Cà phê 11/2018 – Giá cà phê Arabica và Robusta quốc tế có chung diễn biến giảm giá mạnh

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cà phê 11/2018 – Giá cà phê Arabica và Robusta quốc tế có chung diễn biến giảm giá mạnh

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 11/2018

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

- Theo báo cáo tháng 10 của ICO, tổng sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017/18 ước tính đạt 163,51 triệu bao (tăng thêm 4,8% so với niên vụ trước). Trong số này, sản lượng cà phê Arabica toàn cầu đạt 101,23 triệu bao và cà phê Robusta đạt 62,28 triệu bao 60 kg

- Theo báo cáo mới nhất được công bố của ICO, tiêu thụ cà phê thế giới được ước tính tăng hơn 1,8% trong năm cà phê 2017/18 với 162,23 triệu bao. Còn theo USDA dự báo tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2017/18 đạt 158,7 triệu bao, tăng 1,02% so với niên vụ trước

- Theo báo cáo tháng 10/2018 của ICO, tổng xuất khẩu cà phê Arabica nhân xô toàn cầu đạt 70,95 triệu bao và cà phê Robusta nhân xô đạt 39,24 triệu bao 60 kg – mức tăng mạnh mẽ trong niên vụ cà phê 2017/18.

- Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 10/2018 xu hướng GIẢM MẠNH TIẾP thêm 261 ngàn bao xuống chỉ còn 6,18 triệu bao.

- Giá cà phê Arabica và Robusta quốc tế có chung diễn biến GIẢM GIÁ MẠNH trong tháng 11 và chưa có dấu hiệu phục hồi khi bước vào tháng 12.

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

- Mức giá cà phê Robusta nội địa và cụ thể là tại Đắk Lắk GIẢM MẠNH liên tiếp trong bối cảnh thu hoạch rộ tại các tỉnh Tây Nguyên

- Tiến độ thu hoạch: Thương lái vùng Tây Nguyên ước tính thu hoạch được khoảng 60% vụ cà phê năm nay, khoảng 2 tuần nữa có thể kết thúc vụ thu hoạch

- Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê luỹ kế từ đầu năm 2018 đến nay xuất khẩu đạt 1,72 triệu tấn và kim ngạch đạt 3,26 tỷ USD (tăng 22,8% về lượng và 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước)

Top các doanh nghiệp xuất khẩu (3 tháng 8-9-10/2018 so với 3 tháng trước đó)

+ Tăng trưởng mạnh nhất về lượng: Intimex Bảo Lộc, Vinacafe Đà Lạt, Agrexprt Việt Nam,

Comercial Exportadora Việt Nam,…

+ Sụt giảm mạnh nhất về lượng: COFCO Việt Nam, Minh Huy, Tổng công ty Vinacafe, Cát Quế, ….

 

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

1. Nguồn cung cà phê thế giới

Theo báo cáo tháng 10 của ICO, tổng sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2017/18 ước tính đạt 163,51 triệu bao (tăng thêm 4,8% so với niên vụ trước) và nhiều hơn tương đối so với con số do USDA ước tính cho niên vụ này là 159,8 triệu bao. Trong số này, sản lượng cà phê Arabica toàn cầu đạt 101,23 triệu bao và cà phê Robusta đạt 62,28 triệu bao 60 kg, con số tăng tương ứng 1,7% và 10,5%, so với niên vụ trước.

Dựa trên những dữ liệu về hiệu suất canh tác cà phê, so sánh vụ mùa 2017/18 với vụ trước đó thì sản lượng cà phê tại bốn khu vực sản xuất cà phê lớn trên thế giới đều đang gia tăng. Gồm khu vực sản xuất cà phê lớn nhất - Nam Mỹ - có sản lượng tăng 3,3% so với năm trước lên 76,98 triệu bao. Tiếp theo là các nước thuộc khu vực Châu Á và Châu Đại Dương có sản lượng ước tính 47,95 triệu bao và tăng trưởng 8,3%. Ở khu vực lớn thứ ba - Mexico và Trung Mỹ - sản lượng đạt 21,34 triệu bao với mức tăng 4,3%. Cuối cùng là các nước châu Phi với mức tăng 3,4% so với năm ngoái và đạt khối lượng tương đương 17,25 triệu bao 60kg.

