất cả các mức giá đã từng có trong năm 2017. Cụ thể, với cá trong size 700-800 gr/con giá dao động quanh mức 29.200 đ/kg (tiền mặt). Cá size từ 1kg/con trở lên giá từ 29.300-29.500 đ/kg (tiền mặt). Mức giá này cao hơn từ 500-700 đ/kg so với tháng trước và cao hơn từ 7.000-8.000 đ/kg so với cùng kỳ năm trước.

Sau 2 tuần liên tục tăng giá do lực đẩy từ thị trường Trung Quốc là chính thì đến nửa đầu tháng 2/2018 thị trường cá tra nguyên liệu cũng “hạ nhiệt” do đã sát Tết Nguyên Đán Nhâm Tuất nên cầu từ thị trường Trung Quốc giảm sút, các công ty cũng giảm lượng mua chỉ tập trung giao nốt các đơn hàng trước khi nghỉ Tết. Mặt bằng giá chung hầu như vẫn được giữ nguyên như cuối tháng 1/2018 xoay quanh mức 29.200 đ/kg (tiền mặt).

Có tin đồn đoán cho rằng, có công ty tại Cần Thơ chào mua cá nguyên liệu size dưới 1 kg/con và trên 1 kg/con tương ứng mức 29.500 đ/kg (tiền mặt) và 30.000 đ/kg (tiền mặt) dự kiến bắt sau Tết. Nếu điều này xảy ra, thị trường cá nguyên liệu sẽ đạt mốc kỷ lục chưa từng có từ trước đến nay. Tuy nhiên, với mức giá tăng cao liên tục các doanh nghiệp xuất khẩu đã ký những đơn hàng kỳ hạn giao xa sẽ gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất sẽ là lực cản đà tăng của thị trường. Ngoài ra, thị trường cá thịt còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố chủ chốt như các rào cản thị trường (Mỹ[1], EU), tính ổn định thị trường (Trung Quốc), những rủi ro tiềm ẩn (Saudi Arabia[2]), thị trường cá bột, cá giống…Do đó, diễn biến thị trường cá nguyên liệu ra Tết có thể biến động đa chiều với biên độ khó đoán định.

Tương quan giá cá nguyên liệu, giá cá giống và diện tích thả nuôi cá tra tại ĐBSCL trong tháng 1/2018: Diện tích nuôi cuối năm 2017 chuyển sang 2018 ở mức thấp hơn so với cùng kỳ năm trước do nguồn giống cuối năm 2017 quá khan hiếm

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu size 700-900 gr/con tại ĐBSCL tháng 1/2016-2/2018, (Đồng/kg): Giá cá nguyên liệu trong tháng 1/2018 tiếp tục tăng nhẹ so với 2 tháng cuối năm 2017

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Thị trường cá vượt size

Trong tháng 1/2018, cá nguyên liệu vượt size trên 1kg/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ…hút hàng do nhu cầu cao từ thị trường Trung Quốc, nhưng lượng cá ít nên giá được công ty và thương lái chào cao phổ biến quanh mức 29.300-29.500 đ/kg (tiền mặt). Ngoài ra, thương lái bắt cá chợ cỡ 1,2-1,3 đ/kg tại An Giang với giá 30.000-30.500 đ/kg, lượng bắt khoảng 50-60 tấn/ngày.

Diễn biến giá cá tra nguyên liệu cỡ trên 1kg/con tại ĐBSCL từ 1/2016-2/2018, (Đồng/kg): Cá size lớn vẫn giữ giá cao

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Thị trường cá tra giống

Tháng 1/2018, thị trường cá giống, cá bột đều bị hao hụt nặng nề khiến nguồn cung ra thị trường vô cùng khan hiếm đẩy giá cá bột và cá giống tăng cao kỷ lục. Cụ thể, thời điểm cao nhất cá bột có giá 6-7 đ/con trong khi thông thường giá bột chỉ 2-3 đ/con. Cá giống cũng liên tục tăng mạnh và đến đỉnh điểm dao động từ 75.000-80.000 đ/kg mẫu giống 2 phân. Mức giá này cao hơn 15.000-20.000 đ/kg so với tháng trước và cao hơn 40.000 đ/kg so với cùng kỳ năm 2017. Nguồn giống ít, giá cao, thời tiết lạnh thả sẽ hao hụt lớn đã khiến diện tích thả nuôi mới trong tháng 1/2018 khá thấp.

