Cà phê 7/2019 – Mức giá cà phê Robusta nội địa trong tháng 7/2019 và cụ thể là tại Đắk Lắk vẫn tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ
 

Cà phê 7/2019 – Mức giá cà phê Robusta nội địa trong tháng 7/2019 và cụ thể là tại Đắk Lắk vẫn tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 7/2019

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

- Theo báo cáo của ICO ra ngày 7/8, vào tháng 6 năm 2019, xuất khẩu cà phê thế giới đã tăng 2,8% lên 10,94 triệu bao so với tháng 6 năm 2018.

 

- Niên vụ 2018/19, sản lượng thế giới ước tính đạt 168,77 triệu bao, trong đó sản lượng Arabica ước tính 103,79 triệu bao, chiếm 61% tổng sản lượng và Robusta ước tính đạt 64,98 triệu bao, chiếm 39%.

 

- Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ (Green Coffee Association of the USA), lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 7/2019 xu hướng tăng lên mức 7,1 triệu bao so với mức 6,82 triệu bao cùng kỳ tháng trước.

 

- Giá cà phê Arabica và Robusta quốc tế trong tháng 7 bắt đầu bước sang kỳ hạn mới, kỳ hạn tháng 9/2019 và có xu hướng giảm liên tiếp qua các tuần

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

- Mức giá cà phê Robusta nội địa trong tháng 7/2019 và cụ thể là tại Đắk Lắk vẫn tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ

 

- Trong tháng 6, top 5 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam gồm: Tập đoàn Intimex, Mascopex, 2-9 Đắk Lắk, Intimex Mỹ Phước và TCT Vinacafe.

 

- Top 3 thị trường nhập khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam trong tháng 5 gồm: Đức, Ý, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật.

 

- Xuất khẩu cà phê tháng 7/2019 đạt 140,4 ngàn tấn với kim ngạch 241 triệu USD (giảm 1,4% về lượng, tuy nhiên lại lại tăng 1,2% về kim ngạch so với tháng trước đó). Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu đạt 1,06 triệu tấn và kim ngạch đạt 1.818 triệu USD (giảm 9,6% về lượng và 19,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước).

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

1. Xuất khẩu

Theo báo cáo mới nhất của ICO, vào tháng 6 năm 2019, xuất khẩu cà phê thế giới đã tăng 2,8% lên 10,94 triệu bao so với tháng 6 năm 2018. Sự tăng trưởng này được dẫn dắt bởi các lô hàng cà phê Arabica của Colombia, tăng 19,9% lên 1,23 triệu bao. Tại Brazil, lượng xuất khẩu cà phê tự nhiên tăng 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái lên 2,91 triệu bao. Bên cạnh đó, xuất khẩu cà phê từ các vùng khác tăng 0,6% lên 2,93 triệu bao. Trong khi xuất khẩu cà phê Robusta giảm 4% xuống còn 3,86 triệu bao trong tháng 6/2019.

Lũy kế xuất khẩu toàn cầu trong 9 tháng đầu niên vụ 2018/19 (từ tháng 10/2018 đến tháng 6/2019) đạt 97,28 triệu bao, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Các lô hàng xuất khẩu của Brazil tăng 20,6% lên 31,12 triệu bao trong khi Colombia tăng 8,1% lên 11,36 triệu bao. Xuất khẩu cà phê Robusta tăng 1,4% lên 34,45 triệu bao trong khi cà phê từ các nước khác giảm 3,3% xuống còn 20,35 triệu bao. Sự sụt giảm này đến từ Ấn Độ, Mexico và Costa Rica khi lượng xuất khẩu giảm lần lượt 9,2% xuống 4,69 triệu bao, 11,8% xuống 2,11 triệu bao và 12,3% xuống 785.601 bao

 

Bảng 1: Dự báo xuất khẩu niên vụ 2018/19 của USDA tháng 6/2019 (ngàn bao)