 

Dự báo sản lượng một số nước sản xuất lớn niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao 60kg)

Tên nước

2013/14

2014/15

2015/16

2016/17

2017/18

Brazil

57,200

54,300

49,400

56,100

50,900

Vietnam

29,833

27,400

28,930

26,700

29,300

Colombia

12,075

13,300

14,000

14,600

14,400

Indonesia

11,900

10,470

12,100

10,600

10,600

Honduras

4,400

5,100

5,300

7,510

7,500

Ethiopia

6,345

6,475

6,510

6,943

7,055

India

5,075

5,440

5,800

5,200

5,420

Nguồn: USDA

 

Tổng kết thống kê về sản lượng niên vụ 2017/18 vừa qua của các nước Trung Mỹ:

CoffeeNetwork (New York) – Niên vụ 2017/18 (bắt đầu từ 10/2017 đến 9/2018) đã kết thúc đối với khu vực Trung Mỹ và Colombia, các địa phương này đang tập trung chuyển sang vụ mùa mới 2018/19. Dưới đây là các ước tính về sản lượng cho các nước sản xuất cà phê chính trong khu vực (Đơn vị: bao 60kg).

Colombia - Sản lượng ước đạt là 13,8 triệu bao - giảm so với 14,9 bao được sản xuất trong niên vụ 2017/18. Sự sụt giảm phần lớn là do mưa lớn trong nửa đầu năm 2018, làm giảm sản lượng trong vụ thu hoạch chính. (Nguồn: FNC)

Costa Rica - Sản lượng đạt 1,36 triệu bao, giảm so với mức 1,51 bao được sản xuất trong niên vụ trước do chu kỳ 6 tháng dẫn đến sản lượng thấp hơn ở khu vực Trung và Tây Trung Bộ của nước này. Trong tháng 3/2018, một dịch bệnh mới đã bùng phát ảnh hưởng đến khoảng 12 ngàn ha cà phê. (Nguồn: Icafe)

El Salvador - Sản xuất được 600 ngàn bao cà phê trong niên vụ năm nay - tăng 4,3% từ con số 575 ngàn bao trong niên vụ năm ngoái. Đất nước này vẫn đang trong quá trình phục hồi sau sự tàn phá của dịch Roya trong giai đoạn 2013-2014 đã gây thiệt hại 65% lượng cây cà phê của quốc gia này. (Nguồn: USDA)

Guatemala- Sản lượng cà phê niên vụ 2018/19 đạt 3,45 triệu bao - tăng nhẹ từ mức 3,44 ngàn bao được sản xuất trong niên vụ 2017/18. Trong đó đáng kể đến việc 13,8 ngàn bao đã bị thiệt hại trong vụ phun trào của núi lửa Fuego vào tháng 6 năm 2018. (Nguồn: Anacafe)

Honduras - Sản lượng ước đạt 8,89 triệu bao - tăng so với mức 7,74 triệu bao niên vụ trước. Vào tháng 4/2018, các nghiên cứu đã xác định được bốn dòng Roya mới, gây ra tăng chi phí sản xuất. (Nguồn: IHCafe)

Mexico - Sản lượng ước đạt 4,5 triệu bao - tăng 18,4% so với 3,8 triệu bao niên vụ 2017/18. Diện tích trồng mới dự kiến ​​sẽ sản xuất nhiều cà phê hơn và từ năm 2016 các chính sách của chính phủ tài trợ giúp cải tạo các nông trại cũ sau khi dịch cúm gia cầm bùng phát. (Nguồn: USDA)

Nicaragua - Sản lượng đạt 1,69 triệu bao, giảm 25% so với niên vụ 2017/18. Sản xuất bị ảnh hưởng tiêu cực do thiếu mưa trong giai đoạn cây cà phê phát triển và lại mưa quá nhiều trong vụ thu hoạch. Tình trạng thiếu lao động, bất ổn chính trị và giá cà phê thấp cũng tác động mạnh đến ngành cà phê. (Nguồn: EXCAN)

Trước đó Conab đã ước tính sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 của Brazil ở mức 59,5 triệu bao – 1 mức sản lượng kỷ lục của quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới này.