Đến đầu tháng 2/2018, thị trường cá giống có xu hướng giảm giá do các công ty đã tạm ngưng mua giống thả mới, một số cò đã lợi dụng tâm lý muốn bán gấp trước Tết của một số hộ nuôi nên ép giá xuống. Theo đó, tại An Giang, Cần Thơ mẫu giống 2 phân giảm khoảng 10.000-15.000 đ/kg so với cuối tháng 1/2018 xuống mức 59.000-60.000 đ/kg, tại Đồng Tháp cũng giảm từ 5.000-10.000 đ/kg xuống mức từ 60.000-70.000 đ/kg. Tuy vậy nguồn cung giống ra thị trường cũng không nhiều.

Cùng với đó, giá cá bột tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ hầu như đều giảm xuống mức khoảng 3 đ/con và có xu hướng giảm tiếp. Thời tiết tại Tây Nam Bộ thời điểm này ấm dần lên do đó nguồn cung bột có chiều hướng gia tăng.

Diễn biến giá cá giống loại 30 con/kg tại ĐBSCL từ 1/2016-2/2018, (Đồng/kg): Giá cá giống biến động với biên độ rất lớn trong tháng 1 và nửa đầu tháng 2/2018

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

4. Giá cá tra xuất khẩu
4.1 Giá cá tra xuất khẩu tham chiếu

Với xu hướng giá thu mua cá trong size trong tháng 1/2018 có xu hướng tăng nhẹ so với tháng 12/2017, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra tham chiếu bình quân tháng 1/2018 ở mức từ 2.843 USD/tấn.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi các thị trường EU, Bắc Mỹ…, USD/tấn FOB

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.6-1.7 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Đối với cá xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường biên, Agromonitor ước tính giá xuất khẩu cá tra nguyên con xẻ bướm đông lạnh (cá size 600-900 gr/con) ở mức 1.642 USD/tấn DAP/DAF.

Giá xuất khẩu cá tra tham chiếu đi Trung Quốc, USD/tấn DAP/DAF

* Giá xuất khẩu tham chiếu tính toán dựa trên quá trình chế biến cá tra fillet thành phẩm (2.8-2.9 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet chưa mạ băng, chưa tăng độ ẩm; 1.6-1.7 kg cá nguyên liệu tươi cho 1kg cá fillet đã mạ băng, tăng độ ẩm) cộng với các chi phí vận chuyển, chi phí chế biến và các chi phí khác và lợi nhuận tối thiểu của doanh nghiệp.

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá xuất khẩu cá tra bình quân theo chủng loại vào một số thị trường

4.2. Giá cá tra xuất khẩu theo số liệu hải quan

Lượng và đơn giá cá tra fillet đông lạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp vào một số thị trường tháng 1/2018 so với tháng 12/2018

Thị trường

DNXK

 

Tháng 1/2018

Tháng 12/2017

% thay đổi về giá

ĐKGH

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

Lượng, tấn

Đơn giá, USD/tấn

China

CT CP Gò Đàng

DAF

1,038

2,015

1,432

2,025

-0.53

   

CFR

152

2,144

102

1,938

10.64

   

FOB

75

1,583

-

-

-

 

CT CP Vĩnh Hoàn

CFR

706

2,808

542

2,903

-3.29

   

CIF

361

2,499

124

2,454

1.82

   

FOB

177

1,994

139

1,553

28.40

 

CT TNHH Đại Thành

CFR

1,139

2,349

174

2,500

-6.05

   

CIF

64

3,952

44

3,098

27.54

   

EXW

4

2,400

11

2,400

0.00

   

DAF

-

-

52

3,423

-

 

CT CP TS Trường Giang

CIF

386

3,235

473

3,074

5.22

   

DAF

378

2,376

281

2,597

-8.49

   

CFR

187

2,383

177

2,975

-19.88

   

FOB

92

2,678

43

2,518

6.38

   

EXW

69

2,249

214

2,837

-20.72

 

CT CP XNK TS Cửu Long

CFR

343

1,849

302

2,620

-29.44

   

CIF

196

2,167

25

2,020

7.28

   

EXW

151

2,711

120

2,575

5.28

   

C&F

-

-

73

2,863

-

   

DAF

-

-

11

3,042

-

USA

CT CP Vĩnh Hoàn

FOB

2,718

3,931

3,071

3,699

6.28

   

C&F

30

3,050

-

-

-

 

CT TNHH TS Biển Đông

CFR

2,408

3,863

2,118

3,807

1.48

 