Tên nước

2015

2016

2017

2018

2019

Brazil

36,573

35,543

33,081

30,450

39,720

Vietnam

21,530

29,500

27,550

27,900

27,200

Colombia

12,420

12,390

13,755

12,715

13,400

Indonesia

8,720

9,896

8,174

8,010

6,150

Honduras

4,760

5,000

7,290

7,200

6,700

India

4,894

5,693

6,158

6,224

5,540

Uganda

3,400

3,500

4,600

4,500

4,600

Khác

31,346

31,866

32,934

34,104

34,614

Tổng

123,643

133,388

133,542

131,103

137,924

Nguồn: USDA

 

Bảng 2: Dự báo nhập khẩu niên vụ 2018/19 của USDA tháng 6/2019 (ngàn bao)

Tên nước

2015

2016

2017

2018

2019

European Union

45,140

46,150

46,050

47,450

49,000

United States

23,995

25,185

26,485

24,790

26,600

Japan

8,110

8,195

8,040

7,720

8,500

Philippines

3,755

6,185

6,420

6,060

6,200

Canada

4,495

4,545

4,550

4,750

4,720

Russia

4,050

4,395

4,740

4,485

4,450

China

1,889

2,938

3,534

3,550

2,750

Khác

25,970

26,874

26,720

28,886

30,405

Tổng

117,404

124,467

126,539

127,691

132,625

Nguồn: USDA

Ghi chú: Vì số liệu của ICO là cho các khu vực (chứ không phải theo từng quốc gia) và sẽ được cập nhật hàng tháng nên chúng tôi sử dụng số liệu của USDA cập nhật 1 năm 2 lần (cho từng quốc gia) làm các bảng số liệu "khung" để khách hàng có thể nắm được toàn cảnh thương mại cà phê quốc tế của các quốc gia lớn

 

2. Sản lượng

Theo báo cáo mới nhất của ICO, niên vụ 2018/19, sản lượng thế giới ước tính đạt 168,77 triệu bao, trong đó sản lượng Arabica ước tính 103,79 triệu bao, chiếm 61% tổng sản lượng và Robusta ước tính đạt 64,98 triệu bao, chiếm 39%. Sản lượng cà phê của 5 nhà sản xuất lớn nhất trong năm nay dự kiến sẽ chiếm 73% sản lượng thế giới bao gồm:

Brazil: Sản lượng cà phê của Brazil trong niên vụ 2018/19 tính đến tháng 3/2019 tăng 18,5% lên 62,5 triệu bao, điều này được phản ánh bởi mức tăng 20,6% trong xuất khẩu của Brazil vào giai đoạn này, đạt 37,13 triệu bao. Sản xuất cà phê Robusta của Brazil đã được phục hồi từ đợt hạn hán trước đó, bằng chứng là sự tăng trưởng trong xuất khẩu cà phê Robusta xanh. Sau khi giảm 72% xuống còn 119 ngàn bao trong 6 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu của giống cà phê này đã tăng gấp 3 lên 506 ngàn bao kể tháng 1 đến tháng 6/2018 và tăng lên 1,46 triệu bao trong 6 tháng đầu năm 2019. Xuất khẩu cà phê Arabica xanh của Brazil trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 15,86 triệu bao, tăng so với mức 12,42 triệu bao vào năm ngoái.

Việt Nam: Sản lượng của Việt Nam ước tính thấp hơn 1,3% ở mức 30 triệu bao vì điều kiện thời tiết bất lợi đã gây ảnh hưởng đến sản lượng trong vụ mùa 2018/19. Mặc dù giảm sản lượng, tuy nhiên niên vụ 2018/19 vẫn được ghi nhận là năm có sản lượng lớn thứ hai sau vụ mùa 2017/18. Xuất khẩu của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm giảm 3,9% xuống còn 21,1 triệu bao.

