Cà phê 11/2017 – Giá cà phê Robustra và Arabica diễn biến trái ngược trong tháng 11

0943.411.411 Chat trực tuyến
Chat trực tuyến


Cà phê 11/2017 – Giá cà phê Robustra và Arabica diễn biến trái ngược trong tháng 11

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 11/2017

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Giá cà phê Robustra và Arabica diễn biến trái ngược trong tháng 11. Trong khi giá Robusta liên tục giảm mạnh thì giá Arabica lại ổn định và xu hướng tăng.

- Lượng xuất khẩu tháng 10 của Brazil giảm mạnh xuống mức thấp nhất trong 5 năm qua với lượng chủ yếu là Arabica

- Thống kê niên vụ 2016/17 của ICO: Lượng xuất khẩu thế giới tăng 4,8% so với niên vụ trước

- Tồn kho cà phê tại một số cảng tính đến hết tháng 11 tiếp tục tăng lên so với cùng kỳ tháng trước

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Giá nội địa giảm mạnh do nguồn cung từ vụ thu hoạch tăng lên liên tục. Thời tiết thuận lợi ủng hộ việc thu hoạch và sấy khô cà phê.

- Ngân hàng Rabobank dự đoán sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ tăng lên kỷ lục 28,7 triệu bao trong niên vụ 2016/17, tăng mạnh so với niên vụ 2015/16.

THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

1. Thị trường cà phê Robusta trong tháng 11/2017:

Trên sàn ICE Futures Europe, xu thế chung của giá cà phê Robusta trong tháng 11/2017 là GIẢM MẠNH LIÊN TỤC. Đầu tháng 11, mức giá kỳ hạn gần nhất là 1,916 USD/tấn; kỳ hạn tháng 1/2018 cũng ở mức  1,870 (ngày đầu tiên của tháng) và liên tục giảm theo tuần. Tính đến thời điểm ngày cuối cùng của tháng, giá kỳ hạn tháng 11/2017 chỉ còn ở mức 1,793 (giảm 123 USD/tấn so với đầu tháng), kỳ hạn tháng 1 năm 2018 ở mức 1,766 (giảm 104 so với đầu tháng).

Bước sang đầu tháng 12 (kết thúc giao hàng kỳ hạn tháng 11), giá cà phê Robustra kỳ hạn 1/2018 tiếp tục xu hướng giảm xuống chỉ còn mức 1,753; giá kỳ hạn tháng 3/2018 ở mức 1750 USD/tấn vào thời điểm đầu tuần 1 tháng 12.

Nguyên nhân cho sự giảm giá liên tục này được cho là do vụ mùa cà phê tại Việt Nam đang bước vào thu hoạch rộ, với nhiều dự báo sẽ là một vụ đạt sản lượng kỷ lục, xoay quanh mức 28,5-28,7 triệu bao. Nguồn cung Robusta vụ mới đã tham gia thị trường kể từ nửa sau tháng 11 vừa qua, góp phần bổ sung cho nhu cầu của thị trường tiêu dùng trong ngắn và trung hạn, ít nhất là tới hết quý I năm sau. Nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Theo nguồn tin trong nước, thị trường kỳ hạn London hiện chưa thấy xuất hiện lực mua mới đủ mạnh để hỗ trợ giá tăng, trong khi nguồn cung đang tăng lên tạo nên sức ép giảm giá trong ngắn hạn.

Còn đối với nguồn cung từ Brazil: Theo Reuters, lượng xuất khẩu trong tháng 10 của Brazil chỉ ở mức 17.000 bao (trong khi con số này là 2,47 triệu bao đối với Arabica), nước này vẫn không có cơ hội xuất khẩu Robusta ra thị trường quốc tế sau hai năm liên tiếp hạn hán đã cắt giảm toàn bộ sản lượng và nguồn cung từ các địa phương chỉ đủ để sản xuất cà phê hòa tan phục vụ thị trường nội địa.

2. Thị trường cà phê Arabica trong tháng 11/2017

Trái ngược với sự sụt giảm của Robusta, giá cà phê Arabica trong tháng 11 chỉ giao động nhẹ và không có sự tăng giảm quá nhiều. Đầu tháng 11, mức giá kỳ hạn gần nhất 12/2017 ở mức 126.4 cent/lb; kỳ hạn tháng 3/2018 ở mức 129.85. Tính đến ngày cuối tháng 11 mức giá này dao động ở tăng nhẹ lên mức 126.3 và 128.5 cent/lb (dao động nhẹ so với đầu tháng). Bước sang đầu tháng 12, sự tăng giảm vẫn chưa có chiều hướng mạnh lên.