CT CP Hùng Vương

FOB

770

3,534

588

3,548

-0.42

 

CT TNHH MTV CB TP XK Vạn Đức Tiền Giang

FOB

542

3,803

195

3,644

4.35

 

CT TNHH TS Đông Phương

C&F

347

2,775

208

2,733

1.55

Brazil

CT TNHH CN TS Miền Nam

CFR

468

2,379

362

2,631

-9.57

   

FOB

325

2,726

153

2,477

10.05

 

CT CP Nam Việt

CFR

611

2,849

636

2,639

7.97

   

CIF

156

2,788

93

3,120

-10.65

   

FOB

-

-

541

2,592

-

 

CT CP PT Hùng Cá 2

FOB

436

2,985

697

2,834

5.32

   

CIF

265

3,345

185

2,632

27.07

   

CFR

48

3,245

187

2,984

8.76

 

CT TNHH MTV CB TS Hoàng Long

FOB

377

2,085

517

2,104

-0.89

   

CIF

52

2,850

52

3,000

-5.00

   

CFR

50

3,210

267

3,000

7.02

 

CT CP TS Hải Hương

CFR

240

3,069

98

3,075

-0.20

   

FOB

78

3,050

-

-

-

Mexico

CT TNHH Đại Thành

FOB

786

1,967

365

2,086

-5.71

 

CT CP CB & XNK TS Cadovimex Ii

FOB

412

1,741

288

1,696

2.65

 

CT CP Nam Việt

CFR

275

1,790

700

2,302

-22.23

   

FOB

96

1,684

478

1,616

4.21

   

CIF

25

2,900

-

-

-

 

CT TNHH MTV CB TS Hoàng Long

FOB

175

1,625

275

1,598

1.71

   

C&F

100

2,218

107

2,412

-8.07

 

CT CP XNK TS Cửu Long An Giang

FOB

221

2,254

-

-

-

Thailand

CT CP Nam Việt

CIF

1,131

2,150

528

1,985

8.30

   

CFR

49

1,685

24

1,835

-8.17

 

CT CP Châu âu

FOB

216

1,761

-

-

-

   

CFR

23

1,370

46

1,400

-2.14

 

CT TNHH DV TP INDOGUNA VINA

CFR

230

2,104

231

2,077

1.28

 

CT TNHH Hùng Cá

CFR

199

1,371

35

2,460

-44.26

   

CIF

24

1,530

-

-

-

   

C&F

-

-

20

3,204

-

 

CT CP TS Anh Vũ Avfish

CFR

169

1,699

149

1,583

7.28

Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu TCHQ

PHẦN 4: XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA VIỆT NAM
1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam tháng 1/2018

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, xuất khẩu cá tra tháng 1/2018 đạt 62,24 nghìn tấn, kim ngạch đạt 148 triệu USD, tăng nhẹ 0,28% về lượng nhưng tăng mạnh 23,3% về kim ngạch so với cùng kỳ 2017.

Trong đó, lượng xuất khẩu có xu hướng tăng mạnh tại thị trường Trung Quốc – Hông Kông và một số nước trong khu vực Asean như: Thái Lan, Singapore, Philippines. Ngược lại, lượng xuất có xu hướng giảm tại các thị trường lớn như: Mỹ, Mexico, Brazil, Colombia. Tổng lượng xuất trong tháng 1/2018 tương đương tháng 1/2017 nhưng giảm đến 15% so với tháng 1/2016. Đáng chú ý, tháng 1/2017 trùng với dịp Tết Âm Lịch nên lượng xuất thường thấp hơn các tháng còn lại, tuy nhiên tháng 2/2018 mới là dịp Tết Âm Lịch nên lượng xuất trong tháng 1/2018 được xem là ở mức thấp phản ánh tình trạng khan hiếm nguyên liệu trong đầu năm nay.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 1/2017-1/2018 (sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

2. Xuất khẩu cá tra theo thị trường

Top 20 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất tháng 1/2018 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Thị trường