Colombia: Sản lượng từ Colombia ước tính đạt 13,95 triệu bao trong năm 2018/19, cao hơn 1% so với năm ngoái. Theo Liên đoàn những người trồng cà phê Colombia, sản lượng từ tháng 10/2018 đến tháng 6/2019 đạt 10,34 triệu bao, thấp hơn 1,1% so với cùng kỳ năm 2017/18. Tuy nhiên, xuất khẩu từ Colombia trong 9 tháng đầu niên vụ 2018/19 lên tới 10,17 triệu bao, tăng 7% so với năm ngoái. Các lô hàng xuất khẩu cà phê hòa tan đã tăng trưởng đều đặn trong những năm gần đây. Trong niên vụ 2015/16, xuất khẩu cà phê hòa tan chiếm khoảng 5% tổng xuất khẩu, trong khi năm 2018/19, chúng chiếm khoảng 6%. Nhập khẩu của Colombia trong nửa đầu niên vụ 2018/19 tăng lên 865.024 bao từ mức 288.115 bao vào cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu cà phê xanh chiếm 95,8% tổng lượng nhập khẩu.

Indonesia: Sản lượng của Indonesia giảm 5,6% xuống còn 10,2 triệu bao trong vụ mùa đã được kết thúc vào tháng 3/2019. Các lô hàng trong niên vụ 2018/19 đã giảm 33,7% xuống còn 5,15 triệu bao. Ngoài sự sụt giảm sản lượng, tiêu thụ tăng đều đặn đã làm giảm lượng cà phê có sẵn cho việc xuất khẩu. Khoảng 75% lượng xuất khẩu cà phê xanh của Indonesia là lô hàng Robusta xanh, đạt 2,06 triệu bao trong 9 tháng đầu của niên vụ, giảm so với mức 2,44 triệu bao vào năm ngoái. Tỷ lệ cà phê hòa tan trong tổng lượng xuất khẩu đã tăng từ 5,9% trong năm 2010/11 lên 20,7% trong năm 2018/19 với lượng lên tới 749.372 bao.

Ethiopia: Sản lượng tại Ethiopia ước tính khoảng 7,5 triệu bao, cao hơn 0,6% so với vụ mùa 2017/18. Ethiopia là nhà sản xuất lớn thứ 5 trên thế giới, ngoài ra đây là nhà xuất khẩu lớn thứ 9 với tỷ lệ tiêu thụ nội địa cao. Trong năm 2018/19, mức tiêu thụ của Ethiopia ước tính là 3,8 triệu bao, chiếm 50,7% sản lượng dự kiến. Xuất khẩu trong 9 tháng đầu niên vụ 2018/19 đạt 2,47 triệu bao, giảm so với mức 2,65 triệu bao trong niên vụ 2017/18.

 

3. Tồn kho

Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ (Green Coffee Association of the USA), lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 7/2019 xu hướng tăng lên mức 7,1 triệu bao so với mức 6,82 triệu bao cùng kỳ tháng trước.

 

Biểu 1: Biểu đồ lượng tồn kho cà phê của Hoa Kỳ theo tháng (2017-2019) – triệu bao 60kg

Nguồn: Agromonitor tổng hợp từ số liệu của Green Coffee Association

 

Tồn kho cà phê theo ICE tại một số cảng của Hoa Kỳ

Tồn kho đạt chuẩn Arabica Ice New York tính đến ngày 6/8/2019 tại các cảng của Mỹ và một số nước ở mức 2353 (-17) ngàn bao (60 kg/bao).

Tồn kho cà phê tại một số cảng đến ngày 6/8/2019, bao (1bao = 60kg)

 

ANTWERP

BARCELONA

HAMBURG / BREMEN

HOUSTON

MIAMI

NEW ORLEANS

NEW YORK

VIRGINIA

Total

Brazil

0

0

0

0

0

0

2

0

3

Burundi

32

0

10

0

0

0

3

0

45

Colombia

1

0

0

0

1

1

0

3

5

El Salvador

3

0

0

3

1

0

19

0

26

Guatemala

3

0

10

0

0

4

2

0

19

Honduras

1,288

0

164

58

0

0

35

12

1,556

India

25

0

4

0

0

0

0

0

30

Mexico

188

0

3

30

0

0

15

0

236

Nicaragua

27

0

34

0

24

1

28

0

114

Papua New Guinea

0

0

5

0

0

0

0

0

5

Peru

138

0

36

28

0

0

36

2

240

Rwanda

43

0

3

0

0

0

0

0

45

Uganda

13

0

13

0

0

0

1

1

28

Total in Bags

1,762

0

281

119

25

6

142

17

2,353

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ ICE

 

