Cà phê 9/2018 – Giá cà phê Robusta nội địa đầu tháng 10 tăng sốc liên tiếp

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cà phê 9/2018 – Giá cà phê Robusta nội địa đầu tháng 10 tăng sốc liên tiếp

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 9/2018

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

- Theo báo cáo tháng 9 của ICO, tổng sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017/18 ước tính đạt 164,8 triệu bao (tăng thêm 5,7% so với báo cáo kỳ trước ước tính) và nhiều hơn tương đối so với con số do USDA ước tính cho niên vụ này là 159,8 triệu bao.

- Theo báo cáo mới nhất được công bố của ICO, tiêu thụ cà phê thế giới được ước tính tăng hơn 1,8% trong năm cà phê 2017/18 với 162,23 triệu bao. Còn theo USDA dự báo tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2017/18 đạt 158,7 triệu bao, tăng 1,02% so với niên vụ trước

- Tổng xuất khẩu cà phê thế giới trong tháng 8/2018 tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước lên 11,1 triệu bao. Trong đó xuất khẩu Arabica tăng 6,7% lên 6,95 triệu bao, và Robusta tăng 5,7% lên 4,16 triệu bao

- Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ thì lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 8/201 xu hướng GIẢM MẠNH 173 ngàn bao xuống chỉ còn 6,66 triệu bao.

- Giá cà phê Arabica và Robusta quốc tế có chung diễn biến CHỮNG GIÁ trong 2/3 tháng 9 rồi sau đó BẬT TĂNG mạnh mẽ liên tiếp vào tuần cuối tháng 9 và 2 tuần đầu tháng 10.

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

- Một số nguồn tin nhận định: Sản lượng cà phê niên vụ 2018/19 (sắp tới) của Việt Nam có thể sụt giảm do mưa kéo dài

- Mức giá cà phê Robusta nội địa và cụ thể là tại Đắk Lắk đầu tháng 10 TĂNG SỐC liên tiếp do tồn kho gần như không còn dẫn tới thiếu hụt nguồn cung

- Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam: Luỹ kế từ đầu năm 2018 đến nay xuất khẩu đạt 1,45 triệu tấn và kim ngạch đạt 2,75 tỷ USD (tăng 18,8% về lượng nhưng lại giảm 0,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước)

Top các doanh nghiệp xuất khẩu (3 tháng 6-7-8/2018 so với 3 tháng trước đó)

+ Tăng trưởng mạnh nhất về lượng: Nestlé Việt Nam, VOLCAFE Việt Nam, Louis Dreyfus Việt Nam, Minh Huy và Dakman Việt Nam.

+ Sụt giảm mạnh nhất về lượng: Sunwah Việt Nam, DN Chế biến - XK cà phê, Hoa Trang - Gia Lai, COFCO Việt Nam và Vĩnh Hiệp

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

1. Nguồn cung cà phê thế giới

Theo báo cáo tháng 9 của ICO, tổng sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017/18 ước tính đạt 164,8 triệu bao (tăng thêm 5,7% so với báo cáo kỳ trước ước tính) và nhiều hơn tương đối so với con số do USDA ước tính cho niên vụ này là 159,8 triệu bao. Trong đó con số sản lượng do ICO ước tính đã bao gồm 1 phần sản lượng vụ mùa mới của những nước sản xuất cà phê bắt đầu vào tháng 4 và tháng 7 hàng năm.

Sản lượng cà phê Arabica và Robusta TĂNG trong niên vụ 2017/18, và đặc biệt phần lớn sự tăng trưởng đến từ Robusta với mức tăng 11,7% so với niên vụ trước lên 62,99 triệu bao. Sự gia tăng Robusta này chủ yếu đến từ Việt Nam - nơi sản lượng Robusta được ước tính tăng thêm 15,5% so với con số 28,03 triệu bao niên vụ trước và 1 phần nữa tới từ Brazil - nơi sản xuất Robusta tiếp tục được phục hồi với mức tăng 16,1% so với niên vụ trước lên 13,46 triệu bao trong niên vụ 2017/18. Ở Ấn Độ sản lượng Robusta được ước tính đã tăng 12,3% so với niên vụ trước lên 4,09 triệu bao do lượng mưa đủ và lượng nước tưới tiêu đầy đủ cho phát triển của cây cà phê.

Trong khi đó sản lượng cà phê Arabica ước tính cao hơn 2,2% so với niên vụ trước đạt 101,82 triệu bao. Sản lượng của Colombia ước tính khoảng 14 triệu bao, thấp hơn 4,3% so với niên vụ 2016/17 do điều kiện thời tiết không thuận lợi (khiến nước này phải tăng cường nhập khẩu cà phê trong năm nay). Ngược lại sản lượng Arbica trong bốn nhà sản xuất Arabica lớn nhất khác lại tăng với sản lượng của Brazil trong năm cà phê 2017/18 (bao gồm một phần vụ mùa mới) ước tính tăng 3,5%, đạt 44,23 triệu bao; sản lượng ở Honduras ước đạt 7,7 triệu bao, tăng 3,3% so với vụ 2016/17, đánh dấu năm thứ tư liên tiếp tăng; Ethiopia thu hoạch 7,65 triệu bao, tăng 4,8% so với niên vụ trước và cuối cùng là sản lượng Arabica của Peru ước tính cao hơn 0,8% niên vụ trước và tăng lên ở 4,29 triệu bao.