Lượng, tấn

Trị giá, USD

China

12,252

27,523,591

USA

7,497

27,307,374

Thailand

3,716

7,655,551

Mexico

3,699

7,299,202

Brazil

3,556

10,066,025

Colombia

2,508

4,270,095

Saudi Arabia

2,360

4,562,329

Singapore

2,161

5,235,251

HongKong

2,043

5,236,583

Philippines

1,798

2,954,942

Netherlands

1,648

4,160,488

India

1,372

2,148,406

UAE

1,368

2,519,959

Malaysia

1,354

2,397,025

Canada

1,251

3,540,434

UK

1,196

3,446,531

Australia

1,177

3,463,168

Russian Federation

948

1,741,980

Spain

780

1,569,435

Taiwan

680

1,341,944

Khác

8,876

19,573,553

Tổng

62,240

148,013,867

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

Xuất khẩu cá tra vào khu vực Bắc Mỹ, EU, Nam Mỹ, Trung Đông, Asean tháng 1/2018 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Khu vực

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Bắc Mỹ

12,448

38,147,010

Asean

9,113

18,354,356

EU

7,187

17,372,247

Nam Mỹ

6,600

15,436,724

Trung Đông

5,099

10,029,036

Khác

21,864

42,948,311

Tổng

62,240

148,013,867

 Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

PHẦN 5: THỊ TRƯỜNG CÁ CÓ VẢY
1. Giá cá rô phi, điêu hồng tại khu vực ĐBSCL
1.1. Cá điêu hồng

Trong tháng 1/2018, giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…giảm 0,1% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 33.000-34.000 đ/kg.(giá tại bè). Giá cá diêu hồng trong cuối tháng 1/2018 giảm do có nguồn cá biển về nhiều khiến thị trường nội địa bị dư cung.

Giá cá điêu hồng size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang và Đồng Tháp từ tháng 2/2017-2/2018, (Đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

1.2. Cá rô phi

Trong tháng 1/2018, giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang… tăng nhẹ 2,67% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 31.000-33.000 đ/kg. (giá tại bè). Cá rô phi không bị giảm giá như cá diêu hồng do tình hình xuất khẩu tháng 1/2018 thuận lợi. Ngoài ra, trước đó, giá cá rô phi cũng đã ở mức khá thấp nên các hộ đã chuyển sang nuôi đối tượng khác khiến nguồn cung tháng 1/2018 không có nhiều.

Giá cá rô phi size 700-800 gr/con tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang từ tháng 1/2016-2/2018, (Đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp.

1.3. Cá lóc

Trong tháng 1/2018, giá cá lóc size 700-800 gr/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…giảm 5% so với tháng 12/2017 dao động trong khoảng 33.000-37.000 đ/kg (giá tại ao).

Diễn biến giá cá lóc cỡ 700-800 gr/con tại ĐBSCL, đồng/kg

Ngày/Khu vực

Cần Thơ

An Giang

Trà Vinh

Đồng Tháp

Ngày 07-09/02

37.000

33.000-34.000

32.000

35.000-36.000

Ngày 01-06/02

37.000

33.000-34.000

32.000

36.000-37.000

Ngày 29-31/01

37.000

33.000-34.000

32.000

36.000-37.000

Ngày 24-26/01

39.000

33.000-34.000

32.000

36.000-37.000

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

2. Giá cá rô phi Trung Quốc

Diễn biến giá cá rô phi cỡ 1-1,6 kg/con tại Trung Quốc

 

Quảng Đông. Phật Sơn

Quảng Đông. Mậu Danh

Quảng Đông. Trạm Giang

Vân Nam. Tây song Bản Lạp

Quảng tây

Hải Nam

04/02

9.4

9

8.8

10

10.6

8.8

21/01

8.6

8.8

8.5

10-10.5

-

8.2

14/01

8.6

8.8

8.3

10

7.8

8

07/01

8

8.6

8.3

10

7.8

8

18/12

8

8.6

8.2

10

7.6

8

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Diễn biến giá cá rô phi cỡ 0,6-1 kg/con tại Trung Quốc

 

Quảng Đông. Giang Môn

Quảng Đông. Dương Giang

Quảng Đông. Mậu Danh

04/02

-

-

7

21/01

6.4

6.2

6.8

14/01

5.8

6.2

6.8

07/01

5.8

6

6.6

18/12

5.8

6

6.6

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

3. Xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam
3.1. Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng của Việt Nam

Theo số liệu sơ bộ TCHQ, trong tháng 1/2018, Việt Nam xuất khẩu 1,27 nghìn tấn cá rô phi, cá điêu hồng, kim ngạch đạt 2,15 triệu USD, tăng 82,37% về lượng và 41,86% về kim ngạch so với cùng kỳ 2017.

Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng Việt Nam từ tháng 1/2017-1/2018 (Sơ bộ)

Nguồn: TCHQ. (*) Sơ bộ

3.2. Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất

Top 10 thị trường xuất khẩu cá rô phi, điêu hồng lớn nhất tháng 1/2018 theo lượng và kim ngạch (sơ bộ)

Thị trường

Lượng XK, tấn

Kim ngạch XK, USD

Mexico

150

203,904

Saudi Arabia

135

160,985

Singapore

120

106,147

Italy

110

212,252

USA

95

227,525

Netherlands

87

132,380

South Africa

78

62,937

HongKong

73

146,530

Korea (Republic)

65

177,253

China

58

94,702

Khác

302

625,678

Tổng

1,271

2,150,293

Nguồn: Số liệu sơ bộ TCHQ

 

PHẦN 6: THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN QUAN TRỌNG TRONG THÁNG 1/2018

12/01: Ngày 12/01/2018, Việt Nam đã khiếu nại lên WTO về việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam.

12/01: Công ty Thủy sản Hùng Vương (HVG) vừa có thông báo thoái vốn tại công ty thức ăn chăn nuôi Việt Thắng (VTF). Cụ thể theo Nghị quyết của Hội đồng quản trị thì tỷ lệ thoái vốn của HVG là trên 50%, từ mức đang sở hữu là hơn 90% ở VTF hiện tại, với giao dịch dự kiến hoàn tất trước ngày 15/2/2018 tức trước Tết Nguyên Đán.

16/01: CTCP Thủy sản Hùng Vương vừa công bố BCTC hợp nhất kiểm toán cho năm tài chính 2016-2017 kết thúc vào ngày 30/9/2017 với khoản lỗ hơn 705 tỷ đồng trong khi đó BCTC công ty tự lập ghi lỗ gần 63 tỷ đồng. Như vậy Thủy sản Hùng Vương đã ghi lỗ thêm 642 tỷ đồng sau kiểm toán. Tính đến 30/9/2017 tổng nợ phải trả 11.378 tỷ đồng, trong đó nợ ngắn hạn 10.678 tỷ đồng vượt quá tài sản ngắn hạn (9.868 tỷ đồng).

16/01: Lô hàng thủy sản được Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường, đại diện VASEP và cảng Cát Lái – Tân Cảng Sài Gòn nhấn nút xuất khẩu gồm 20 tấn tôm đông lạnh, 20 tấn cá biển và 22 tấn cá tra phi lê có tổng giá trị gần 600.000 USD, được xuất sang Canada, Mỹ và Anh. Đây cũng là những thị trường lớn truyền thống của thuỷ sản Việt Nam.

17/01: CTCP Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish - HOSE: AGF) công bố BCTC hợp nhất kiểm toán niên độ 2016-2017 kết thúc vào ngày 30/9/2017 với khoản lỗ ròng 187 tỷ đồng, chênh lệch đến 191 tỷ đồng so với con số lãi 4 tỷ đồng trong BCTC công ty tự lập.

22/01: Sở giao dịch Chứng khoán TPHCM (HoSE) công bố đưa cổ phiếu HVG của CTCP Hùng Vương vào diện kiểm soát kể từ ngày 26/01/2018.

22/01: Trong BCTC công bố ngày 19/01/2018, trong niên độ tài chính 2016-2017, CTCP Nam Việt (ANV) lãi 132 tỷ đồng sau thuế, tăng 880% so với cùng kỳ.

26/01: Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 11/2015 sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho biết ông ủng hộ một đồng USD yếu.

29/01: Doanh thu năm 2017 của CTCP Thức ăn chăn nuôi Việt Thắng giảm 24% so với năm trước đó. Giá vốn, chi phí các loại đều tăng cao nên cả năm Việt Thắng lỗ 37,44 tỷ đồng trong khi năm 2016 lãi 118 tỷ đồng.

 

 

PHẦN 7: PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Hoạt động “buôn lậu” đẩy mức tăng trưởng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam tăng mạnh.

Theo số liệu công bố mới nhất của Undercurrent News, hoạt động buôn lậu là một trong những nguyên nhân đứng đằng sau mức tăng trưởng nhập khẩu thủy sản “tăng mạnh” của Việt Nam: từ 25 triệu USD trong năm 2001 lên hơn 5 tỷ USD năm 2016: một mức tăng trưởng kép chưa từng có tiền lệ, lên tới 40%/năm. Thương mại xám qua kênh này rất nổi tiếng trong ngành thủy sản toàn cầu, ám chỉ phần lớn thủy sản được bốc dỡ tại Hải Phòng rồi chuyên chở tới biên giới với Trung Quốc để tránh thuế hải quan Trung Quốc.