4. Diễn biến giá cà phê quốc tế trong tháng 7/2019

 

Biểu 2: Diễn biến giá cà phê Arabica và Robusta kỳ hạn trên sàn London và New York (cập nhật 6/8/2019)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

4.1. Robusta

Trên sàn ICE Futures Europe, giá Robusta quốc tế trong tháng 7 bắt đầu bước sang kỳ hạn mới, kỳ hạn tháng 9/2019 và có xu hướng giảm liên tiếp qua các tuần. Đầu tháng 7, giá kỳ hạn tháng 9/2019 ở mức 1421 USD/tấn, kỳ hạn tháng 11/2019 ở mức 1474 USD/tấn. Tính đến cuối tháng 7, 2 mức giá này lần lượt là 1338 và 1367 USD/tấn.

 

Bảng 3: Diễn biến giá Robusta quốc tế theo tuần trong tháng 7/2019

Kỳ hạn/Tuần

Tuần 3/7-9/7

Tuần 10/7-16/7

Tuần 17/7-23/7

Tuần 24/7-30/7

Tháng 9/2019

1447

1423

1406

1357

Tháng 11/2019

1477

1453

1436

1386

Tháng 1/2020

1501

1480

1462

1413

Tháng 3/2020

1526

1505

1488

1440

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

4.2. Arabica

Tháng 7/2019, diễn biến giá cà phê Arabica cũng tương tự với xu hướng giá cà phê Robusta khi chuyển giao sang kỳ hạn mới, kỳ hạn tháng 9/2019 và giữa các tuần đều có sự giảm nhẹ. Cụ thể, vào ngày đầu tiên của tháng, giá kỳ hạn 9/2019 và 12/2019 lần lượt ở mức 108.25 và 111.35 cent/lb; đến ngày cuối tháng 7, mức giá 2 kỳ hạn này lần lượt là 99.65 và 103.30 cent/lb.

 

Bảng 4: Diễn biến giá Arabica quốc tế theo tuần trong tháng 7/2019

Kỳ hạn/Tuần

Tuần 3/7-9/7

Tuần 10/7-16/7

Tuần 17/7-23/7

Tuần 24/7-30/7

Tháng 9/2019

110.45

107.09

106.14

100.41

Tháng 12/2019

114.20

110.87

109.98

104.06

Tháng 3/2020

117.74

114.49

113.66

107.17

Tháng 5/2020

119.90

116.82

115.95

110.11

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

Xuất khẩu cà phê giảm hơn 21% về giá trị so với cùng kỳ

6 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 851.700 tấn, trị giá 1,454 tỷ USD, giảm 11,2% về lượng và giảm 21,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu bình quân cà phê trong nửa đầu tháng 6 đạt mức 1.662 USD/tấn, giảm 13,2% so với nửa đầu tháng 6/2018. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 6, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.708 USD/ tấn, giảm 11,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Các nguồn cung ở những thị trường lớn đang khá dồi dào trong khi nhu cầu thị trường ở mức thấp do khiến giá cà phê giảm mạnh. Trên thị trường, người mua đang tìm kiếm những loại cà phê có chất lượng cao hơn, nhất là các loại cà phê đặc sản. Theo Cục Xuất nhập khẩu, đây cũng là xu hướng tiêu dùng hiện đại buộc các nước sản xuất cà phê phải nâng cao công nghệ chế biến sau thu hoạch.

Link: https://vtv.vn/tieu-dung/xuat-khau-ca-phe-giam-hon-21-ve-gia-tri-so-voi-cung-ky-20190701105822281.htm

 

Sản xuất cà phê ở Trung Mỹ có thể được thay thế bằng cacao

Một nghiên cứu mới gợi ý một nửa các đồn điền cà phê ở Trung Mỹ bị ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu có thể được thay thế bằng việc trồng ca cao trong tương lai.

"Điều này mở ra cơ hội để thích ứng với biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu", ông Kaue de Sousa, chuyên gia nghiên cứu viên và tác giả hàng đầu của cuộc nghiên cứu, cho biết.