 

Dự báo sản lượng một số nước sản xuất lớn niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao 60kg)

Tên nước

2013/14

2014/15

2015/16

2016/17

2017/18

Brazil

57,200

54,300

49,400

56,100

50,900

Vietnam

29,833

27,400

28,930

26,700

29,300

Colombia

12,075

13,300

14,000

14,600

14,400

Indonesia

11,900

10,470

12,100

10,600

10,600

Honduras

4,400

5,100

5,300

7,510

7,500

Ethiopia

6,345

6,475

6,510

6,943

7,055

India

5,075

5,440

5,800

5,200

5,420

Nguồn: USDA

 

Conab 18/9: Tổng két niên vụ 2017/18: Sản lượng cà phê của Brazil ước tính đạt 59,9 triệu bao

Công ty chuyên về nghiên cứu nông sản quốc gia Brazil - Conab khẳng định rằng Brazil sẽ đạt sản lượng lớn nhất trong lịch sử với vụ mua 2017/18 vừa kết thúc thu hoạch với tổng cộng 59,9 triệu bao 60 kg, tăng 33,2% so với vụ thu hoạch trước đó với chỉ 45 triệu bao. Trong đó gồm 45,9 triệu bao cà phê Arabica, tăng 34,1% so với niên vụ trước. Cà phê Conilon (Robusta) đạt 14 triệu bao, tăng 30,3% so với niên vụ trước. Theo nghiên cứu thì nguyên nhân chính dẫn tới sản lượng cao kỷ lục là do truyền thống cứ hai năm thì một lần được mùa của nước này và điều kiện khí hậu tốt cho sản xuất. Thêm vào đó, sự tiến bộ của công nghệ trong lĩnh vực này, giúp đạt hiệu quả cao về năng suất.

Vụ mùa mới của Brazil: Các cây cà phê đang ra hoa và phát triển khá tốt. Về cơ bản nguồn cung triển vọng tốt trong 12 tháng sắp tới.

Reuters 4/10: Sản lượng cà phê Arabica trong tháng 9 của Colombia giảm 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái: Liên đoàn cà phê Colombia cho biết: Sản lượng cà phê Arabica của Colombia trong tháng 9 đạt 1,05 triệu bao 60kg (đã qua sơ chế - rửa sạch), giảm 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi đó nguồn cung từ IndonesiaViệt Nam (vụ cũ tồn kho) gần như không còn sau khi Indonesia đã kết thúc vụ thu hoạch năm nay còn Việt Nam chưa bắt đầu thu hoạch vụ mùa 2018/19 (dự kiến bắt đầu vào cuối tháng 10/2018).

Như vậy nguồn cung cà phê ra thị trường quốc tế trong tháng 9 và gần hết tháng 10 được đánh giá là khá yếu với lượng nhỏ lẻ.

 

2. Tiêu thụ

Theo báo cáo mới nhất được công bố của ICO, tiêu thụ cà phê thế giới được ước tính tăng hơn 1,8% trong năm cà phê 2017/18 với 162,23 triệu bao, như vậy sản lượng cà phê thặng dự trong niên vụ năm nay khoảng 2,58 triệu bao. Thặng dư này đã góp phần làm mức giá duy trì ở mức thấp trong vụ mùa năm nay.

Còn theo USDA dự báo tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2017/18 đạt 158,7 triệu bao, tăng 1,02% so với niên vụ trước. Trong đó, 5 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất vẫn là Liên minh châu Âu, Mỹ, Brazil, Nhật Bản và Philippines.

 

Tỷ trọng tiêu thụ cà phê của các thị trường chính trên thế giới niên vụ 2017/18

Nguồn: USDA

 

3. Thương mại

Theo báo cáo của ICO, tổng xuất khẩu cà phê thế giới trong tháng 8/2018 tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước lên 11,1 triệu bao. Trong đó xuất khẩu Arabica tăng 6,7% lên 6,95 triệu bao, và Robusta tăng 5,7% lên 4,16 triệu bao. Sự gia tăng các lô hàng Arabica bao gồm phần lớn là loại Naturals của Brazil, tăng 14,7% lên 3,3 triệu bao trong tháng 8/2018 trong khi xuất khẩu các loại cà phê Milds của Colombia giảm 11,6% xuống 1,11 triệu bao (do sản lượng nước này sụt giảm mạnh vì thời tiết).

Như vậy trong 11 tháng đầu niên vụ cà phê 2017/18, xuất khẩu cà phê thế giới tăng hơn 1,6% so với cùng kỳ niên vụ 2016/17. Các chuyến hàng Arabica trong 11 tháng vừa qua tăng 0,2% so với niên vụ 2016/17, khi xuất khẩu tăng các loại cà phê Milds của các quốc gia khác khác bù đắp được cho sự sụt giảm của cả hai loại Milds của Colombia và Naturals của Brazil (2 loại cà phê chính bị sụt giảm xuất khẩu trong niên vụ 2017/18)

Trong khi đó các lô hàng Robusta lại tăng 3,9% so với niên vụ trước lên 42 triệu bao trong 11 tháng đầu niên vụ năm nay. Tổng lượng xuất khẩu Robusta xanh đã tăng liên tiếp mỗi tháng kể từ tháng 5/2018. Xuất khẩu Robusta xanh của Brazil từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018 là 1,19 triệu bao, gấp 17 lần cùng kỳ năm trước và chiếm 78,8% lượng hàng 11 tháng niên vụ 2017/18 (các tháng trước đó xuất khẩu rất ít). Mặc dù Việt Nam sắp hết tồn kho vụ cũ nhưng lượng xuất khẩu Robusta xanh vẫn duy trì ở mức cao, ước đạt 6,43 triệu bao từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2018, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2017. Indonesia là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn thứ ba trong 3 tháng gần nhất năm 2018, với lượng hàng đạt 0,77 triệu bao - tuy nhiên, con số này thấp hơn 62,9% so với cùng kỳ năm 2017, do mức tiêu thụ nội địa tăng và năng suất không đổi đã làm giảm khối lượng xuất khẩu. Trong cùng thời gian này, Uganda đã xuất khẩu 0,88 triệu bao cà phê Robusta xanh và Ấn Độ đã xuất khẩu 0,73 triệu bao.

 

Dự báo xuất khẩu niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao)

Tên nước

2014

2015

2016

2017

2018

Brazil

34,146

36,573

35,543

33,081

30,222

Vietnam

28,289

21,530

29,500

27,550

27,650

Colombia

11,040

12,420

12,390

13,755

13,015

Indonesia

10,380

8,720

9,896

8,174

7,970

Honduras

3,940

4,760

5,000

7,290

7,100

India

5,013

4,894

5,693

6,158

6,225

Uganda

3,600

3,400

3,500

4,600

4,500

Nguồn: USDA

 

Dự báo nhập khẩu niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao)

Tên nước

2014

2015

2016

2017

2018

European Union

44,650

45,140

46,150

46,050

47,000

United States

24,915

23,995

25,185

26,485

25,275

Japan

7,870

8,110

8,195

8,040

8,280

Philippines

3,145

3,755

6,185

6,420

5,300

Russia

4,230

4,050

4,395

4,740

4,650

Canada

4,605

4,495

4,545

4,550

4,585

China

1,682

1,889

2,938

3,534

3,550

Nguồn: USDA

 

4. Tồn kho

Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ (Green Coffee Association of the USA), lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 8/201 xu hướng GIẢM MẠNH 173 ngàn bao xuống chỉ còn 6,66 triệu bao.