Theo Reuters, xuất khẩu cà phê tháng 10 của Brazil thấp nhất kể từ năm 2013: Trong tháng 10, Brazil đã xuất khẩu 2,47 triệu bao (60kg) cà phê Arabica, mức thấp nhất kể từ năm 2013, Hiệp hội các nhà xuất khẩu Cecafe cho biết hôm thứ 16/11. Lượng xuất khẩu tháng 10 thấp hơn 17,7% so với số lượng được báo cáo một năm trước đó, Cecafe thừa nhận rằng tổng xuất khẩu trong năm có lẽ sẽ sụt giảm so với những năm trước. Đầu năm nay, hiệp hội dự kiến sản lượng vẫn ổn định.

Người đứng đầu Cecafe - ông Nelson Carvalhaes cho biết điều kiện thời tiết bất lợi cho các cánh đồng cà phê của Brazil trong năm nay đã làm cho sản lượng giảm, một trong những yếu tố khiến xuất khẩu giảm. Các nhà sản xuất cà phê Brazil cũng đã chậm bán ra, chờ giá tốt hơn. Sản lượng giảm đã ảnh hưởng đến sự sẵn có của cà phê Brazil ở nước ngoài. Một số nhà xuất khẩu cũng lo lắng về việc giảm không gian vận chuyển do một số công ty đang cắt giảm lượng hàng tồn kho giữa Nam Mỹ và châu Âu.

Ngân hàng Rabobank và Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đều cho rằng niên vụ 2016/17 của Brazil sản lượng giảm 4,7 triệu bao và phần thiếu hụt này phần lớn được bù đắp bởi sự tăng sản lượng của Colombia và Mexico cũng như sự tăng lên về sản lượng Robusta của chính Brazil.

Bên cạnh đó, USDA cũng dự báo sản lượng cà phê tại Ấn Độ tăng 7,69% trong niên vụ 2017/18 đạt mức 5,6 triệu bao. Trong đó, sản lượng cà phê arabica giảm 143 ngàn bao tức giảm 9,03% đạt 1,44 triệu bao, trong khi sản lượng cà phê Robusta tăng 543 ngàn bao tức tăng 15,01% đạt mức 4,16 triệu bao.

Diễn biến giá cà phê Arabica và Robusta kỳ hạn trên sàn London và New York

Nguồn: CSDL của AgroMonitor

Tồn kho cà phê của Mỹ tiếp tục giảm

Theo Hiệp hội Cà phê Nhân của Mỹ (Green Coffee Association of the USA), lượng cà phê lưu kho tại các cảng nước này trong tháng 10/2017 tiếp tục giảm giảm 155 ngàn bao xuống chỉ còn mức 7,035,013 bao.

Biểu đồ lượng tồn kho cà phê của Hoa Kỳ theo tháng (2016-2017) – triệu bao 60kg

Nguồn: Agromonitor tổng hợp từ số liệu của GCA

Tồn kho cà phê tại một số cảng tiếp tục tăng lên

Tồn kho đạt chuẩn Arabica Ice New York tính đến ngày 12/12/2017 tại các cảng của Mỹ và một số nước tăng lên ở mức 1,921,346 bao (60 kg/bao).

Tồn kho cà phê tại một số cảng đến ngày 12/11/2017, bao (1bao = 60kg)

 

ANTWERP

BARCELONA

HAMBURG / BREMEN

HOUSTON

MIAMI

NEW ORLEANS

NEW YORK

VIRGINIA

Total

Brazil

67,060

0

0

0

0

0

2,016

0

69,076

Burundi

53,249

0

34,872

0

0

0

5,337

0

93,458

Colombia

111,082

0

1,023

1,352

32,891

825

62,502

10,434

220,109

El Salvador

2,725

0

0

0

666

0

17,826

0

21,217

Guatemala

31

0

4,777

850

0

4,160

3,425

0

13,243

Honduras

622,039

0

93,682

74,417

0

3,500

45,307

15,273

854,218

India

31,702

0

4,345

0

0

0

0

0

36,047

Mexico

155,565

0

52

26,266

0

0

17,010

0

198,893

Nicaragua

49,838

0

2,563

550

21,175

1,925

51,950

0

128,001

Papua New Guinea

0

0

6,539

0

0

0

1,280

0

7,819

Peru

85,991

0

31,413

31,060

0

1,000

70,115

2,000

221,579

Rwanda

36,404

0

7,387

0

0

0

640

0

44,431

Tanzania

0

0

0

0

0

0

578

0

578

Uganda

14,444

295

15,549

0

0

0

3,800

960

35,048

Total in Bags

1,230,130

295

202,202

134,495

54,732

11,410

281,786

28,667

1,943,717

 Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ ICE

THAM KHẢO: Thống kê của ICO về xuất khẩu cà phê niên vụ 2016/17: Lượng xuất khẩu thế giới tăng 4,8% so với niên vụ trước (Nguồn: Báo cáo của Tổ chức Cà phê thế giới)

https://icocoffeeorg.tumblr.com/post/167228397100/record-exports-for-coffee-year-201617