Các chuyên gia nghiên cứu cho biết sản lượng cà phê, đặc biệt là cà phê arabica, có thể sẽ giảm khi hiện tượng nóng lên toàn cầu gia tăng và thời tiết khắc nghiệt làm giảm điều kiện địa lí ở những khu vực cà phê phát triển tốt nhất.  Điều này cũng làm tăng dịch bệnh cho cây với bệnh rỉ sắt trên lá cà phê ảnh hưởng đến 70% trang trại cà phê ở Trung Mỹ trong năm 2017. Trong khi, tương lai của cây cacao có vẻ khả quan hơn.

Trong khi nghiên cứu xác định cây cacao ít bị ảnh hưởng hơn bởi sự nóng lên toàn cầu so với cà phê, các nhà nghiên cứu tin rằng nông dân có thể điều chỉnh sản xuất nông lâm kết hợp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Link: https://vietnambiz.vn/san-xuat-ca-phe-o-trung-my-co-the-duoc-thay-the-bang-cacao-20190630003423446.htm   

 

Xuất khẩu cà phê của Brazil sang Trung Quốc tăng mạnh

Hiệp hội Các nhà Xuất khẩu Cà phê Brazil (Cecafé) cho biết xuất khẩu cà phê của quốc gia Nam Mỹ này sang thị trường Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm 2019 đã tăng mạnh 23,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 88.179 bao cà phê (1bao= 60 kg).

Chủ tịch Cecafé, ông Nelson Carvalhaes, đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của người tiêu dùng trẻ ở châu Á cũng như mong muốn của Brazil tăng cường xuất khẩu cà phê vào thị trường Trung Quốc.

Ông Carvalhaes cũng đề cập đến sự phát triển nhanh chóng của các chuỗi cửa hàng cà phê như Luckin Coffee và Starbucks tại các thành phố của Trung Quốc và sức hấp dẫn của chúng đối với giới trẻ Trung Quốc.

Để khai thác cơ hội tiềm năng ở Trung Quốc, ông Carvalhaes nói rằng các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của Brazil đều mong muốn phát triển các thị trường ở Trung Quốc, đối tác thương mại chủ chốt của quốc gia Nam Mỹ này.

Link: https://bnews.vn/xuat-khau-ca-phe-cua-brazil-sang-trung-quoc-tang-manh/128067.html

 

Liên đoàn người trồng cà phê Colombia dự kiến nâng giá lên 2 USD/pound

Hôm đầu tháng 7, Colombia, nước trồng cà phê arabica hàng đầu thế giới, dự kiến nâng giá cà phê quốc tế lên 2 USD/pound để các nhà sản xuất có thể đảm bảo thu nhập cho nông dân, ngăn họ từ bỏ ngành này.

Các nhà sản xuất cà phê Colombia đã phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong những tháng gần đây do giá cà phê quốc tế xuống thấp, khiến chính phủ phải chi tới 79,5 triệu USD để trợ cấp, xóa nợ cho nông dân và đổi mới các đồn điền cà phê.

Trong 18 tháng qua, Colombia đã mất 400.000 ha đất trồng cà phê, tương đương 1/3 diện tích đất canh tác do nông dân từ bỏ ngành này vì giá thấp, Liên đoàn người trồng cà phê Colombia FNCC cho biết. Colombia hiện có 880.000 ha đồn điền cà phê, trong đó có khoảng 540.000 ha thuộc các hộ gia đình.

FNCC dự kiến sẽ thu hoạch được 14 triệu bao 60 kg trong năm nay, tăng nhẹ so với 13,6 triệu bao của năm ngoái do việc cải tạo rừng trồng và cung cấp phân bón đã làm tăng năng suất.

Link: https://vietnambiz.vn/lien-doan-nguoi-trong-ca-phe-colombia-du-kien-nang-gia-len-2-usd-pound-20190707172022484.htm     

 

Sản lượng cà phê Ấn Độ niên vụ 2018 - 2019 dự báo đạt dưới 300.000 tấn

Sản lượng cà phê của Ấn Độ trong niên vụ 2018 - 2019 đạt thấp hơn 300.000 tấn trong khi ước tính của Hội đồng Cà phê Ấn Độ (Coffee Board) là 319.000 tấn, theo Hiệp hội các nhà sản xuất miền Nam Ấn Độ (UPASI) và Hiệp hội trồng trọt bang Karnataka (KPA).