Biểu đồ lượng tồn kho cà phê  của Hoa Kỳ theo tháng (2016-2018) – triệu bao 60kg

Nguồn: Agromonitor tổng hợp từ số liệu của GCA

 

Tồn kho cà phê theo ICE tại một số cảng của Hoa Kỳ

Tồn kho đạt chuẩn Arabica Ice New York tính đến ngày 8/10/2018 tại các cảng của Mỹ và một số nước tăng tiếp lên ở mức 2410 (+98) ngàn bao (60 kg/bao) so với cùng kỳ tháng trước.

Tồn kho cà phê tại một số cảng đến ngày 8/10/2018, ngàn bao (1bao = 60kg)

 

ANTWERP

BARCELONA

HAMBURG / BREMEN

HOUSTON

MIAMI

NEW ORLEANS

NEW YORK

VIRGINIA

Total

Brazil

1.6

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

1.6

Burundi

45.5

0.0

30.0

0.0

0.0

0.0

4.1

0.0

79.5

Colombia

10.1

0.0

0.1

0.6

6.0

0.8

6.6

3.0

27.1

El Salvador

2.5

0.0

0.0

2.7

0.7

0.0

19.5

0.0

25.3

Guatemala

3.4

0.0

11.0

0.3

0.0

4.2

2.1

0.0

20.8

Honduras

1,119.3

0.0

99.9

73.7

0.0

1.0

43.1

13.3

1,350.3

India

39.8

0.0

4.2

0.0

0.0

0.0

0.0

0.0

44.0

Mexico

267.9

0.0

0.1

33.1

0.0

0.0

15.8

0.0

316.8

Nicaragua

52.1

0.0

35.9

0.8

24.5

1.7

44.3

0.0

159.2

Papua New Guinea

0.0

0.0

6.0

0.0

0.0

0.0

1.3

0.0

7.3

Peru

161.6

0.0

44.9

29.8

0.0

1.0

56.1

2.0

295.4

Rwanda

39.2

0.0

6.8

0.0

0.0

0.0

0.6

0.0

46.7

Uganda

17.9

0.3

14.0

0.0

0.0

0.0

3.4

0.9

36.5

Total in Bags

1,760.8

0.3

252.7

140.9

31.1

8.7

196.8

19.2

2,410.4

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ ICE

 

5. Diễn biến giá cà phê quốc tế trong tháng 9/2018

Diễn biến giá cà phê Arabica và Robusta kỳ hạn trên sàn London và New York (cập nhật 5/10/2018)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

Reuters 17/9: Các nhà sản xuất cà phê đang tìm kiếm các khách hàng lớn với hy vọng kéo giá cà phê lên khỏi mức thấp nhất trong vòng 12 năm trở lại đây

LONDON (Reuters) - Các nhà sản xuất cà phê đang tìm kiếm các cuộc họp khẩn cấp với các khách hàng lớn như Nestle, Jacobs Douwe Egberts và Starbucks để tìm cách nâng giá cà phê lên khỏi mức thấp nhất trong vòng 12 năm qua. Diễn đàn các nhà sản xuất cà phê thế giới (các nước chiếm khoảng 85% sản lượng toàn cầu) đã tổ chức một cuộc họp báo vào 17/9 để thảo luận về cuộc khủng hoảng giá cà phê hiện nay. Roberto Velez, giám đốc điều hành của Liên đoàn sản xuất cà phê Colombia cho biết hiện tại là thời điểm đen tối và khủng hoảng cho 25 triệu người trồng cà phê trên toàn thế giới.

Thị trường đang rất đen tối sau một vụ mùa có sản lượng kỷ lục ở Brazil trong năm nay, trong khi các nhà đầu cơ cũng đã đặt giá các kỳ hạn tương lai xuống rất thấp cho cà phê arabica tại sàn New York – điều này đã tăng thêm vào áp lực giảm giá. Nhiều nông dân sản xuất hiện đang thua lỗ. Ông Rene Leon Gomez, thư ký điều hành của Promecafe - Đại diện cho người trồng ở Trung Mỹ và vùng Caribê cho biết họ đang tìm cách thiết lập đối thoại với các nhà lãnh đạo ngành tiêu dùng cà phê trên toàn thế giới nhằm kéo ngành cà phê khỏi cuộc khủng hoảng thừa nguồn cung như hiện nay.

 

5.1 Robusta

Trên sàn ICE Futures Europe, giá cà phê Robusta quốc tế trong tháng 9/2018 tiếp tục duy trì ở mức thấp kỷ lục cho đến cuối tuần 3 của tháng 9, tuy nhiên kể từ tuần 3 của tháng 9  đến giữa tuần 2 tháng 10 mức giá này lại diễn biến theo chiều hướng ngược lại bằng cách TĂNG MẠNH liên tiếp.

Cụ thể, vào đầu tháng 9, mức giá kỳ hạn tháng 11/2018 là 1,489 USD/tấn; kỳ hạn tháng 1/2019 ở mức 1,487 (ngày đầu tiên của tháng). Mức giá này dao động nhẹ liên tiếp và đạt mức 1,489 và 1,493 vào cuối tuần 3 tháng 9. Sau đó, mức giá này tăng liên tiếp do nguồn cung trở nên khan hiếm khi Indonesia thu hoạch xong vụ mùa và cần phải nhập khẩu thêm cho tiêu thụ nội địa, cùng với đó là việc tồn kho vụ cũ của Việt Nam cũng đã cạn kiệt đã góp phần đẩy giá cà phê Robusta tăng mạnh. Ngày cuối cùng của tháng 9, giá Robusta kỳ hạn tháng 11/2018 ở mức 1,554 và kỳ hạn tháng 1/2019 ở mức 1,541 USD/tấn. Đến giữa tuần 2 tháng 10 mức giá này liên tiếp tăng lên 1,684 và 1,700 USD/tấn (mức tăng SỐC 195 và 213 USD/tấn chỉ trong vòng 20 ngày).