 

2. Tiêu thụ

Theo báo cáo mới nhất được công bố của ICO, tiêu thụ cà phê thế giới được ước tính tăng hơn 1,8% trong năm cà phê 2017/18 với 162,23 triệu bao, như vậy sản lượng cà phê thặng dự trong niên vụ năm nay khoảng 2,58 triệu bao. Thặng dư này đã góp phần làm mức giá duy trì ở mức thấp trong vụ mùa năm nay.

Còn theo USDA dự báo tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2017/18 đạt 158,7 triệu bao, tăng 1,02% so với niên vụ trước. Trong đó, 5 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất vẫn là Liên minh châu Âu, Mỹ, Brazil, Nhật Bản và Philippines.

 

Tỷ trọng tiêu thụ cà phê của các thị trường chính trên thế giới niên vụ 2017/18

Nguồn: USDA

 

3. Thương mại

Theo báo cáo tháng 10/2018 của ICO, tổng xuất khẩu cà phê Arabica nhân xô toàn cầu đạt 70,95 triệu bao và cà phê Robusta nhân xô đạt 39,24 triệu bao 60 kg – mức tăng mạnh mẽ trong niên vụ cà phê 2017/18. Và hơn thế nữa, riêng trong tháng 9/2018, xuất khẩu cà phê thế giới đạt tổng cộng 9,43 triệu bao 60kg, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo số liệu ICO cho niên vụ cà phê 2017/18, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 2% đạt 121,86 triệu USD so với 119,52 triệu bao 60kg trong niên vụ 2016/17. Trong tháng 9/2018, Brazil và Colombia chiếm 60,4% tổng xuất khẩu Arabica nhân xô và Việt Nam chiếm 60% tổng xuất khẩu Robusta nhân xô.

Cụ thể, trong niên vụ 2017/18: Brazil xuất khẩu 32,34 triệu bao, tăng 9,8% so với niên vụ 2016/17. Việt Nam xuất khẩu tăng 21,7% so với mức 28,64 triệu bao vụ trước đó. Trong khi đó, xuất khẩu của Colombia giảm 5,7% và chỉ đạt 12,72 triệu bao trong niên vụ năm nay. Tại Honduras, sau khi đạt mức kỷ lục 7,29 triệu bao trong năm ngoái, xuất khẩu trong năm nay đã giảm xuống còn 7,14 triệu bao. Và Ấn Độ, nước xuất khẩu cà phê lớn thứ năm đã giảm xuất khẩu khoảng 1,4% so với niên vụ trước chỉ đạt 6,28 triệu bao.

Ở các nước sản xuất yếu hơn, doanh số xuất khẩu của Indonesia giảm nhiều nhất, khi họ giảm từ 8,72 triệu bao trong niên vụ 2016/17 xuống chỉ còn 5,64 triệu trong vụ thu hoạch năm nay. Tại Uganda, xuất khẩu cũng giảm xuồng còn 4,36 triệu bao (sau một năm kỷ lục khi nước này đạt 4,61 triệu trong năm 2016/17). Đối với Peru, doanh số xuất khẩu vẫn ổn định với 3,96 triệu bao. Ngược lại, xuất khẩu từ Ethiopia và Guatemala tăng lần lượt 4,5% và 5,4%, lên 3,65 triệu và 3,47 triệu bao.

 

Dự báo xuất khẩu niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao)

Tên nước

2014

2015

2016

2017

2018

Brazil

34,146

36,573

35,543

33,081

30,222

Vietnam

28,289

21,530

29,500

27,550

27,650

Colombia

11,040

12,420

12,390

13,755

13,015

Indonesia

10,380

8,720

9,896

8,174

7,970

Honduras

3,940

4,760

5,000

7,290

7,100

India

5,013

4,894

5,693

6,158

6,225

Uganda

3,600

3,400

3,500

4,600

4,500

Nguồn: USDA

 

Dự báo nhập khẩu niên vụ 2017/18 của USDA tháng 06/2018 (ngàn bao)

Tên nước

2014

2015

2016

2017

2018

European Union

44,650

45,140

46,150

46,050

47,000

United States

24,915

23,995

25,185

26,485

25,275

Japan

7,870

8,110

8,195

8,040

8,280

Philippines

3,145

3,755

6,185

6,420

5,300

Russia

4,230

4,050

4,395

4,740

4,650

Canada

4,605

4,495

4,545

4,550

4,585

China

1,682

1,889

2,938

3,534

3,550

Nguồn: USDA

 

4. Tồn kho

Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ (Green Coffee Association of the USA), lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 10/2018 xu hướng GIẢM MẠNH TIẾP thêm 261 ngàn bao xuống chỉ còn 6,18 triệu bao.