Phó chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất miền Nam Ấn Độ (UPASI) A.L.R.M. Nagappan cho biết sản xuất đã giảm mạnh trong năm nay do rất nhiều nguyên nhân gồm cả lũ lụt, lượng mưa không đủ, tình hình lao động kém, chi phí sản xuất tăng và giá cà phê giảm trên thị trường quốc tế.

Link: https://vietnambiz.vn/san-luong-ca-phe-an-do-nien-vu-2018-2019-du-bao-dat-duoi-300000-tan-20190703124736492.htm

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. Thương mại

Xuất khẩu cà phê tháng 7/2019 đạt 140,4 ngàn tấn với kim ngạch 241 triệu USD (giảm 1,4% về lượng, tuy nhiên lại lại tăng 1,2% về kim ngạch so với tháng trước đó). Tính chung 7 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu đạt 1,06 triệu tấn và kim ngạch đạt 1.818 triệu USD (giảm 9,6% về lượng và 19,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước).

 

Biểu 3: Biểu đồ Lượng và Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam theo tháng (từ 1/2017 – 7/2019)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp theo số liệu Hải quan

 

Các doanh nghiệp xuất khẩu

Trong tháng 6/2019, Tập đoàn Intimex và Mascopex vẫn tiếp tục là 2 doanh nghiệp hàng đầu trong việc xuất khẩu cà phê với lượng tương đương là 14 ngàn tấn và 11 ngàn tấn. Quay trở lại với vị trí thứ 3 là 2-9 Đắk Lắk khi doanh nghiệp này bất ngờ trượt ra khỏi top 5 trong tháng trước đó, đẩy Intimex Mỹ Phước và TCT Vinacafe lùi xuống vị trí thứ 4 và thứ 5 với việc xuất khẩu lần lượt 8,9 và 7,4 ngàn tấn cà phê.

Trong top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam trong tháng 6/2019 còn có thể kể đến như: Atlantic Việt Nam, Neumann Gruppe, Olam Việt Nam, Tín Nghĩa và Phúc Sinh.

 

Top 20 Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê từ Việt Nam tháng 5/2019 theo lượng (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

Thị trường nhập khẩu:

Trong tháng 6/2019, Đức tiếp tục là thị trường tiêu thụ cà phê nhiều nhất của Việt Nam với việc nhập khẩu 25 ngàn tấn, tăng nhẹ so với tháng trước. Kế tiếp là Ý và Tây Ban Nha vươn lên giữ vị trí thứ 2 và thứ 3 khi nhập khẩu lần lượt 11,7 và 10,9 ngàn tấn, đầy Mỹ từ vị trí thứ 2 của tháng trước lùi 2 bậc trong tháng này với lượng nhập khẩu 9,9 ngàn tấn.

Đứng ở vị trí thứ 5 vẫn là Nhật. Tuy nhiên trong tháng 6, lượng nhập khẩu của nước này đã có sự tăng nhẹ so với tháng trước khi nhập khẩu 8,4 ngàn tấn cà phê từ Việt Nam

Bên cạnh đó còn có thể kể đến các nước như Liên bang Nga, Algeria, Thái Lan, Malaysia... cũng là một trong những nước góp phần tiêu thụ một lượng lớn cà phê của Việt Nam.

 

Top 20 Thị trường nhập khẩu cà phê từ Việt Nam tháng 6/2019 theo lượng (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tính theo số liệu Hải quan

 

2. Diễn biến giá và thị trường cà phê nội địa

Trong tháng 7/2019, thị trường cà phê trong nước vẫn tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ. Cụ thể, giá cà phê Robusta nhân xô tại tỉnh Đắk Lắk vào đầu tháng ở mức 34,200 đồng/kg, tuy nhiên về cuối tháng, giá giảm xuống còn 33,500 đồng/kg tại kho người nông dân.