 

Diễn biến giá Robusta quốc tế theo tuần trong tháng 9-10/2018

Kỳ hạn/Ngày

Tuần 3/9-7/9

Tuần 10/9-14/9

Tuần 17/9-21/9

Tuần 24/9-28/9

Tuần 1/10-5/10

Tháng 11/2018

1490

1492

1491

1520

1607

Tháng 1/2019

1490

1498

1496

1514

1601

Tháng 3/2019

1502

1515

1514

1530

1612

Tháng 5/2019

1526

1533

1532

1544

1624

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

5.2 Arabica

Cùng chung xu hướng với Robusta, giá cà phê Arabica TIẾP TỤC dao động ở mức thấp trong 2/3 thời gian tháng 9, cụ thể giá Arabica kỳ hạn tháng 12/2018 và tháng 3/2019 ở mức 101.8 và 105.1 cent/lb vào đầu tháng. 2 mức giá này thậm chí còn giảm sâu hơn nữa xuống 97.1 và 100.45 cent/lb vào đầu tuần 4 tháng 9. Nguyên nhân gây ra sự sụt giảm này được các thương nhân quốc tế đánh giá là do việc bầu cử tại Brazil đã dẫn tới việc tỷ giá đồng Real của Brazil yếu hơn tương đối nhiều so với đồng USD của Mỹ gây ra sự sụt giảm giá cà phê Arabica của nước này.

Reuter 26/9: Các nhà sản xuất cà phê Brazil đang tích cực bán hàng ra thị trường trong bối cảnh đồng Real yếu hơn đồng USD: Giá cà phê Arabica tháng 12 đã giảm 1,4 cents/lb (14%) xuống còn 97,1 cents/lb vào ngày 25/9, tiếp tục kéo dài các khoản lỗ từ các phiên trước đó. Các đại lý cho biết các nhà sản xuất Brazil đang bán hàng ra thị trường, với lý do là đồng Real của nước này tiếp tục yếu so với đồng USD của Mỹ. Đồng Real của Brazil yếu đi làm tăng lợi nhuận đối với các mặt hàng được giao dịch bằng USD như cà phê và đường, khuyến khích bảo hiểm rủi ro nhà sản xuất và gây sức ép lên giá cả. Các thương nhân cũng cho biết các nhà đầu cơ đang tháo gỡ các lệnh mua bán kỳ hạn tương lai xa do sự thất bại của thị trường trong việc khôi phục giá cả. Theo một thương nhân tại Moultrie, Georgia cho biết: “Thị trường đang tìm kiếm một mức giá thấp trong ngắn hạn”. Đầu tháng này, giá cà phê Arabica tương lại chạm mức thấp kỷ lục trong vòng 12 năm qua.

Tuy nhiên sau khi cuộc bầu cử kết thúc vào thời điểm cuối tháng 9 thì đồng Real đã tăng mạnh trở lại hỗ trợ giá Arabica tăng lên, thêm vào đó là các phiên đầu cơ ngắn hạn của các nhà đầu cơ khiến thị trường càng trở nên sôi động. Kết quả là tới tuần 2 tháng 10, giá Arabica kỳ hạn 12/2018 và 3/2019 lần lượt ở mức 111.85 và 115.35 cent/lb (mức tăng 14.75 – 15.25 cent/lb trong vòng chưa tới 15 ngày). Theo Reuters 29/9, giá cà phê Arabica tăng cao trở lại là do:

- Các đại lý cho biết sự tăng mạnh trở lại của đồng Real Brazil (so với USD) đã giúp hỗ trợ đẩy giá lên.

- Các thương nhân giao dịch thì cho biết các phiên giao dịch trước khi đóng cửa trên mức trung bình của 20 ngày vừa qua đã giúp hỗ trợ về mặt kỹ thuật.

- Theo Shawn Hackett – chủ tịch của một công ty cố vấn của Brazil cho biết thêm về việc thiếu lượng mưa để hỗ trợ cho việc ra hoa cây cà phê vụ mùa tiếp theo làm gia tăng thêm sự lo lắng cho sản lượng niên vụ sắp tới của nước này.

Diễn biến giá Arabica quốc tế theo tuần trong tháng 9-10/2018

Kỳ hạn/Ngày

Tuần 3/9-7/9

Tuần 10/9-14/9

Tuần 17/9-21/9

Tuần 24/9-28/9

Tuần 1/10-5/10

Tháng 12/2018

102.34

100.83

97.90

99.02

106.47

Tháng 3/2019

105.66

104.24

101.28

102.40

109.89

Tháng 5/2019

108.00

106.66

103.70

104.80

112.28

Tháng 7/2019

110.55

109.06

106.07

107.18

114.66

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

6. Tin tức quốc tế khác

+ Honduras dự kiến ​​xuất khẩu 9,5 triệu bao cà phê niền vụ 2017/18: Coffee Network (Bogota) - Phó giám đốc xuất khẩu Viện cà phê Honduras (Ihcafé), ông Abdul Murillo García, cho biết: Xuất khẩu của Honduras (nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 5 thế giới) ước đạt 9,5 triệu bao 60 kg trong niên vụ 2017/18 sẽ kết thúc vào tháng 9/2018 sắp tới. Lũy kế xuất khẩu từ tháng 10/2017 đến ngày 14/9/2018, xuất khẩu của quốc gia này đã đạt 9,25 triệu bao và dự kiến sẽ xuất khẩu 200 ngàn bao trong 15 ngày tới, bằng với mức xuất khẩu được ghi nhận vào năm ngoái.