“Tất cả lượng nhập khẩu (tôm) thông qua Hải Phòng đều dẫn tới thị trường Trung Quốc”, một nguồn tin ngành thủy sản từ Thái Lan cho biết, dẫn chiếu tới mặt hàng tôm – mặt hàng thủy sản nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam. “Phần lớn nhập khẩu qua các cảng khác sẽ xuất đi các thị trường khác, nhưng rất ít lượng thủy sản qua cảng Hải Phòng mà đi thị trường khác ngoài Trung Quốc”.

Nhập khẩu tăng do nhu cầu tại thị trường Trung Quốc tăng mạnh. Cùng với đó, mức thuế nhập khẩu hiện nay của Trung Quốc và thuế VAT đều ở mức cao đã tác động thêm vào nhân tố nhập khẩu qua đường buôn lậu. Theo hãng tư vấn Dezan Shira & Associates mức thuế nhập khẩu hiện nay của Trung Quốc đối với thủy sản nhập khẩu từ những nước được hưởng MFN dao động từ 2 – 17,5%. Vị thế MFN áp dụng cho các thành viên của WTO. Không có vị thế MFN, mức thuế mà Trung Quốc áp cho các sản phẩm thủy sản lên đến 40 – 70%. Trong khi đó, các nước có thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc – các nước ASEAN, New Zealand, Úc, Chile, Iceland, Switzerland, Maldives, Peru, Pakistan, Georgia, Costa Rica và Singapore – được hưởng mức thuế 0% (hoặc đang trong lộ trình tiến về 0%).

Đối với cá tra: ngày 12/12/2017, Ủy ban thuế của chính phủ Trung Quốc (SCDC) đã công bố Kế hoạch điều chỉnh thuế năm 2018 của Trung Quốc, trong đó thuế nhập khẩu đối với các loại cá tra đông lạnh (Mã HS: 03061612) như sau:

Mã HS

Mô tả hàng hóa

Thuế MFN (%)

Thuế áp dụng 2018 (%)

03061612

Các loại cá tra đông lạnh

5

2

Ngoài thuế nhập khẩu, các nhà nhập khẩu phải trả thuế giá trị gia tăng (VAT) 11%. Mức thuế này – vốn đặc biệt áp dụng cho các sản phẩm nông sản dưới mức chuẩn 17% – là mức thuế đã giảm từ 13% từ tháng 7/2017, và được tính trên giá trị ròng của hàng hóa sau khi đã bao tồm thuế nhập khẩu. Ngoài hai loại thuế này, các mức phí áp dụng đối với các sản phẩm tại biên giới Trung Quốc dao động từ 11 – 81%, phụ thuộc vào loại sản phẩm và xuất xứ. VAT phải được thanh toán trong khi giao dịch tại Trung Quốc, qua đó các công ty có thể đòi hoàn thuế dọc theo chuỗi cung ứng nếu nhà cung cấp có thể cung cấp một chứng từ thuế (fapiao). Recardo Benussi, phó giám đốc khu vực của Dezan Shira, cho biết việc “không thanh toán VAT chắc chắn rất rủi ro do các nhà chức trách thuế luôn để ý để đảm bảo thuế được thu và thu đủ”.

Tuy nhiên, theo trang Export.gov, một tổ chức thương mại của Mỹ hỗ trợ các nhà xuất khẩu, nhiều công ty nội địa Trung Quốc không thanh toán thuế VAT. Các chi phí ẩn khác đè nặng lên các nhà nhập khẩu chính thống bao gồm chi phí thanh toán một lần cho phê duyệt CIQ để nhập khẩu hàng hóa vào Trung Quốc, yêu cầu đối với cả hai bên nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Một chủ sở hữu công ty thủy sản tại Trung Quốc giải thích: “Hiện tại, gần như không thể cạnh tranh (với những người buôn lậu) nếu nhập khẩu đàng hoàng, không chỉ vì bạn phải trả thuế VAT và nhập khẩu lên đến 30%, mà còn vì chẳng công ty nào thanh toán thuế, từ nhà nhập khẩu cho tới người tiêu dùng cuối cùng”.