 

Biểu đồ lượng tồn kho cà phê của Hoa Kỳ theo tháng (2017-2018) – triệu bao 60kg

Nguồn: Agromonitor tổng hợp từ số liệu của Green Coffee Association

 

Tồn kho cà phê theo ICE tại một số cảng của Hoa Kỳ

Tồn kho đạt chuẩn Arabica Ice New York tính đến ngày 5/12/2018 tại các cảng của Mỹ và một số nước tăng tiếp lên ở mức 2455 (+10) ngàn bao (60 kg/bao).

Tồn kho cà phê tại một số cảng đến ngày 5/12/2018, ngàn bao (1bao = 60kg)

 

ANTWERP

BARCELONA

HAMBURG / BREMEN

HOUSTON

MIAMI

NEW ORLEANS

NEW YORK

VIRGINIA

Total

Brazil

1.2

-

-

-

-

-

-

-

1.2

Burundi

44.7

-

27.7

-

-

-

3.8

-

76.1

Colombia

7.1

-

0.1

0.6

4.1

0.8

3.3

2.8

18.7

El Salvador

3.0

-

-

2.7

0.7

-

19.5

-

25.8

Guatemala

3.4

-

10.1

0.3

-

4.2

2.1

-

20.0

Honduras

1,154.1

-

130.2

67.6

-

1.0

41.4

13.3

1,407.6

India

36.4

-

4.2

-

-

-

-

-

40.6

Mexico

263.7

-

0.1

32.3

-

-

15.8

-

311.9

Nicaragua

61.1

-

35.7

0.8

24.5

1.7

42.8

-

166.5

Papua New Guinea

0.8

-

6.0

-

-

-

1.0

-

7.8

Peru

168.3

-

44.8

29.8

-

0.8

54.3

2.0

300.0

Rwanda

37.8

-

6.3

-

-

-

0.6

-

44.7

Uganda

16.3

0.3

13.7

-

-

-

2.9

0.9

34.0

Total in Bags

1,797.7

0.3

278.9

134.1

29.2

8.4

187.4

18.9

2,454.9

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ ICE

 

5. Diễn biến giá cà phê quốc tế trong tháng 11/2018

Diễn biến giá cà phê Arabica và Robusta kỳ hạn trên sàn London và New York (cập nhật 4/12/2018)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

 

5.1. Robusta

Trên sàn ICE Futures Europe, giá cà phê Robusta quốc tế trong tháng 11/2018 tiếp tục đà GIẢM MẠNH LIÊN TỤC trong cả tháng. Nguyên nhân được các thương nhân quốc tế đánh giá là sự bổ sung lượng lớn lượng cà phê vụ mới từ Việt Nam (đang thu hoạch rộ vụ) gây áp lực rất lớn với giá Robusta quốc tế.

Cụ thể, vào đầu tháng 11 mức giá kỳ hạn tháng 1/2019 là 1,712 USD/tấn; kỳ hạn tháng 3/2019 ở mức 1,724 (ngày đầu tiên của tháng). Tính đến ngày cuối tháng 11 2 mức giá này sụt xuống chỉ còn 1,580 (-132) và 1,599 (-125) USD/tấn – một mức giảm khủng khiếp trong vòng 1 tháng. Đầu tháng 12 giá Robusta chưa có dấu hiệu phục hồi trở lại khi tiếp tục giảm nhẹ xuống lần lượt là 1,556 và 1,581 vào ngày cuối cùng tuần 1 tháng 12.