+ Giữa tháng 9, giao dịch cà phê ở Brazil và Việt Nam rất ảm đạm bất chấp các dự báo tích cực trước đó: Các nhà đầu cơ đã kỳ vọng Việt Nam  đang tiến gần đến vụ thu hoạch năm nay và các thương nhân quốc tế suy nghĩ rằng nông dân – nhà sản xuất của Việt Nam sẽ chịu áp lực bán nhiều hơn các vụ trước (do năm nay sản lượng dự báo đạt mức cao kỷ lục 29,5 triệu bao theo USDA). Tuy nhiên thời điểm giữa tháng 9 những người sản xuất của cả Việt Nam và Brazil đều đang không chịu bán cà phê ra (có thể do giá quá thấp) mặc dù đã có những thông tin xác nhận giao dịch lượng lớn ở Brazil. Thị trường Brazil tương đối ảm đạm do những dư âm cuộc đình công của giới vận tải nước này hồi tháng 6 năm nay (cuộc đình công dẫn tới sự tăng giá cước vận chuyển hàng hóa và giảm lợi nhuận của người bán).

+ Giữa tháng 9 xuất hiện tình trạng Thiếu containers và tàu để vận chuyển cà phê vụ mới của Brazil đi xuất khẩu: Có thông tin cho biết tại Brazil cà phê vụ mới đang được vận chuyển sang các nước nhập khẩu vẫn chưa đến nơi, trong khi đó các hãng tàu đang kẹt thiếu containers và chỗ trống trên tàu để vận chuyển các lô hàng mới.

+ Reuters 21/9: Giá cà phê thế giới xuống thấp, một số nông dân phải chuyển nghề: Hiện nay, tình trạng giá cà phê xuống thấp kỷ lục trong nhiều năm gây thua lỗ khiến nhiều nông dân đã phải bỏ nghề, lâm vào cảnh nghèo đói, nhiều nông trại bị bỏ hoang không ai chăm sóc. Điều này đã thúc đẩy Cơ quan Cà phê Quốc tế (ICO) tổ chức hội thảo nhằm thảo luận vấn đề khủng hoảng giá trong tuần này. Trong khi các tín hiệu xấu từ thị trường vẫn chưa hết, nhất là áp lực từ vụ cà phê đạt sản lượng cao kỷ lục của Brazil, cộng với vụ cà phê tới đây của Việt Nam cũng dự báo sẽ được mùa (sản lượng có thể cao đạt mức kỷ lục).

+ Reuters 6/10: Liên minh các nhà trồng cà phê Brazil đề nghị chính phủ nước này tài trợ để có thể trì hoãn việc bán hàng trong điều kiện giá thấp như hiện nay: Liên minh nông dân trồng cà phê Brazil - CNA, cho biết rằng họ đã chính thức yêu cầu tài trợ của chính phủ cho một chương trình để nông dân trồng cà phê có thể giữ lại doanh thu và tích trữ sản phẩm tránh việc phải bán ở mức giá thấp hiện tại. Giám đốc CNA Breno Mesquita cho biết: "Chúng tôi đã có một vụ mùa sản lượng rất lớn trong năm nay và dòng chảy cà phê hiện tại là rất mạnh. Chúng tôi phải tài trợ cho nông dân để họ có thể chờ đợi với hy vọng có thể bán với mức giá tốt hơn trong tương lai." Ông cho biết thêm rằng giá cà phê Arabica xanh của Brazil hiện tại vào khoảng 380 reals mỗi bao 60 kg (tương đương 75 cent/lb), so với 500 reals tại thời điểm này năm ngoái, đang làm nông dân bị tổn thất nghiêm trọng.

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. Nguồn cung cà phê trong nước

Việt Nam vẫn là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil. Theo ước tính của USDA, sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 của Việt Nam sẽ đạt mức cao kỷ lục 29,9 triệu bao nhờ thời tiết mát mẻ hơn và mưa trái mùa hỗ trợ sinh trưởng cây cà phê chỉ ngay trước giai đoạn ra hoa kết quả. Trong khi đó, theo ước tính của ICO (báo cáo tháng 9/2018) thì sản lượng của Việt Nam ước đạt 29,5 triệu bao, tăng 15,5% so với năm ngoái.

Theo Reuters 27/9 cho biết Sản lượng cà phê niên vụ 2018/19 (sắp tới) của Việt Nam có thể sụt giảm do mưa kéo dài: Theo các Chuyên gia và thương nhân quốc tế cho biết các cơn mưa kéo dài ở Việt Nam có thể làm giảm sản lượng cà phê trong mùa vụ 2018/19 (sẽ bắt đầu thu hoạch vào cuối tháng 10 sắp tới). Còn theo Chủ tịch Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết những cơn mưa kéo dài hiện nay tại Tây Nguyên làm cho cây cà phê khó hấp thụ phân bón và cũng ảnh hưởng đến khả năng giữ lại quả của chúng.

Một nguồn tin khác, ông Lê Đức Huy, Phó tổng giám đốc của Simexco, có trụ sở tại Đắk Lắk cho biết: “Một số quả cà phê sắp chín đang rơi rụng những cây sắp thu hoạch được, nhưng tình trạng này không diễn ra ở các cây cà phê xanh”. Ông này cũng cho biết thêm nếu lượng quả sắp chín được giữ nguyên (không bị rơi rụng) giống như đầu năm nay thì sản lượng vụ 2018/19 có thể tăng khoảng 7% so với năm trước, nhưng tính đến thời điểm hiện tại sản lượng có thể chỉ bằng niên vụ trước. Trong khi đó 1 chuyên gia cà phê của Việt Nam cho biết thêm nếu mưa kéo dài lâu hơn, nó sẽ làm tổn hại đến chất lượng của cà phê và nông dân sẽ không thể sấy khô cà phê sau khi thu hoạch.

Tuy nhiên, theo trao đổi của chúng tôi với người nông dân trồng cà phê tại Đắk Lắk thì được biết mặc dù mưa lớn nhưng việc quả cà phê chín sớm rụng là khá ít, thiệt hại được cho là KHÔNG ĐÁNG KỂ.

 

2. Tiêu thụ nội địa

Theo USDA, mức tiêu thụ cà phê nội địa của Việt Nam có thể đạt kỷ lục 2,88 triệu bao tương đương 173 ngàn tấn trong niên vụ 2017/18 (tháng 10/2017 đến 9/2018).