Những người buôn lậu cũng sử dụng “thị trường xám” để đưa những hàng hóa họ không thể tiêu thụ ở đâu khác vào Trung Quốc. Năm 2016, các nhà chức trách Trung Quốc đã bắt giữ các lô hàng thủy sản có nguồn gốc từ các vùng nước gần Fukushima, được buôn lậu vào Trung Quốc thông qua Việt Nam.

Cá tra là mặt hàng được đánh giá là có mức nhập khẩu đứng thứ 3 (ước trị giá 300 triệu USD năm 2017).  Số liệu ghi nhận tại Trung Quốc cho thấy cá tra đang là lựa chọn ưa thích của ngành dịch vụ ẩm thực khổng lồ của Trung Quốc, vượt qua cả cá rô phi bản địa. “Không nghi ngờ gì cả, giá cá tra hiện đang thấp nhất thị trường (Trung Quốc). Giá thấp là lý do lớn nhất để ngành kinh doanh ẩm thực sử dụng cá tra”, theo Cui He, chủ tịch Liên minh Marketing và Chế biến Thủy sản Trung Quốc, cho hay. “Giá các loại cá tại Trung Quốc, như cá rô phi, hiện đang ở mức tương đối cao”.

Ông Cui và các nguồn tin nội ngành khác cho biết phần lớn cá tra được nhập lâu: theo báo cáo từ các đợt triệt phá buôn lậu gần đây nhất, trong số các trường hợp, có một trường hợp xảy ra đối với một trong những công ty nhập khẩu cá tra lớn nhất Trung Quốc, được cho là đã buôn lậu 41.000 tấn các sản phẩm cá tra, trị giá 98,6 triệu USD. Các sản phẩm cá tra này sau đó đã được các nhà chức trách địa phương đấu giá.

Phụ lục 02: Xuất khẩu, nhập khẩu cá đông lạnh của Trung Quốc trong năm 2017.

Trong năm 2017, xuất khẩu cá tươi và đông lạnh của Trung Quốc đạt 2,16 tiệu tấn; nhập khẩu cá đông lạnh của nước này đạt 2,14 triệu tấn.

Xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc trong tháng 12/2017, (tấn, 1000 USD)

 

T12/2017

2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Live fish

9,357

49,739

81,333

488,470

Frozen fish or fish fillet

210,000

688,750

2,080,000

6,721,936

Fresh or frozen prawns

1,869

20,605

16,441

183,636

Frozen shelled shrimps

7,181

86,376

67,419

778,039

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Nhập khẩu một số mặt hàng của Trung Quốc trong tháng 12/2017, (nghìn tấn; 1000 USD)

 

T12/2017

2017

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Frozen fish

180

345,224

2,140

3,716,470

Fish flour for animal feeding

50

68,380

1,570

2,216,647

Nguồn: TCHQ Trung Quốc

Phụ lục 03: Nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ trong năm 2017

Theo NOAA, trong năm 2017, lượng và giá trị nhập khẩu cá da trơn của thị trường Mỹ giảm 18,86% và 5,83% so với năm 2016. Trong đó, thị trường Việt Nam giảm 20% về lượng và 6,68% về giá trị.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá da trơn của Mỹ trong năm 2017 so với năm 2016

Thị trường

Năm 2017

Năm 2016

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

Vietnam

105,100

343,019,890

131,414

367,585,069

-20.02

-6.68

China

5,822

38,354,540

5,302

37,482,971

9.81

2.33

Burma

29

194,964

15

110,953

99.73

75.72

Indonesia

13

115,148

-

-

-

-

Bangladesh

10

72,188

1

3,736

587.71

1832.23

India

10

64,482

-

-

-

-

Guyana

10

70,622

21

155,394

-53.40

-54.55

Thailand

8

38,404

53

213,724

-84.46

-82.03

Brazil

5

21,067

1

4,432

800.00

375.34

Spain

   

1

12,120

-

-

Panama

   

1

2,298

-

-

Iceland

   

1

5,598

-

-

Tổng

111,008

381,951,305

136,809

405,576,295

-18.86

-5.83

 Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu của NOAA.

Phụ lục 04: Nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ trong năm 2017

Theo NOAA, trong năm 2017, lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của thị trường Mỹ giảm lần lượt 7,33% và 10,65% so với năm 2016. Trong đó, các thị trường giảm khá mạnh về lượng là: Trung Quốc (-9,48%), Honduras (-10,74%), Indonesia (-8,95%),…Ngược lại lượng nhập khẩu cá rô phi từ thị trường Việt Nam tăng mạnh 37,9%, tuy nhiên giá trị tăng không tương xứng chỉ đạt mức tăng 13,37% so với năm 2016.