 

Bảng 5: Diễn biến giá Robusta nội địa theo tuần trong tháng 6/2019 (đồng/kg)

Tỉnh/Tuần

Tuần 27/6-3/7

Tuần 4/7-10/7

Tuần 11/7-17/7

Tuần 18/7-24/7

Tuần 25/7-31/7

Đắc Lắc

34,220

34,360

34,020

34,060

33,540

Lâm Đồng

32,920

33,040

33,040

33,020

32,560

Gia Lai

34,020

34,180

33,840

33,840

33,340

Đắc Nông

33,920

34,100

33,800

33,820

33,340

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

Biểu 4: Biểu đồ giá cà phê vối nhân xô các địa phương theo tuần (cập nhật 6/8/2019)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

Đắk Lắk: Nhiều diện tích cà phê tái canh không thành công

Vườn cà phê giảm năng suất, người dân tái canh cà phê được 2-3 năm thì nhiều diện tích cà phê trên địa bàn huyện Krông Búk bị sâu bệnh hại tấn công gây vàng lá, thối rễ, chết cây.

Tổng diện tích tự nhiên trên địa bàn huyện Krông Búk hơn 35.000 ha, trong đó có khoảng 20.000 ha cà phê trồng từ trước năm 2000. Hiện diện tích cà phê già cỗi cần tái canh chiếm 50% (khoảng 10.000 ha). Do điều kiện kinh tế khó khăn, giá cà phê liên tục giảm nên người dân không tái canh đồng loạt mà chia thành nhiều đợt đồng thời trồng xen thêm các loại cây ăn quả khác. Đến thời điểm này, toàn huyện mới tái canh được khoảng 1.000 ha, nhưng có tới 20% (200 ha) diện tích tái canh không thành công do sâu bệnh hại tấn công, anh Bùi Đình Hiếu thông tin thêm.

Link: http://baodansinh.vn/dak-lak-nhieu-dien-tich-ca-phe-tai-canh-khong-thanh-cong-d101110.html  

 

Cơ hội xuất khẩu chè, cà phê vào thị trường Áo

Đại sứ quán Việt Nam tại Áo sẽ tổ chức gian hang Việt Nam tại Hội chợ quốc tế Agra của Slovenia từ ngày 24 - 29/8 và Hội chợ quốc tế Rieder Messe từ ngày 4 - 8/9 tới nhằm quảng bá các sản phẩm chè, cà phê và gia vị.

Thương vụ Việt Nam tại Áo (Bộ Công thương) cho biết, Hội chợ quốc tế Agra của Slovenia và Hội chợ quốc tế Rieder Messe là hai hội chợ nông nghiệp thường niên lớn nhất tại Áo và Slovenia, thu hút rất nhiều các hợp tác xã, doanh nghiệp, khách sở tại và quốc tế đến tham dự.

Đồng thời, bên lề hội chợ, thương vụ sẽ hỗ trợ tổ chức các buổi làm việc giữa doanh nghiệp Việt Nam và các nhà nhập khẩu, phân phối và sản xuất tương ứng của Áo và Slovenia nhằm tạo cơ hội tiếp xúc, trao đổi về cơ hội hợp tác cụ thể và tìm hiểu về thị trường, thị hiếu sở tại.

Link: http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2019-07-13/co-hoi-xuat-khau-che-ca-phe-vao-thi-truong-ao-73852.aspx

 

Nguy cơ bùng phát bọ cánh cứng gây hại trên cây cà phê ở Kon Tum

Đến hẹn lại lên, cứ bắt đầu bước vào mùa mưa, người trồng cà phê ở Kon Tum lại phải “chong đèn” canh bọ canh cứng xuất hiện phá cây cà phê, nhất là những diện tích cây cà phê thời kỳ tái canh. Nhiều biện pháp phòng trừ loại bọ này đã được triển khai, nhưng theo đánh giá của người trồng cà phê hiện vẫn chưa có giải pháp nào xử lý triệt để nên nguy cơ bùng phát bọ cánh cứng trở lại vẫn tiềm ẩn lớn.

Mới chỉ bước vào đầu mùa mưa năm 2019, tại một số vườn cà phê của Công ty TNHH MTV Cà phê 709 đã xuất hiện bọ cánh cứng. Dù chưa nở rộ như năm 2018, nhưng với sự xuất hiện rải rác ở các vườn cây cà phê cũng khiến người dân lo lắng.