 

3. Thương mại

- Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê tháng 9/2018 đạt 120,7 ngàn tấn với kim ngạch 212 triệu USD (giảm 21,3% về lượng và 24,8% về kim ngạch so với tháng trước). Luỹ kế từ đầu năm 2018 đến nay xuất khẩu đạt 1,45 triệu tấn và kim ngạch đạt 2,75 tỷ USD (tăng 18,8% về lượng nhưng lại giảm 0,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước)

Biểu đồ Lượng và Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam theo tháng (từ 1/2017 – 9/2018)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp theo số liệu Hải quan

 

4. Diễn biến giá cà phê nội địa

Cũng chung diễn biến với giá Robusta quốc tế thì mức giá cà phê Robusta nội địa và cụ thể là tại Đắk Lắk trong tháng 9 xu hướng dao động nhẹ xung quanh mức 32,000-32,500 từ thời điểm đầu tháng kéo dài đến cuối tuần 3 tháng 9. Tuy nhiên sau đó cùng với đà tăng trưởng giá Robusta thế giới đã kéo giá Robusta nội địa lên 1 cách MẠNH MẼ. Cụ thể, giá Robusta nhân xô tại Đắc Lắk đã tăng lên mức 35,900 vào thời điểm tuần 2 tháng 10 – tương đương mức tăng 3,500-4,000 đồng/kg chỉ trong vòng chưa tới 15 ngày.

Đánh giá của một thương nhân tại Đắk Lắk vào cuối tháng 9 cho biết giá cà phê đã tăng nhẹ vì hàng tồn kho gần như đã trống rỗng, trong khi một số nhà xuất khẩu vẫn cần nhập khẩu cà phê để hoàn thành hợp đồng đã ký của họ. Tuy nhiên, giá trong nước khó có khả năng tăng thêm nữa do mùa vụ 2018/19 sẽ bắt đầu sớm vào tháng 10 (rộ vụ vào tháng 12/2018).

Việt Nam đang tiến gần đến vụ thu hoạch trong năm nay và thương nhân quốc tế cũng kỳ vọng rằng các nhà sản xuất tại Việt Nam cần bán nhiều hơn cà phê vụ trước để tạo ra không gian lưu trữ mới. Nhưng thực tế thì các nhà sản xuất ở cả Việt Nam không bán hay chính xác là không có hàng để bán. Trước đó chúng tôi cũng từng đưa tin Bộ Công Thương Việt Nam nhận định rằng tồn kho cà phê vụ cũ trong các doanh nghiệp Việt Nam gần như đã cạn và không còn nguồn cung ra thị trường. Trong khi đó thì các nhà xuất khẩu trong nước đã bắt đầu chào bán cà phê sẽ thu hoạch sắp tới vì lượng hàng cũ dự trữ trong kho đã cạn. Các nhà xuất khẩu đã chào bán sớm loại cà phê Robusta R2 đen 5% vỡ với mức trừ lùi từ 30-40 USD/tấn đối với hợp đồng tháng 11/2018 và tháng 1/2019 tại sàn London.

 

Diễn biến giá Robusta nội địa theo tuần trong tháng 9-10/2018

Kỳ hạn/Ngày

Tuần 4-10/9

Tuần 11-17/9

Tuần 18-24/9

Tuần 25/9-1/10

Tuần 2-8/10

Đắc Lắc

32,680

32,580

32,500

32,960

34,520

Lâm Đồng

32,180

32,160

32,000

32,460

34,020

Gia Lai

32,740

32,660

32,520

33,060

34,620

Đắc Nông

32,520

32,500

32,360

32,860

34,420

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

Biểu đồ giá cà phê vối nhân xô các địa phương theo tuần (cập nhật 8/10/2018)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

CÁC QUỐC GIA SẢN XUẤT CÀ PHÊ LỚN KHÁC

1. Brazil

Theo USDA, niên vụ 2017/18, sản lượng cà phê của Brazil đạt mức 50,9 triệu bao so với con số 51 triệu bao được công bố trong báo cáo tháng 7 của ICO.

Xuất khẩu cà phê của Brazil sang các quốc gia khác trong giai đoạn 1-8/2018: Theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê của Brazil (CeCafe) thì Mỹ, Đức và Ý là ba nhà nhập khẩu cà phê Brazil hàng đầu trong 8 tháng đầu năm 2018.

- Tổng cộng có 20,47 triệu bao 60 kg cà phê đã được xuất khẩu từ Brazil từ đầu năm 2018 tới nay. Cụ thể: Mỹ đã nhập 3,59 triệu bao cà phê xô (17,5%), tiếp theo là Đức nhập 3,13 triệu bao (15,3%) và Ý với 1,9 triệu bao (9,3%). Các nhà nhập khẩu chính khác gồm Nhật Bản, với 1,41 triệu bao (6,8%); Bỉ, với 1,38 triệu bao (6,7%); Anh với 0,89 triệu bao (4,3%); Thổ Nhĩ Kỳ với 0,63 triệu bao (30,7%).

- So với năm 2017, Canada và Vương quốc Anh là những quốc gia duy nhất tăng lượng nhập khẩu cà phê Brazil. Năm 2017, Anh đã nhập chỉ 0,63 triệu bao cà phê Brazil, trong khi Canada nhập 0,75 triệu bao.

- Xuất khẩu cà phê Brazil sang Mexico cũng tăng vọt. Brazil đã xuất khẩu 136,8 ngàn bao 60 kg sang Mexico, tăng 277% từ mức 36,2 ngàn bao cùng kỳ năm 2017. Mexico sử dụng cà phê Brazil để cung cấp cho các nhà máy của Nestle và cũng để cung cấp cho các nhà máy tách cafein của quốc gia, một sản phẩm được xuất khẩu sau chế biến.

- Xuất khẩu cà phê của Brazil sang Cuba đạt 20,2 ngàn bao 60 kg sau khi không xuất khẩu sang đảo Caribbean vào năm 2017.

- Venezuela, năm ngoái đã nhập khẩu 8,3 ngàn bao cà phê từ Brazil, đã không nhập khẩu cà phê Brazil trong năm nay.

- Xuất khẩu của Brazil sang Cộng hòa Dominica cũng giảm mạnh 86% so với năm ngoái xuống còn 8,7 ngàn bao trong năm nay.