 

Diễn biến giá Robusta quốc tế theo tuần trong tháng 11-12/2018

Kỳ hạn/Tuần

Tuần 31/10-6/11

Tuần 7/11-13/10

Tuần 14/11-20/11

Tuần 21/11-27/11

Tuần 28/11-4/12

Tháng 11/2018

1683

-

-

-

-

Tháng 1/2019

1695

1673

1647

1624

1585

Tháng 3/2019

1708

1683

1658

1629

1605

Tháng 5/2019

1723

1696

1672

1641

1619

Tháng 7/2019

-

1702

1684

1653

1633

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

5.2. Arabica

Cùng chung xu hướng với Robusta, giá cà phê Arabica LIÊN TỤC GIẢM MẠNH trong tháng 11, ngày đầu tháng giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2018 và 3/2019 lần lượt là 117.8 và 121.5 cent/lb. Đến ngày cuối cùng của tháng 11 giá 2 kỳ hạn này giảm mạnh xuống còn 103.25 (-14.55) và 107.55 (-13.95).

Theo hãng tin Coffee Network (Bogota) - Các xe tải ở Colombia đã bắt đầu đình công vào ngày 24/11 và tạm dừng tất cả các chuyến hàng cà phê đến các cảng chính với mục đích chính trị. Tại tỉnh Valle del Cauca - nơi xuất khẩu khoảng 60% cà phê Colombia, những người lái xe tải đã bắt đầu đình công vào hôm 23/11. Trước đây, vào năm ngoái cũng đã xảy ra một vụ đình công của các tài xế xe tải trong 21 ngày dẫn đến thiệt hại 300 tỷ peso Colombia (tương đương 120 triệu USD).

 

Diễn biến giá Arabica quốc tế theo tuần trong tháng 11-12/2018

Kỳ hạn/Tuần

Tuần 31/10-6/11

Tuần 7/11-13/10

Tuần 14/11-20/11

Tuần 21/11-27/11

Tuần 28/11-4/12

Tháng 12/2018

116.18

113.09

111.66

108.85

105.45

Tháng 3/2019

120.10

116.78

115.57

112.65

109.69

Tháng 5/2019

122.72

119.64

118.39

115.50

112.56

Tháng 7/2019

125.20

122.37

121.05

118.13

115.22

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

1. Nguồn cung cà phê trong nước

Việt Nam vẫn là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil. Theo ước tính của USDA, sản lượng cà phê niên vụ 2017/18 của Việt Nam sẽ đạt mức cao kỷ lục 29,9 triệu bao nhờ thời tiết mát mẻ hơn và mưa trái mùa hỗ trợ sinh trưởng cây cà phê chỉ ngay trước giai đoạn ra hoa kết quả. Trong khi đó, theo ước tính của ICO (báo cáo tháng 9/2018) thì sản lượng của Việt Nam ước đạt 29,5 triệu bao, tăng 15,5% so với năm ngoái.

Bloomberg 24/11 đưa tin sản lượng cà phê Việt Nam năm nay ước tính sụt giảm so với dự báo trước đó. Theo ông Lê Tiến Hưng - Tổng giám đốc Simexco Daklak thì sản lượng cà phê Việt Nam năm nay có thể sẽ không đạt được mức 30 triệu bao được dự báo trước đó sau khi người trồng ở một số vùng thu hoạch cà phê nhưng không có hạt bên trong. Ông Hưng sửa đổi dự báo của mình xuống chỉ còn 29,5-29,7 triệu bao 60kg. Bên cạnh đó tỉnh Gia Lai được nhắc đến là một trong các khu vực thu hoạch cà phê nhưng không có nhân bên trong (được biết tỉnh này thường chiếm 15% sản lượng cà phê của Việt Nam).

Bổ sung thêm: Trước đó vào tháng 10 Bloomberg đã dự báo sản lượng cà phê Việt Nam 2018/19 lên tới 1,83 triệu tấn (khoảng 30,5 triệu bao) trong điều kiện thời tiết bình thường. Tính đến ngày 21/11 vừa qua thì nông dân đã thu được khoảng 30% vụ mùa năm nay – mức tương tự so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, có thể việc thu hoạch đã bị chậm lại sau mưa và nông dân vùng sản xuất đang chuẩn bị cho một cơn bão dự kiến ​​đổ bộ vào đất liên ngày 23-24/11.