Niên vụ cà phê năm 2018, Công ty TNHH MTV Cà phê 704 bị thiệt hại hơn 3,5 tỷ đồng do dịch bọ cánh cứng tàn phá. Diện tích bị ảnh hưởng chủ yếu đang trong giai đoạn tái canh năm thứ 1, thứ 2. Đặc biệt, có 7,5 ha cà phê vừa tái canh đã bị dịch bọ cánh cứng tàn phá, không còn khả năng phục hồi. Lo ngại bọ cánh cứng bùng phát, làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng mùa vụ cà phê 2019, công tác phòng chống dịch đang được phía công ty tích cực triển khai.

Link: https://dantocmiennui.vn/kinh-nghiem-lam-an/nguy-co-bung-phat-bo-canh-cung-gay-hai-tren-cay-ca-phe-o-kon-tum/234269.html 

 

PHỤ LỤC SỐ LIỆU XUẤT KHẨU VIỆT NAM

Bảng 6:  Lượng và Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam theo tháng, từ 1/2017-7/2019

Tháng

2017

2018

2019

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

1

140

317

201

392

184

324

2

146

332

130

251

115

200

3

168

230

200

387

172

299

4

135

306

156

298

143

243

5

122

274

150

294

146

238

6

122

276

156

297

142

238

7

101

236

133

250

140

241

8

95

222

153

282

 

 

9

80

187

121

212

 

 

10

79

185

138

251

 

 

11

101

217

138

258

 

 

12

158

318

154

276

 

 

Lũy kế 12 tháng

1,447

3,100

1,830

3,448

 

 

Lũy kế 7 tháng

934

1,971

1,126

2,169

1,059

1,810

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Bảng 7: Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 6/2019

Doanh nghiệp

Lượng ( ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

14.0

19.9

Mascopex

11.1

16.6

2-9 Đắk Lắk

9.1

13.8

Intimex Mỹ Phước

8.9

12.9

TCT Vinacafe

7.4

10.6

Atlantic Việt Nam

6.2

9.2

Neumann Gruppe

6.0

8.7

Olam Việt Nam

5.6

8.7

Tín Nghĩa

5.2

7.5

Phúc Sinh

4.4

6.7

Doanh nghiệp khác

57.2

103.0

Tổng

135.1

217.5

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Bảng 8: Top 10 doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2019

Doanh nghiệp

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Tập đoàn Intimex

87.5

128.8

2-9 Đắk Lắk

54.8

85.0

Intimex Mỹ Phước

45.6

67.7

Mascopex

44.5

66.5

Atlantic Việt Nam

41.7

67.1

Olam Việt Nam

38.0

63.4

Neumann Gruppe

34.2

53.0

Phúc Sinh

33.7

53.6

Vĩnh Hiệp

31.4

46.8

Tín Nghĩa

28.6

41.5

Doanh nghiệp khác

405.2

710.7

Tổng

845.4

1,384.1

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Bảng 11: Top 10 thị trường nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 6/2019

Thị trường

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Germany

24.9

37.3

Italy

11.7

18.2

Spain

10.9

16.6

United States of America

9.9

15.0

Japan

8.4

13.7

Russian Federation

7.4

13.7

Algeria

6.4

10.2

Thailand

5.7

8.5

Malaysia

5.2

8.1

United Kingdom

4.2

6.3

Thị trường khác

40.5

70.0

Tổng

135.1

217.5

Nguồn: Số liệu Hải quan

 

Bảng 12: Top 10 thị trường nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường

Lượng (ngàn tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Germany

131.6

199.7

United States of America

85.5

137.5

Italy

80.4

128.9

Spain

67.2

107.0

Japan

47.1

79.5

Russian Federation

45.1

82.0

Belgium

39.2

62.1

Algeria

36.6

59.0

Viet Nam

32.0

48.4

United Kingdom

27.6

43.6

Thị trường khác

253.2

436.6

Tổng

845.4

1,384.1

Nguồn: Số liệu Hải quan