Lượng và kim ngạch nhập khẩu cá rô phi của Mỹ trong năm 2017 so với năm 2016

Thị trường

Năm 2017

Năm 2016

% thay đổi vể

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng, tấn

Trị giá, USD

Lượng

Trị giá

China

133,808

426,620,234

147,824

485,582,572

-9.48

-12.14

Taiwan

12,296

27,607,689

9,931

24,682,381

23.81

11.85

Honduras

8,208

46,256,259

9,196

55,075,538

-10.74

-16.01

Indonesia

7,044

47,464,766

7,736

52,777,149

-8.95

-10.07

Colombia

6,295

48,140,158

5,458

42,944,308

15.33

12.10

Costa Rica

4,959

30,947,504

5,053

32,372,247

-1.87

-4.40

Mexico

2,953

19,438,400

3,309

20,666,899

-10.75

-5.94

Vietnam

2,138

4,496,084

1,550

3,965,851

37.90

13.37

Ecuador

1,311

7,139,082

2,115

11,743,923

-38.02

-39.21

Thailand

1,100

3,309,276

1,730

7,034,995

-36.43

-52.96

Khác

2,642

12,957,408

3,308

17,942,541

-20.13

-27.78

Tổng

182,752

674,376,860

197,211

754,788,404

-7.33

-10.65

 Nguồn: AgroMonitor tính toán dựa trên số liệu của NOAA.

Phụ lục 05: Bảng giá cám cá tra và cá có vảy: Giá cám cá trong tháng 2 tăng trung bình 200 đ/kg

Bảng giá thức ăn cá da trơn (tra, basa) loại 26% đạm (đồng/kg) (thanh toán ngay)

Tháng/DN

Việt Thắng

Cỏ May

Proconco

US FEED

Hoàng Long

Vina

Greenfeed

2/2018

9.650

9.600-9.650

9.200

9.000

9.200

9.400-9.500

9.600

1/2018

9.650

9.600-9.650

9.200

9.000

9.200

9.400-9.500

9.300

12/2017

9.650

9.400

9.200

9.000

9.200

9.500

9.300

11/2017

9.200

8.900

9.200

9.000

9.200

9.500

9.300

10/2017

9.600

9.200-9.400

9.500

8.800

9.200

9.200-9.400

-

9/2017

9.600

9.000 (26%)

9.600-9.700 (28%)

9.500

9.300-9.400

9.000

-

-

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Bảng giá thức ăn cá có vảy loại 30% và 40% đạm (đồng/kg)

Độ đạm

Tháng/DN

Cargill/

Ewos

Proconco

Tongwei

US FEED

Thăng Long

CP

Greenfeed

30%

2/2018

11.600-11.900

11.600-11.900

11.600-11.900

11.600-11.900

11.600-11.900

11.600-11.900

11.600-11.900

1/2018

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

12/2017

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11/2017

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

11.400-11.700

10/2017

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

9/2017

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

12.000

40%

2/2018

16.700-17.700

16.700-17.700

16.700-17.700

16.700-17.700

16.700-17.700

16.700-17.700

16.700-17.700

1/2018

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

12/2017

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

11/2017

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

16.500-17.500

10/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

9/2017

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

18.000

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

 

[1] Ngày 12/01/2018, Việt Nam đã khiếu nại lên WTO về việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể, Việt Nam cho rằng Washington đã vi phạm quy tắc của WTO trong cách áp dụng các mức thuế suất với cá tra fillet nhập khẩu từ Việt Nam. Theo đó, Hoa Kỳ có 60 ngày để dàn xếp khiếu nại hoặc Việt Nam có thể yêu cầu WTO phán xử.

[2] Theo Tổ chức Thú y Thế giới (OIE), bệnh đốm trắng (WSD) và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi (AHPND) được ghi nhận tại Việt Nam. Và mới đây, ngày 31/01/2018, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Saudi Arabia (SFDA) đã ra thông báo ban hành lệnh tạm dừng nhập khẩu đối với mặt hàng thủy sản, động vật giáp xác và các sản phẩm từ thủy sản xuất khẩu từ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 23/1/2018. Hiện nay chưa có dấu hiệu xuất khẩu cá tra bị ảnh hưởng nhưng đây vẫn xem như tiềm ẩn rủi ro cho xuất khẩu cá tra vào thị trường Saudi Arabia.