Mặc dù lượng xuất khẩu cà phê niên vụ 2016/17 đã giảm vào tháng cuối cùng (tháng 9/2017) nhưng tổng xuất khẩu cả năm vẫn đạt mức kỷ lục 122,45 triệu bao, tăng 4,8% so với 116,89 triệu bao trong niên vụ 2015/16.

Lượng xuất khẩu cà phê Milds của Colombia tăng 8% lên mức 14,66 triệu bao, các loại khác giảm 15,6% xuống còn 27,02 triệu bao. Lượng Arabica của Brazil giảm 2,6% xuống 35,84 triệu bao trong khi lượng hàng Robusta vẫn ổn định, đạt 44,93 triệu bao. Sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2016/17 đã được điều chỉnh tăng lên 157,44 triệu bao, tăng 3,4% so với năm 2015/16, chủ yếu là do sản lượng tăng ở Honduras. Chỉ số ICO composite tiếp tục xu hướng giảm, trung bình 120.01 cent / lb vào tháng 10 năm 2017.

Trong khi xuất khẩu của Brazil giảm 8,8% xuống 31,58 triệu bao trong niên vụ 2016/17 so với năm 2015/16, thì ngược lại sản lượng của nước này đã tăng 9,2% lên 55 triệu bao trong niên vụ 2016/17. Số liệu sơ bộ về xuất khẩu cà phê xanh và hòa tan của Braxin cho thấy xuất khẩu cà phê cả hai mặt hàng này đã giảm 8,8% trong năm cà phê 2016/17 xuống 28,13 triệu bao và 3,3 triệu bao. Các lô hàng cà phê rang xay cũng ước tính giảm, nhưng chỉ chiếm dưới 1% tổng xuất khẩu.

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã tăng trưởng 5,5%/năm trong 15 năm qua. Tổng xuất khẩu cà phê niên vụ 2016/17 ước tính giảm 6.4% xuống còn 24.76 triệu bao sau năm xuất khẩu kỷ lục 2015/16 (nhưng đây vẫn là khối lượng cao thứ 3 trong lịch sử). Các lô hàng cà phê nhân được ước tính đã giảm 12% xuống 22,79 triệu bao và chiếm 92% tổng xuất khẩu cà phê trong năm 2016/17. Tuy nhiên, ước tính xuất khẩu cà phê hòa tan đã tăng gấp ba lần lên 1,97 triệu bao (một tín hiệu rất khả quan đối với mặt hàng này). Sản lượng cà phê của Việt Nam cho niên vụ 2016/17 ước đạt 25,5 triệu bao, giảm 11,3% so với năm ngoái, và là mức sản lượng thấp nhất kể từ vụ mùa 2012/13.

Trong niên vụ 2016/17, sản lượng cà phê của Colombia ước tính 14,5 triệu bao, tăng 3,5% so với năm 2015/16 và là năm thứ 5 liên tiếp tăng trưởng. Tổng số lượng xuất khẩu của Colombia tăng 9,6% đạt 13,49 triệu bao khi sản lượng cung cấp đủ cho xuất khẩu. Xuất khẩu cà phê xanh chiếm 93% tổng lượng xuất khẩu và đã tăng lên mức 12,57 triệu bao. Các lô hàng cà phê hòa tan đã tăng lên 0,77 triệu bao, chiếm 6% trong tổng lượng xuất khẩu trong niên vụ 2016/17.

Xuất khẩu cà phê của Indonexia tăng vọt từ 6.12 triệu bao trong niên vụ 2015/16 lên 11.1 triệu bao trong năm cà phê 2016/17. Các số liệu sơ bộ cho thấy xuất khẩu cà phê xanh chiếm khoảng 72% tổng lượng xuất khẩu với mức tăng 32,6% lên 8 triệu bao.

Xuất khẩu cà phê xanh của Honduras tăng 41,8% lên mức kỷ lục 7,29 triệu bao trong niên vụ 2016/17. Đây là năm tăng trưởng liên tục thứ ba và đưa Honduras trở thành nước xuất khẩu lớn thứ năm trong niên vụ 2016/17. Do thời tiết thuận lợi và năng suất được cải thiện, thêm nữa là do các dự án trồng mới đã góp phần thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong niên vụ này.