Nhưng sản lượng cà phê tại tỉnh Gia Lai của Tây Nguyên dự kiến lại tăng lên 225,4 ngàn tấn trong niên vụ 2018/19, cao hơn 2,4% so với ước tính trước đó. Nguyên nhân là do sự gia tăng diện tích sản xuất - theo ông Trần Xuân Khải, phó giám đốc sản xuất cây trồng và bảo vệ thực vật (thuộc sở nông nghiệp tỉnh Gia Lai). Được biết trước đó con số ước tính sản lượng 2018/19 của Gia Lai là 220 ngàn tấn so với 217,4 ngàn tấn vào năm trước. Ông Khải cũng cho biết diện tích sản xuất cà phê Gia Lai tăng thêm 4,410 ha lên 83,2 ngàn ha (Tổng diện tích cà phê của Việt Nam là 664 ngàn ha tính đến cuối năm 2017). Gia Lai đã thu hoạch được khoảng 70% vụ mùa năm nay – tính đến ngày 27/11 so với mức 75% cùng kỳ năm ngoái, dự kiến có thể hoàn tất việc thu hoạch tại tỉnh Gia Lai trong vòng 2 tuần tới. Năng suất có thể giảm xuống chỉ còn 2,71 tấn/ha từ mức cao kỷ lục 2,76 tấn vào năm ngoái vì tổn thất do các trận mưa kéo dài hồi tháng 7-9/2018

 

2. Tiêu thụ nội địa

Theo USDA, mức tiêu thụ cà phê nội địa của Việt Nam có thể đạt kỷ lục 2,88 triệu bao tương đương 173 ngàn tấn trong niên vụ 2017/18 (tháng 10/2017 đến 9/2018).

 

3. Thương mại

- Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê tháng 11/2018 đạt 138,1 ngàn tấn với kim ngạch 257 triệu USD (không đổi về lượng và tăng 2,5% về kim ngạch so với tháng trước). Luỹ kế từ đầu năm 2018 đến nay xuất khẩu đạt 1,72 triệu tấn và kim ngạch đạt 3,26 tỷ USD (tăng 22,8% về lượng và 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước)

 

Biểu đồ Lượng và Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam theo tháng (từ 1/2017 – 11/2018)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp theo số liệu Hải quan

 

4. Diễn biến giá và thị trường cà phê nội địa

Cũng chung diễn biến với giá Robusta quốc tế thì mức giá cà phê Robusta nội địa và cụ thể là tại Đắk Lắk trong tháng 11 xu hướng GIẢM MẠNH từ mức gần 36 ngàn đồng/kg vào đầu tháng xuống chỉ còn khoảng 35 ngàn đồng/kg vào cuối tháng.

Đầu tháng 12, tình hình diễn biến xấu hơn nữa khi mức giá này tụt xuống chỉ còn 34,1 ngàn đồng/kg sao khi kết thúc tuần 1 tháng 12. Thương lái và các đại lý địa phương cho biết nguồn cung từ Đắk Lắk và các tỉnh lân cận vẫn về đều có thể kéo dài trong vòng 2 tuần nữa mới hết vụ thu hoạch, thị trường có thể vẫn tiếp tục diễn biến không mấy sáng sủa.

Thời tiết: Nông dân Tây Nguyên cho biết thời tiết cuối tháng 11 và đầu tháng 12 có mây và mưa nhiều hơn, không còn nắng đẹp nhiều như trước đó khiến việc thu hoạch và sấy khô cà phê bị chậm hơn so với đầu vụ.

 

Diễn biến giá Robusta nội địa theo tuần trong tháng 11-12/2018

Kỳ hạn/Ngày

Tuần 1-7/11

Tuần 8-14/11

Tuần 15-21/11

Tuần 22-28/11

Tuần 29/11-5/12

Đắc Lắc

36,400

36,040

35,740

35,420

34,540

Lâm Đồng

35,800

35,340

35,080

34,800

33,940

Gia Lai

36,340

36,080

35,640

35,300

34,680

Đắc Nông

36,360

36,020

35,600

35,220

34,360

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

 

Cây cà phê đã chín đều và đẹp chuẩn bị được thu hoạch vào cuối tháng 11 tại huyện Cư Mgar - Đắk Lắk. Hình ảnh AgroMonitor nhận được lúc 9h sáng 21/11/2018