 

2. Trung Mỹ và Mexico

Theo báo cáo ICO, tháng 7/2018, Honduras xuất khẩu 0,69 triệu bao cà phê các loại, thấp hơn 10,8% so với tháng 7/2017 và tổng xuất khẩu trong 10 tháng đầu niên vụ 2017/18 giảm 2,8% xuống còn 6,44 triệu bao so với niên vụ trước. Nguyên nhân được cho là do thời tiết xấu và tình trạng thiếu hụt nhân công đã góp phần đáng kể vào việc giảm khối lượng xuất khẩu mặc dù nước này đã có một vụ mùa bội thu hơn niên vụ trước (ước tính cao hơn 12% đạt mức 8,35 triệu bao so với niên vụ 2016/17)

 

3. Colombia

Reuters 20/9: Colombia tiếp tục nhập khẩu mạnh cà phê từ Brazil: Bên cạnh việc tăng đáng kinh ngạc của các lô hàng từ Brazil đến Colombia theo báo cáo mới nhất của Cecafé - với hơn 76 ngàn bao, các thương nhân quốc tế nhận thấy rằng có nhiều thương nhân Colombia đang đến thăm các công ty xuất khẩu của Brazil để có được nhiều ưu đãi thấp hơn. Theo báo cáo của Liên đoàn trồng cà phê Colombia (FNC) thì Colombia đã tăng vọt nhập khẩu cà phê Brazil, liên đoàn này cho rằng việc nhập khẩu được thiết lập để tăng nguồn cung cho nhà máy cà phê đông lạnh của Buencafé Liofilizado và tăng cho tiêu dùng địa phương. Theo Hiệp hội xuất khẩu cà phê Brazil - Cecafe thì từ tháng 1-8/2018, Brazil đã xuất 70,5 ngàn bao 60 kg sang Colombia (gấp 82 lần số lượng túi 880 xuất khẩu trong cùng kỳ năm ngoái).

Trong một thông tin khác thì theo số liệu của Mạng lưới Cà phê từ cơ quan thuế DIAN thì Colombia đã nhập 296 ngàn bao 60kg trong nửa đầu năm 2018 – tương đương tăng 221% so với cùng kỳ năm ngoái (nhập 92 ngàn bao). Theo ước tính của hãng tin Coffee Network, nếu Colombia duy trì nhập khẩu hàng tháng là 49,3 ngàn bao thì nước này sẽ kết thúc năm 2018 với tổng lượng nhập khẩu cà phê là 592 ngàn bao từ nước ngoài. Trong lịch sử Colombia ghi nhận mức nhập khẩu cao trong năm 2012, khi nước này nhập 1,07 triệu bao 60 kg trong bối cảnh sản lượng sụt giảm. Hiện nay Peru và Ecuador là những nhà cung cấp cà phê chính cho tiêu thụ nội địa của Colombia, nhưng nhập khẩu cũng đang tăng nhanh từ khu vực Honduras và Brazil.

 

4. Indonesia

Tại tỉnh Lampung của Indonesia, các nhà xuất khẩu cho biết vào đầu tháng 10 mức trừ lùi cà phê đặc biệt loại 80 Robusta hạng 4 là 25-30 USD/tấn cho hợp đồng tháng 11 và tháng 12 tại sàn London, giảm so với mức 50 USD/tấn của tuần trước đó và 70-80 USD/tấn vào 2 tuần trước đó. Được biết, xuất khẩu cà phê Indonesia từ tỉnh Lampung ở Sumatra trong tháng 9 giảm 51% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 10,1 ngàn tấn, nguyên nhân được cho là do sản lượng thấp hơn trong năm nay và nhu cầu trong nước cao hơn góp phần làm giảm xuất khẩu.

 

PHỤ LỤC SỐ LIỆU XUẤT KHẨU VIỆT NAM

Lượng và Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam theo tháng, từ 1/2017-9/2018

Năm

Tháng

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

2017

1

140,3

316,8

2

146,4

331,9

3

168.0

230,0

4

134.8

305.8

5

122.2

274.3

6

122.2

275.7

7

100.8

236.0

8

95.0

222.2

9

79.5

187.3

10

79.1

184.8

11

100.5

216.8

12

158.4

318.4

2018

1

200.7

391.9

2

129.9

251.3

3

200.2

387.1

4

155.7

297.7

5

149.8

294.2

6

156.3

296.6

7

132.8

249.6

8

153.3

282.2

9

120.7

212.1

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 8/2018

Thị trường

Lượng (tấn)

Kim ngạch (USD)

Germany

19,160

32,604,249

United States of America

11,225

19,874,390

Italy

9,370

16,569,185

Thailand

7,604

13,127,989

Spain

7,596

13,343,008

Japan

7,237

12,976,971

Belgium

6,112

10,796,663

Russian Federation

5,591

9,583,078

Algeria

5,272

9,544,466

India

4,740

7,096,377

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lượng tháng 8/2018

Doanh nghiệp

Lượng (Ngàn tấn)

Tập đoàn Intimex

          17.08

Louis Dreyfus Việt Nam

          10.26

Tín Nghĩa

            8.61

Intimex Mỹ Phước

            7.79

2-9 Đắk Lắk

            6.82

Olam Việt Nam

            6.46

ATLANTIC Việt Nam

            6.16

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

            5.34

VOLCAFE Việt Nam

            5.15

MASCOPEX

            5.11

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lượng 8 tháng đầu năm 2018

Doanh nghiệp

Lượng (Ngàn tấn)

Tập đoàn Intimex

        120.77

Intimex Mỹ Phước

          69.93

Louis Dreyfus Việt Nam

          68.11

2-9 Đắk Lắk

          66.86

Tín Nghĩa

          63.95

MASCOPEX

          50.12

Olam Việt Nam

          47.56

Vĩnh Hiệp

          47.17

ATLANTIC Việt Nam

          45.90

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

          42.48

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lũy kế lượng 3 tháng các tháng 6-7-8/2018

Doanh nghiệp

Lượng (Ngàn tấn)