Sau hai năm liên tiếp tăng, tiêu thụ cà phê thế giới ước tính ổn định ở mức 155,1 triệu bao, dựa trên số liệu tạm thời cho niên vụ 2016/17. Do sản lượng cà phê toàn cầu tăng so với mức tiêu thụ ổn định, nên niên vụ này đang có thặng dư tồn kho sau hai năm thâm hụt liên tiếp. Thị trường có nguồn cung tốt vào đầu niên vụ mới 2017/18 cũng bởi lượng tồn kho đầu vụ tốt.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Tương tự như biến động giá cà phê Robusta thế giới, mức giá cà phê Robusta nội địa liên tục giảm mạnh do nguồn cung từ vụ thu hoạch năm nay đang tăng lên liên tục. Đầu tháng 11, mức giá cà phê vối nhân xô tại Đắk Lắk ở mức trên 40 ngàn đồng/kg. Nhưng đến thời điểm ngày cuối tháng 11, mức giá này chỉ còn dao động ở 37 ngàn/kg. Các địa phương khác tại Tây Nguyên cũng giảm mạnh.

Giữa tháng 11, theo người trồng cà phê khu vực Cư Mgar - Đắk Lắk cho biết tỉnh này đã thu hoạch được khoảng 1/3 diện tích (nếu không có ảnh hưởng về thời tiết khác nhau thì các tỉnh khác cũng chung tiến độ). Năm nay thời tiết thuận lợi khiến hạt cà phê chín đều, năng suất và chất lượng tốt. Cũng vẫn có một vài cơn mưa nhưng không ảnh hưởng nhiều đến tiến độ thu hoạch và sấy. Các hộ dân đã tiến hành sấy khá nhiều, việc sấy được cho biết là không tốt bằng việc phơi tự nhiên do các hạt xanh sẽ bị đen. Mức giá thu mua đầu tuần 3 tháng 11 ở mức 39,000-39,200 đồng/kg nhưng đến cuối tuần giảm mạnh xuống mức 38,400 có nơi giao dịch ở mức 38,500 đồng/kg tại kho người bán.

Đến ngày cuối tháng 11, giá giao dịch phổ biến ở mức 36,800-37,000 (ngày 27-28/11 ở mức 36,000). Người dân bán ra lai rai với tâm lý đợi giá cao hơn mới bán lượng lớn. Vụ mùa thu hoạch được 50% diện tích, thời tiết 3 ngày cuối tháng không có nắng khiến việc phơi khô hạt cà phê chậm hơn tuần trước. Dự kiến hết tháng 12/2017 sẽ thu hoạch xong vụ mùa năm nay.

Ngân hàng Rabobank cũng dự đoán sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ lên kỷ lục 28,7 triệu bao trong niên vụ này, tăng mạnh so với niên vụ 2015/16 (mà theo ước tính của Hiệp hội Cà phê Quốc tế là 25,5 triệu bao).

Giới thương nhân trong nước cũng dự báo: Nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi nên cả chất lượng và sản lượng cà phê niên vụ 2016/17 đều sẽ vượt niên vụ trước, chủ yếu nhờ thời tiết khu vực Tây Nguyên gần đây khá nắng ráo. Đặc biệt trong tháng 11 vừa qua, cơn bão Damrey - cơn bão gây thiệt hại nặng nền nhất của Việt Nam trong năm nay, đã tràn vào một số khu vực trồng cà phê Tây Nguyên vào giữa tháng, nhưng chỉ có gây ảnh hưởng nhỏ đến vụ mùa năm 2016/17. Các thương nhân cũng cho biết thêm rằng cà phê Robusta loại 2 và cà phê Robusta loại 5% của Việt Nam đối với hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2018 được giao dịch ở mức thấp hơn 30-50 USD/tấn so với kỳ hạn hiện tại, cũng có thêm một số hợp đồng kỳ hạn tương lai vào tháng 3/2018 được ký kết.

Ở thị trường Indonesia, hạt cà phê Robusta loại khiếm khuyết cấp 4 giao dịch ở mức giá cao hơn từ 60 đến 70 USD/tấn vào kỳ hạn tháng 1 so với hiện tại, do tăng phí bảo hiểm tăng 50 USD cho các cổ phiếu thấp vào cuối tháng 11.

Diễn biến giá cà phê vối nhân xô nội địa theo tuần (2016-2017), đồng/kg

Nguồn: CSDL AgroMonitor

Hình ảnh thu hoạch cà phê tại xã Đạt Lý, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. Giá bán cà phê ở mức 37,000 đồng/kg tại kho người bán. Hình ảnh của Agromonitor được chụp vào sáng 30/11/2017