Tập đoàn Intimex

          40.72

Louis Dreyfus Việt Nam

          28.02

2-9 Đắk Lắk

          23.39

Tín Nghĩa

          22.29

Intimex Mỹ Phước

          22.05

Olam Việt Nam

          18.38

ATLANTIC Việt Nam

          18.13

VOLCAFE Việt Nam

          17.10

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

          16.97

MASCOPEX

          16.87

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lũy kế lượng 3 tháng các tháng 3-4-5/2018

Doanh nghiệp

Lượng (Ngàn tấn)

Tập đoàn Intimex

          43.34

Intimex Mỹ Phước

          29.43

2-9 Đắk Lắk

          26.46

Tín Nghĩa

          26.09

Louis Dreyfus Việt Nam

          22.01

MASCOPEX

          21.96

Vĩnh Hiệp

          19.82

Olam Việt Nam

          18.37

ATLANTIC Việt Nam

          18.14

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

          17.61

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN tăng trưởng mạnh nhất về Lượng tháng 6-7-8/2018 so với 3 tháng trước đó ngàn tấn)

Doanh nghiệp

Lượng 2-3-4/2018

Lượng 5-6-7/2018

Tăng trưởng (%)

Nestlé Việt Nam

1.99

3.53

78%

VOLCAFE Việt Nam

10.52

17.10

63%

Louis Dreyfus Việt Nam

22.01

28.02

27%

Minh Huy

6.14

7.53

23%

Dakman Việt Nam

8.08

9.43

17%

Outspan Việt Nam

4.11

4.62

12%

Intimex Buôn Ma Thuột

6.71

7.44

11%

Olam Việt Nam

18.37

18.38

0%

ATLANTIC Việt Nam

18.14

18.13

0%

Mercafe Việt Nam

7.29

7.23

-1%

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN sụt giảm mạnh nhất về Lượng tháng 6-7-8/2018 so với 3 tháng trước đó ngàn tấn)

Doanh nghiệp

Lượng 2-3-4/2018

Lượng 5-6-7/2018

Tăng trưởng (%)

Exportadora Việt Nam

4.90

0.00

-100%

Sunwah Việt Nam

11.22

3.26

-71%

Chế biến - XK cà phê

4.27

1.25

-71%

Hoa Trang - Gia Lai

12.96

4.94

-62%

COFCO

4.77

1.93

-59%

TCT Vinacafe

15.75

7.82

-50%

Vĩnh Hiệp

19.82

10.02

-49%

Thanh Hùng

3.98

2.35

-41%

Quang Minh

3.17

2.07

-35%

Intimex Bình Dương

12.05

8.04

-33%

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về Kim ngạch tháng 8/2018

Doanh nghiệp

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

        28.10

Louis Dreyfus Việt Nam

        17.43

Tín Nghĩa

        13.86

Intimex Mỹ Phước

        12.88

Olam Việt Nam

        11.60

2-9 Đắk Lắk

        11.56

ATLANTIC Việt Nam

        10.69

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

          9.90

Outspan Việt Nam

          9.17

VOLCAFE Việt Nam

          8.55

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về Kim ngạch 8 tháng đầu năm 2018

Doanh nghiệp

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

      207.75

Intimex Mỹ Phước

      121.77

Louis Dreyfus Việt Nam

      120.54

2-9 Đắk Lắk

      118.12

Tín Nghĩa

      109.34

MASCOPEX

        86.57

Olam Việt Nam

        86.40

ATLANTIC Việt Nam

        84.88

Vĩnh Hiệp

        81.98

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

        74.55

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lũy kế Kim ngạch 3 tháng các tháng 6-7-8/2018

Doanh nghiệp

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

          68.10

Louis Dreyfus Việt Nam

          47.93

2-9 Đắk Lắk

          40.50

Intimex Mỹ Phước

          37.39

Tín Nghĩa

          36.84

ATLANTIC Việt Nam

          32.07

Olam Việt Nam

          31.45

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

          30.03

VOLCAFE Việt Nam

          29.33

MASCOPEX

          28.23

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN về lũy kế Kim ngạch 3 tháng các tháng 3-4-5/2018

Doanh nghiệp

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

          74.98

Intimex Mỹ Phước

          52.05

2-9 Đắk Lắk

          47.13

Tín Nghĩa

          45.43

Louis Dreyfus Việt Nam

          39.91

MASCOPEX

          38.59

Vĩnh Hiệp

          34.80

ATLANTIC Việt Nam

          33.51

Olam Việt Nam

          32.90

Phúc Sinh

          31.54

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN tăng trưởng mạnh nhất về Kim ngạch tháng 6-7-8/2018 so với 3 tháng trước đó (triệu USD)

Doanh nghiệp

Kim ngạch 2-3-4/2018

Kim ngạch 5-6-7/2018

Tăng trưởng (%)

Nestlé Việt Nam

8.86

16.50

86%

VOLCAFE Việt Nam

18.96

29.33

55%

Louis Dreyfus Việt Nam

39.91

47.93

20%

Minh Huy

10.74

12.73

19%

Dakman Việt Nam

15.52

16.84

9%

Intimex Buôn Ma Thuột

11.80

12.76

8%

NEUMANN GRUPPE Việt Nam

30.56

30.03

-2%

Mercafe Việt Nam

15.69

15.02

-4%

ATLANTIC Việt Nam

33.51

32.07

-4%

Olam Việt Nam

32.90

31.45

-4%

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Top 10 DN sụt giảm mạnh nhất về Kim ngạch tháng 6-7-8/2018 so với 3 tháng trước đó (triệu USD)

Doanh nghiệp

Kim ngạch 2-3-4/2018

Kim ngạch 5-6-7/2018

Tăng trưởng (%)

Sunwah Việt Nam

22.68

6.39

-72%

Chế biến - XK cà phê

7.58

2.24

-70%

Hoa Trang - Gia Lai

22.93

8.29

-64%

COFCO

8.31

3.39

-59%

Vĩnh Hiệp

34.80

16.84

-52%

TCT Vinacafe

26.94

13.09

-51%

Thanh Hùng

6.88

3.92

-43%

Quang Minh

5.56

3.43

-38%

Intimex Bình Dương

21.24

13.49

-37%

Minh Tiến

15.40

10.42

-32%

Nguồn: Số liệu Hải quan